Ngô (nước)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cảnh báo: Giá trị không được liệt kê cho "châu lục"
吳國/吴国
Ngô quốc
Vương quốc

thế kỷ 12 TCN–473 TCN
Thủ đô Tô Châu (苏州)
Tôn giáo Tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên
Chính thể Quân chủ
Tử rồi Vương
 - thế kỷ 12 TCN Thái Bá
 - 495 TCN-473 TCN Phù Sai
Lịch sử
 - Thái Bá đến Giang Tô, Thái Hồ thế kỷ 12 TCN
 - Bị Việt diệt 473 TCN
Tiền tệ Tiền Trung Quốc

Ngô, Câu Ngô hay Công Ngô, là các tên gọi của một nước chư hầu của nhà Chu từ khi triều đại này ra đời cho tới khi kết thúc giai đoạn Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Ngô nằm ở khu vực cửa sông Dương Tử, phía đông nước Sở. Các nhà sử học Trung Hoa cổ đại xem đây là một nước bán khai. Kinh đô của nước Ngô là Cô Tô Tô Châu ngày nay. Lãnh thổ nước Ngô tương đương với tỉnh Giang Tô ngày nay. Nước Tấn đã giúp đỡ nước Ngô hùng mạnh để làm đồng minh chống lại nước Sở một cách hữu hiệu.

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Khác với nhiều chư hầu thời Xuân Thu, Ngô là nước được thành lập khá sớm, ngay từ đời nhà Thương. Nguyên một chư hầu lớn của nhà Thương là Tây Bá (sau được truy tôn là Chu Thái vương) có 3 người con trai: Thái Bá, Trọng Ung và Quý Lịch. Người con út là Quý Lịch sinh được người cháu là Cơ Xương từ nhỏ đã tỏ ra tài giỏi hơn người bình thường. Vì thế Tây Bá có ý định truyền ngôi cho Quý Lịch để sau này Cơ Xương được nối ngôi.

Hai người anh biết chủ ý của cha, bèn bỏ trốn đến ở đất Kinh ở phía Nam sông Trường Giang, tự cắt tóc và xăm mình như tục người bản địa và xưng là Câu Ngô. Theo Sử ký, có hơn 1000 nhà đến theo và tôn ông làm chủ. Từ đó ông trở thành tổ tiên của nước Ngô - tức là Ngô Thái Bá.

Người em út là Quý Lịch lên thay cha làm Tây Bá rồi sau truyền ngôi cho Cơ Xương (tức Chu Văn Vương sau này), sau này Cơ Xương có con là Cơ Phát diệt Thương dựng lên nhà Chu. Như vậy Ngô Thái Bá và Trọng Ung là bác của Chu Văn Vương.

Xưng vương[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Thái Bá mất không có con nối nên em ông là Trọng Ung lên thay. Từ Trọng Ung truyền 4 đời (chắt) đến Ngô Chu Chương thì chắt của Chu Thái Vương, cháu nội Quý Lịch là Cơ Phát diệt nhà Thương, lập ra nhà Chu, tức là vua Chu Vũ Vương.

Chu Vũ Vương tấn phong các chư hầu, chính thức phong cho quân chủ của Ngô khi đó là Chu Chương làm chư hầu nhà Chu với tước tử, truy phong cho Thái Bá tước bá. Vũ Vương vào hàng chú của Ngô Chu Chương. Trong nhiều thế kỷ từ khi nhà Chu thành lập tới giữa thời Xuân Thu, Ngô là nước chư hầu bình thường ở phía nam, không có sự kiện gì lớn.

Khoảng giữa thế kỷ 6 TCN, nhân lúc nhà Chu suy yếu, các nước Sởnước Tấn cùng tranh ngôi bá chủ trong nhiều năm cũng không còn hùng mạnh như thời kỳ đầu, vua Ngô đời thứ 19 là Thọ Mộng - vốn chỉ có tước - bèn xưng vương. Lúc đó ngoài nhà Chu, chỉ có nước Sở hùng mạnh mới xưng vương. Nước Tấn giữ ngôi bá chủ trong nhiều năm cũng chỉ có tước công.

Nội loạn dòng tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngô Thọ Mộng có 4 người con: Chư Phàn, Dư Sái, Dư MuộiQuý Trát. Trong 4 người thì Quý Trát tài giỏi hơn cả. Vì thế Thọ Mộng muốn nhường ngôi cho Quý Trát, nhưng lại không thể bỏ lệ lập trưởng, nên trước khi mất dặn lại anh em Chư Phàn hãy truyền ngôi cho em để tuần tự đến Quý Trát.

Năm 564 TCN, Thọ Mộng mất, Chư Phàn không nhận ngôi, định nhường cho Quý Trát. Quý Trát bỏ trốn nhất định không nhận ngôi. Chư Phàn làm vua. Chư Phàn chết (548 TCN), Dư Sái lên thay. Dư Sái chết (531 TCN), Dư Muội nối ngôi.

Năm 527 TCN, Dư Muội chết. Con Dư Muội là Liêu lên nối ngôi, tức là Ngô vương Liêu. Con Chư Phàn là Quang bất bình vì theo lý ngành trưởng mình phải làm vua, nay Quý Trát bỏ ngôi thì lệ anh truyền cho em không còn và chi của Dư Muội là chi thứ nên phải trả lại cho chi trưởng. Vì vậy Quang nuôi chí giành lại ngôi vua.

Công tử Quang tập hợp thủ hạ là những tay hào kiệt như Ngũ Tử Tư, Chuyên Chư, Bị Ly làm vây cánh. Sau đó ông sai Chuyên Chư làm thích khách ám sát Liêu giành ngôi vua. Vụ ám sát Ngô vương Liêu trở thành một trong những vụ hành thích nổi tiếng thời Xuân Thu.

Công tử Quang lên ngôi, tức là vua Ngô Hạp Lư (514 - 496 TCN). Các con của Liêu là Yểm Dư và Chúc Dung đang cầm quân đánh biên giới nước Sở bèn sang hàng Sở và được nước Sở phong ở đất Thư; còn người con khác là Khánh Kỵ bỏ trốn, tập hợp lực lượng chống lại.

Ngô Hạp Lư bèn sai thủ hạ là Yêu Ly đến trá hàng. Yêu Ly tự nguyện để Hạp Lư chặt cánh tay phải và chịu bị vu tội, bắt giết hết vợ con. Vì vậy khi Yêu Ly đến hàng, Khánh Kỵ tin dùng. Yêu Ly lựa thời cơ dùng tay trái cầm giáo đâm chết Khánh Kỵ. Lực lượng của Khánh Kỵ tan rã. Vụ Yêu Ly chỉ còn một tay vẫn giết được Khánh Kỵ cũng là một vụ hành thích nổi tiếng thời Xuân Thu.

Cường thịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời anh em Chư Phàn, nước Ngô đã thường xuyên đánh phá các thành ấp biên giới nước Sở. Nước Sở khi đó suy yếu nên không đủ khả năng trấn áp sự quấy rối của nước Ngô. Một số thành ấp bị Ngô chiếm hẳn.

Trước khi lên ngôi, Hạp Lư đã thu dụng Ngũ Tử Tư là tướng nước Sở trốn sang vì có thù với vua Sở do cha và anh bị giết oan. Sau khi lên ngôi, Ngô vương Hạp Lư thu dụng thêm nhà quân sự nổi tiếng là Tôn Vũ. Được sự phù trợ của Tôn Vũ và Ngũ Viên, quân đội nước Ngô ngày càng lớn mạnh. Sau đó, Hạp Lư lại thu dụng thêm Bá Hi cũng có hoàn cảnh như Ngũ Viên: Bá Hi là con của đại thần Bá Châu Lê nước Sở, cha bị giết oan nên đến hàng nước Ngô.

Năm 512 TCN, Hạp Lư cử Ngũ Viên và Bá Hi mang quân đánh nước Sở. Quân Ngô phá đất Thư, giết chết hai người con của Ngô vương Liêu là Yểm Dư và Chúc Dung được nước Sở phong. Sau đó, Ngô liên tục đe dọa Sở về phía đông-nam cho đến khi bị suy vong. Nước Ngô đã tìm cách liên kết, gây ảnh hưởng với các chư hầu của Sở ở vùng sông Dương Tử để nhằm làm giảm ủng hộ đối với nước Sở. Nhiều đất đai nước Sở bị nước Ngô lấn chiếm.

Năm 506 TCN, Hạp Lư mở cuộc tấn công quy mô vào nước Sở, đánh thắng quân Sở hùng mạnh 5 trận liền và chiếm giữ kinh đô Dĩnh của nước Sở một thời gian. Sở Chiêu vương phải bỏ trốn ra nước ngoài và cầu viện binh của ông ngoại là Tần Ai công[1] để khôi phục nước Sở. Hạp Lư lúc đó cũng gặp loạn do em là công tử Phu Khái định tranh ngôi nên phải rút đại quân về dẹp loạn.

Năm 496 TCN, Hạp Lư đi đánh nước Việt phía nam nước Ngô, bị trúng tên chết. Trước khi chết ông dặn lại người nối ngôi là Phù Sai nhất định phải trả thù nước Việt.

Năm 494 TCN, Phù Sai mang quân đánh Việt báo thù. Quân Ngô đánh bại quân Việt. Vua Việt là Câu Tiễn sai người đút lót cho Bá Hi, nhờ nói giúp với vua Ngô xin làm phiên thần. Dù Ngũ Tử Tư khuyên nhất định phải báo thù cũ, Phù Sai không nghe, cho Câu Tiễn đầu hàng.

Không để ý tới Câu Tiễn đang âm thầm khôi phục để đánh Ngô, Phù Sai nhân lúc các chư hầu trung nguyên là Tấn, Tề suy yếu bèn mang quân lên phía bắc, tranh giành với nước Tề, bất chấp sự can ngăn của Ngũ Tử Tư. Từ năm 489 TCN đến năm 484 TCN, Phù Sai ba lần mang quân lấn chiếm đất của nước TềLỗ. Lãnh thổ nước Ngô mở rộng lên phía bắc. Trong một giai đoạn ngắn, nước Ngô trở thành quốc gia hùng mạnh nhất trong chư hầu.

Diệt vong[sửa | sửa mã nguồn]

Phù Sai tiếp tục muốn quyết chiến với nước Tề để giành ngôi bá chủ trung nguyên. Ngũ Tử Tư vì can quá thẳng nên bị Phù Sai giết chết.

Năm 482 TCN, lợi dụng lúc Ngô đang đưa quân đánh nhau một trận lớn với quân Tề ở Ngải Lăng, vua nước ViệtCâu Tiễn đã mang quân đánh úp và chiếm được kinh đô của nước Ngô. Nước Ngô tuy chưa bị diệt nhưng bị tàn phá nặng nề.

Trong khi đó Phù Sai đã đánh bại quân Tề ở Ngải Lăng và được sự thừa nhận ngôi vị của các chư hầu trung nguyên. Nghe tin ở nhà có nguy biến, Phù Sai cấp tốc mang quân viễn chinh từ xa trở về, giao chiến bị thua to. Phù Sai sợ hãi phải xin làm phiên thần của Câu Tiễn. Câu Tiễn chấp thuận.

Mặc dù có thời gian hưu chiến nhưng Phù Sai cũng không khắc phục được tình hình vì lúc đó tuổi đã cao. 9 năm sau, Câu Tiễn mang quân diệt hẳn nước Ngô vào năm 473 TCN. Phù Sai tự vẫn.

Các vua[sửa | sửa mã nguồn]

Giản đồ các nước cuối thời Xuân Thu

Bảng dưới đây theo Sử ký Tư Mã Thiên, có tham khảo Xuân Thu tả truyện chú của Dương Bá Tuấn. Nước Ngô có tất cả 25 đời vua tính từ Thái Bá:

Tước hiệu Họ, tên Sinh, mất Trị vì Quan hệ
Ngô Thái Bá Không rõ tên thật     Bác Chu Văn Vương
Ngô Trọng Ung Cơ Trọng Ung     Em Thái Bá
Ngô Quý Giản Cơ Quý Giản     Con Trọng Ung
Ngô Thúc Đạt Cơ Thúc Đạt     Con Thúc Đạt
Ngô Chu Chương Cơ Chu Chương     Con Thúc Đạt
Ngô Hùng Toại Cơ Hùng Toại     Con Chu Chương
Ngô Kha Tương Cơ Kha Tương     con Hùng Toại
Ngô Cường Cưu Di Cơ Cường Cưu Di     con Kha Tương
Ngô Dư Kiều Nghi Ngô Cơ Dư Kiều Nghi Ngô     Con Cường Cưu Di
Ngô Kha Lư Cơ Kha Lư     Con Dư Kiều Nghi Ngô
Ngô Chu Giao Cơ Chu Giao     con Kha Lư
Ngô Khuất Vũ Cơ Khuất Vũ     Con Chu Giao
Ngô Di Ngô Cơ Di Ngô     Con Khuất Vũ
Ngô Cầm Xử Cơ Cầm Xử     Con Di Ngô
Ngô Chuyển Cơ Chuyển     Con Cầm Xử
Ngô Phả Cao Cơ Phả Cao     Con Chuyển
Ngô Câu Ty Cơ Câu Ty     Con Phả Cao
Ngô Khứ Tề Cơ Khứ Tề  ?-586 TCN  ?-586 TCN Con Câu Ty
Ngô Thọ Mộng Cơ Thọ Mộng  ?-561 TCN 585 TCN-561 TCN Con Khứ Tề
Ngô Chư Phàn Cơ Chư Phàn ?-528 TCN 560 TCN-548 TCN Con Thọ Mộng
Ngô Dư Sái Cơ Dư Sái  ?-531 TCN 547 TCN-531 TCN [2]
547 TCN - 544 TCN[3]
Con Thọ Mộng, em Chư Phàn
Ngô Dư Muội Cơ Dư Muội  ?-527 TCN 530 TCN-527 TCN[2]
543 TCN - 527 TCN[3]
Con Thọ Mộng, em Dư Sái
Ngô Liêu Cơ Liêu  ?-515 TCN 526 TCN-515 TCN Con Dư Muội
Ngô Hạp Lư Cơ Quang  ?-506 TCN 514 TCN-496 TCN Con Chư Phàn
Ngô Phù Sai Cơ Phù Sai  ?-473 TCN 495 TCN-473 TCN Cháu Hạp Lư

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Con gái Tần Ai công là mẹ Sở Chiêu vương
  2. ^ a ă Theo Sử ký và Niên biểu lịch sử Trung Quốc của Phương Thi Danh
  3. ^ a ă Lấy theo Xuân Thu tả truyện chú của Dương Bá Tuấn

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]