Sái (nước)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Nước Thái (tiếng Trung: 蔡國; Bính âm: Càiguó; Wade-Giles: Ts'ai Kuo), người Việt quen gọi là Sái (khoảng thế kỷ 11 TCN — khoảng 447 TCN), là một tiểu quốc tại Trung Quốc trong thời kỳ nhà Chu (1122 TCN256 TCN), nổi lên trong thời kỳ Xuân Thu (770 TCN-476 TCN) trước khi bị nước Sở tiêu diệt vào khoảng đầu thời kỳ Chiến Quốc (475 TCN-221 TCN).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vị vua đầu tiên của nhà Chu là Chu Vũ Vương phong chức tước, địa vị và đất đai cho những người em trai mình. Người em trai thứ năm là Cơ Độ được phân cho phần đất ngày nay thuộc huyện Thượng Thái (上蔡), Trú Mã Điếm, Hà Nam, Trung Quốc và trở thành Sái Thúc Độ. Con trai của ông, Cơ Hồ (Sái Trọng Hồ), thiết lập kinh đô tại Thượng Sái.

Thái Thúc Độ cùng hai người em khác của Chu Vũ Vương là Hoắc Thúc Xử và Quản Thúc Tiên được phong ở những vùng đất xung quanh Vũ Canh, con vua Trụ nhà Thương để làm "tam giám" coi chừng Vũ Canh. Nhưng cả 3 vị tam giám lại nghe theo Vũ Canh, nổi loạn chống lại nhà Chu. Cuối cùng họ đều bị Chu Công dẹp yên. Vũ Canh và Quản Thúc Tiên bị giết; Thái Thúc Độ và Hoắc Thúc Xử bị đi đày. Tuy nhiên, nước Thái của ông không bị xoá bỏ và phong cho người khác như nước Vệ của Quản Thúc. Con ông vẫn được tập tước.

Thời kỳ đầu, Thái cùng các nước Lỗ, Tống từng xuất binh tấn công nước Trịnh. Năm 684 TCN, sau khi phát sinh mâu thẫn với nước Sở, vua Sở Văn Vương đã xuất quân bắt sống Sái Ai hầu và biến Thái trở thành một nước chư hầu của mình. Cho tới năm 531 TCN, Sở đã một lần tiêu diệt Thái, nhưng sau đó ba năm thì Sái Bình hầu lại giành được độc lập và di chuyển kinh đô tới Lữ Đình (nay là huyện Tân Thái (新蔡)) vào năm 528 TCN. Năm 506 TCN, Thái cùng Ngô tấn công Sở, tiến tới tận Dĩnh Đô. Năm 493 TCN, do bị Sở bức bách, Sái Chiêu hầu phải di chuyển kinh đô tới Châu Lai (州來), ngày nay là huyện Phượng Đài (鳳台), địa cấp thị Hoài Nam, tỉnh An Huy, tại khu vực gọi là Hạ Thái (下蔡). Năm 447 TCN, vua Sở Huệ Vương xâm chiếm nước Thái và lãnh thổ của nó trở thành một phần phía bắc của Sở.

Những người cai trị nước Thái còn sót lại đã di cư xuống phía nam tới sông Dương Tử vào khu vực hiện nay gọi là Thường Đức (tỉnh Hồ Nam) và định cư tại khu vực gọi là Cao Thái (高蔡), nhưng nhà nước suy tàn này đã bị tiêu diệt hoàn toàn sau đó khoảng 80 năm.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Với sự phổ biến của họ đối với mọi giai cấp trong thời kỳ nhà Tần, được thành lập năm 221 TCN, nhiều người có tổ tiên trước đây là thần dân nước Thái đã lấy họ Thái hay Sái để nhớ về cố quốc của họ.

Kể từ khi nước Thái biến mất, các hậu duệ của họ đã có 2 cuộc di cư lớn. Trong cuộc nổi dậy của Hoàng Sào năm 875 vào cuối thời kỳ nhà Đường (618-907), thị tộc họ Thái/Sái đã di cư tới các tỉnh Quảng ĐôngPhúc Kiến. Cuộc di cư lớn thứ hai diễn ra khi người trung thành với nhà MinhQuốc Tính Gia (Trịnh Thành Công, 1624-1662) đưa các tướng họ Sái/Thái cùng gia đình họ sang đảo Đài Loan trong thế kỷ 17. Kết quả là hiện nay các họ Thái/Sái là phổ biến hơn cả tại những khu vực này.

Những người cai trị nước Sái[sửa | sửa mã nguồn]

Giản đồ các nước cuối thời Xuân Thu

Những người cai trị nước Sái thuộc về dòng họ và được phong tước hầu. Nước Sái kể từ khi Cơ Độ lập nước cho tới khi Sái hầu Tề bị nước Sở diệt đã trải qua 25 đời các vị đại quân chủ.

Thụy hiệu Họ, tên Thời gian tại vị Số năm
Sái Thúc Độ Cơ Độ
Sái Trọng Hồ Cơ Hồ
Sái bá Hoang Cơ Hoang
Sái Cung hầu không rõ
Sái Lệ hầu không rõ
Sái Vũ hầu không rõ 863 TCN —837 TCN 28
Sái Di hầu không rõ 837 TCN — 809 TCN 28
Sái Ly hầu Cơ Sở Sự 809 TCN — 761 TCN 48
Sái Cộng hầu Cơ Hưng 761 TCN — 760 TCN 2
Sái Đái hầu không rõ 759 TCN — 750 TCN 10
Sái Tuyên hầu Cơ Thố Phụ 749 TCN — 715 TCN 35
Sái Hoàn hầu Cơ Phong Nhân 714 TCN — 695 TCN 20
Sái Ai hầu Cơ Hiến Vũ 694 TCN — 675 TCN 20
Sái Mục hầu Cơ Hật 674 TCN — 646 TCN 29
Sái Trang hầu Cơ Giáp Ngọ 645 TCN — 612 TCN 34
Sái Văn hầu Cơ Thân 611 TCN — 592 TCN 20
Sái Cảnh hầu Cơ Cố 591 TCN — 543 TCN 49
Sái Linh hầu Cơ Bàn 542 TCN — 531 TCN 12
Sái Bình hầu Cơ Lư 530 TCN — 522 TCN 9
Sái Điệu hầu Cơ Đông Quốc 521 TCN — 519 TCN 3
Sái Chiêu hầu Cơ Thân 518 TCN — 491 TCN 28
Sái Thành hầu Cơ Sóc 490 TCN — 472 TCN 19
Sái Thanh hầu Cơ Sản 471 TCN — 457 TCN 15
Sái Nguyên hầu không rõ 456 TCN — 451 TCN 6
Sái hầu Tề Cơ Tề 450 TCN — 447 TCN 4

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]