Yên (nước)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cảnh báo: Giá trị không được liệt kê cho "châu lục"
燕国 / 燕國
Yên quốc
Hầu quốc, Công quốc sau là Vương quốc

thế kỷ 11 TCN–222 TCN
Vị trí của Yên
Năm 260 TCN

   Yên (Yan, 燕)

   Triệu (Zhao, 赵)

   Tề (Qi, 齐)

   Ngụy (Wei, 魏)

   Hàn (Han, 韓)

   Tần (Qin, 秦)

   Sở (Chu, 楚)

Thủ đô Kế Thành (薊城)
Tôn giáo Tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên
Chính thể Quân chủ
Lịch sử
 - Cơ Thích được phong ở đất Yên thế kỷ 11 TCN
 - Bị Tần diệt 222 TCN
Tiền tệ Tiền Trung Quốc

Yên trong lịch sử Trung Quốc là một quốc gia chư hầu ở phía bắc của nhà Chu, tồn tại từ thời kỳ đầu của Tây Chu qua Xuân Thu tới Chiến Quốc. Thời kỳ Chiến Quốc Yên là 1 trong số 7 bảy quốc gia hùng mạnh và có ảnh hưởng tới chiến cuộc nhất, được sử sách liệt vào "thất hùng". Năm 222 TCN Yên bị nước Tần tiêu diệt.

Khởi nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đầu Tây Chu, sau khi Chu Vũ Vương tiêu diệt nhà Thương, tới thời Chu Thành Vương trị vì, nhà Chu phong cho tôn thất Triệu công Cơ Thích vào đất Yên (Sử ký: "Chu Vũ vương chi diệt Trụ, phong Triệu công vu Bắc Yên"), nhưng Triệu công không tới nơi này mà giao cho con trai trưởng là Cơ Khắc đến cai quản (theo Dương Khoan trong Tây Chu sử thì sau khi Chu Công Cơ Đán chinh phạt miền đông, Chu Thành Vương phong cho công tử Khắc ở đất Yên). Vùng đất này tương ứng với miền trung và miền bắc các tỉnh thành phố ngày nay là Bắc KinhHà Bắc, do vùng đất phong tại Yên sơn, vì thế mà nước này được gọi là Yên. Kinh đô của nước Yên đặt tại Kế Thành (nay là khu vực trấn Lưu Ly Hà thuộc quận Phòng Sơn, Bắc Kinh[1]).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lập quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Tây Chu[sửa | sửa mã nguồn]

Tầng lớp quý tộc nhà Chu cùng tầng lớp quý tộc bản địa cũ của Thương khi đó sinh sống tại đây đã cùng nhau lập ra chính quyền liên hợp, trên một dải đất bao gồm vùng Kí Bắc, Liêu Tây. Sau đó Yên tiêu diệt các tiểu quốc như Kế, Hàn. Sử sách cho rằng khu vực này vốn là đất đai của Đông Hồ bị người Hán chiếm đóng.

Thời kỳ Xuân Thu[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Yên từ khi lập quốc trở đi chỉ là vùng đất có nền kinh tế-văn hóa kém phát triển, tại thời kỳ đầu Xuân Thu bị các dân tộc du mục phương bắc xâm nhập nhiều lần, đứng trước nguy cơ mất nước.

Khoảng thế kỷ 7 TCN, người Sơn Nhung trước sau mấy lượt tiến xuống phía nam, công phạt các nước Trịnh, Yên, Tề, kết quả đến thời Yên Hoàn hầu nước Yên buộc phải dời đô tới Lâm Dịch để tránh bị Sơn Nhung xâm chiếm, tàn phá.

Thời Yên Trang công, người Sơn Nhung từng mở chiến dịch quân sự lớn xâm lược Yên. Với sức mạnh quân sự yếu kém, Trang công không thể địch nổi Sơn Nhung, phải sai sứ sang nước Tề cầu viện. Nước Tề khi đó do Tề Hoàn công cai trị đã áp dụng chính sách "tôn vương nhương di" đem quân đội sang cứu, giúp cho Yên thoát khỏi vận mất nước. Tề Hoàn công lấy lý do cứu Yên xuất quân chinh phạt Sơn Nhung, nhân cơ hội đó cũng đánh chiếm và tiêu diệt các quốc gia/bộ lạc du mục phương bắc khác như Cô Trúc, Lệnh Chi, Vô Chung. Khi rút quân về nam, Tề Hoàn công giao lại lãnh thổ 3 nước này cho Yên Trang công. Từ đó lãnh thổ nước Yên được mở rộng thêm.

Thời Yên Huệ công ("Tả truyện" ghi là thời Yên Giản công), nội bộ nước Yên phát sinh nguy cơ chính trị do Huệ công trọng dụng các quan lại nguồn gốc thấp hèn làm "chư đại phu", điều này đã gây ra sự bất bình và phản đối mãnh liệt của tầng lớp quý tộc nguồn gốc cao quý. Huệ công bất đắc dĩ phải chạy trốn sang nước Tề tị nạn. Chư đại phu nước Yên lập ra vua mới là Yên Điệu công để đối lại với Huệ công đang ở Tề. Do liên minh Tề-Tấn có sự chia rẽ trong sách lược đối với Yên nên nước Tề cuối cùng đã phải công nhận vị quân chủ mới của Yên thay cho Huệ công.

Quật khởi[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu thời kỳ Chiến Quốc, các quốc gia khác lần lượt tiến hành cải cách, duy chỉ có nước Yên là không quan tâm tới điều đó và rơi vào tình trạng lạc hậu, kém phát triển. Nhân cơ hội đó nước Tề tìm cách mở rộng về phương bắc, bất ngờ tấn công nước Yên và năm 380 TCN, Tề chiếm đoạt vùng Tang Khâu của Yên. Tuy nhiên, năm 373 TCN, tại Lâm Doanh (Lâm Hồ) nước Yên đã đánh bại Tề.

Năm 355 TCN, nước Tề lại xâm lược vùng đất ven sông Dịch Thủy của Yên. Được ba quốc gia Hàn, Triệu, Ngụy chi viện nên Yên đã đẩy lui cuộc xâm lăng của Tề, ngăn cản dã tâm của nước này. Tuy nhiên, tại phía bắc thì Yên vẫn bị Đông Hồ uy hiếp, nên chiến thuật chính của Yên tại phía bắc chủ yếu vẫn là phòng ngự.

Cực thịnh[sửa | sửa mã nguồn]

Yên Khoái nhượng quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 323 TCN, Yên Dịch công tham gia hoạt động Ngũ quốc xưng vương do Công Tôn Diễn đề xuất, cùng các nước như Hàn, Ngụy, Triệu, Trung Sơn. Cùng năm đó Dịch công xưng vương, tức Yên Dịch vương. Hai năm sau, Dịch vương chết, con là Cơ Khoái kế vị.

Yên vương Khoái nối ngôi được 3 năm, tức tới năm 318 TCN, nghe theo kiến nghị của Lộc Mao Thọ, nhường ngôi cho tướng quốc Tử Chi. Ông cũng thu hồi toàn bộ ấn quan của các quý tộc, giao hết công việc triều chính cho Tử Chi. Điều này làm cho thái tử Bình cùng các cựu quý tộc không tâm phục, khẩu phục. Năm 314 TCN, họ khởi binh tấn công Tử Chi nhưng bị thất bại. Thái tử Bình cùng tướng quân Thị Bị đều chết trong đám loạn quân[2]. Việc này đã làm cho nhân tâm trong nước Yên chia rẽ, sức mạnh của Yên bị giảm sút nghiêm trọng. Tề Tuyên vương theo kế của Mạnh Tử nhân cơ hội này chinh phạt Yên. Tướng quân Khuông Chương đem quân đánh chiếm kinh đô của Yên. Nước Yên đại bại, đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt và Yên vương Khoái cùng Tử Chi đều bị giết[3]. Đồng thời, nước Trung Sơn nhân cơ hội này cũng đem quân đánh chiếm một bộ phận lãnh thổ nước Yên. Do quân và dân Yên kiên trì chiến đấu, cùng với việc các nước Triệu, Hàn, Tần, Sở liên tục gây áp lực nên cuối cùng Tề phải rút quân. Nước Triệu lập con tin của Yên tại Hàn là công tử Chức làm vua Yên, sau đó hộ tống ông này về Yên, đó là Yên Chiêu vương.

Chiêu hiền đãi sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Chiêu vương lên ngôi với quyết tâm phục hưng nước Yên để chờ cơ hội báo thù nhục nước. Ông áp dụng các kiến nghị của Quách Nguy, trong đó có việc chiêu hiền đãi sĩ. Ông bái Quách Nguy làm thầy, hết sức kính trọng và ưu đãi, nhờ đó nhiều người có tài năng tìm đến, trong số này có Tô Tần, Nhạc Nghị, Trâu Diễn.

Chiêu vương cùng bách tính đồng cam khổ, viếng thăm người mới khuất, thăm hỏi người mồ côi, sau lại dùng Nhạc Nghị làm á khanh để chủ trì công việc trong nước, nên chẳng quá 28 năm sau đã biến một nước Yên nhược tiểu thành một nước Yên hùng mạnh.

Phá Tề[sửa | sửa mã nguồn]

Chiêu vương sau đó phái Tô Tần đi sứ sang Tề, trước hết thuyết phục Tề Tuyên vương trả lại cho Yên những vùng đất và thành trì mà trước đó Tề đã nhân cơ hội nước Yên có nội loạn để chiếm đóng, sau đó khuyên vua Tề tấn công nước Tống, li gián quan hệ hai nước Tề-Triệu. Tô Tần sau lại tới chỗ Triệu Vũ Linh vương, Ngụy Tương vương, Sở Hoài vương, Hàn Tương vương tiến hành du thuyết, ngoại giao.

Năm 286 TCN, Tề Mẫn vương diệt nước Tống, làm chấn động các nước khác. Vì thế liên minh chống Tề hình thành. Năm 284 TCN, Chiêu vương bái Nhạc Nghị làm thượng tướng quân, chỉ huy liên quân gồm Yên và 4 nước Tần, Hàn, Triệu, Ngụy chinh phạt Tề và giành thắng lợi, giết chết Tề Mẫn vương và chỉ trong vòng 5 năm đã hạ trên 70 thành trì của Tề, trả thù mối hận nước Tề xâm chiếm nước Yên trước đó.

Sau đó, tại lãnh thổ của Tề tách ra thành 2 kinh đô là Cử (nay là huyện Cử, địa cấp thị Nhật Chiếu tỉnh Sơn Đông) và Tức Mặc.

Phạt Hồ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Yên Chiêu vương, có tướng Tần Khai (秦开), phải sang Đông Hồ làm con tin. Sau khi về nước, Tần Khai khởi binh tập kích, đại phá Đông Hồ. Đông Hồ phải lui trên 1.000 dặm, kết quả vùng lãnh thổ phía đông của Yên được mở rộng trên 1.000 dặm. Nước Yên cho sửa sang, xây đắp trường thành phía bắc. Trường thành này khởi đầu từ phía tây tại Tạo Dương (nay là vùng đông bắc quận Tuyên Hóa, địa cấp thị Trương Gia Khẩu, tỉnh Hà Bắc), kéo dài về phía đông tới Tương Bình (nay là phía bắc Liêu Dương, tỉnh Liêu Ninh)[4].

Suy yếu[sửa | sửa mã nguồn]

Thất bại ở Tề[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 278 TCN, Yên Chiêu vương chết, thái tử kế vị, tức là Yên Huệ vương. Khi còn là thái tử, Huệ vương không hòa hợp với Nhạc Nghị. Tướng quốc nước Tề khi đó là Điền Đan nhân cơ hội quân thần nước Yên không hòa hợp nhau đã thực thi kế phản gián làm Huệ vương bị mắc bẫy, dùng Kị Kiếp thay thế Nhạc Nghị. Nhạc Nghị lo sợ bị giết hại nên chạy sang nước Triệu.

Kị Kiếp thực tế là người không có tài năng nhưng lại được thay Nhạc Nghị làm tướng, làm cho quân sĩ nước Yên dao động. Điền Đan lại cố ý dụ cho Kị Kiếp phạm sai lầm, đồng thời khích lệ chí khí quân Tề. Năm 279 TCN Điền Đan dùng "hỏa ngưu trận" một trận đánh bại quân Yên. Kị Kiếp bị quân Tề giết chết, quân Yên tháo chạy. Nhờ đó nước Tề thu hồi lại trên 70 thành bị mất trước đó. Năm 272 TCN, nội bộ tập đoàn thống trị nước Yên phát sinh mâu thuẫn, Huệ vương bị tướng Công Tôn Tháo giết chết rồi lập con Huệ vương làm Yên Vũ Thành vương, một vị vua bù nhìn.

Chiến tranh Yên-Triệu[sửa | sửa mã nguồn]

Trải qua thời kỳ trị vì của 3 vị vua là Yên Vũ Thành vương, Yên Hiếu vương và Yên vương Hỉ, các vị vua Yên thường theo ý của nước Tần hay thừa cơ nước Triệu nguy nan để tiến hành các cuộc chiến, cướp đoạt đất đai. Năm 265 TCN, nhân lúc nước Triệu có sự thay đổi quân chủ với triều chính bất ổn, nước Tần chiếm lấy 3 thành, Yên cùng Tần từ hai phía nam bắc giáp công. Nước Tề sai tướng quốc Điền Đan xuất quân cứu Triệu. Sau khi ở phía tây cầm cự được với quân Tần thì liên quân Triệu-Tề tấn công Yên, chiếm vùng Trung Dương (nay là huyện Đường, địa cấp thị Bảo Định, tỉnh Hà Bắc) của Yên. Năm 259 TCN, nhân cơ hội nước Triệu đại bại trong trận Trường Bình, Yên dụ dỗ vũ viên lệnh ở phía bắc của Triệu là Phó Báo, Vương Dung, Tô Xạ dẫn người sang hàng Yên. Yên vương vui mừng, lần lượt vào các năm 251 TCN245 TCN đã sai Lật Phúc, Kịch Tân tấn công Triệu, nhưng bị quân Triệu đánh bại, sau đó Triệu phản kích bao vây kinh đô của Yên, nước Yên buộc phải cắt đất cầu hòa. Năm 236 TCN, Triệu một lần nữa xuất quân phạt Yên, tấn công Thủ Li, Dương Thành. Kết quả Yên lần lượt thất trận, rơi vào thế suy vong. Nước Tần lấy cớ cứu Yên bất ngờ xuất quân chiếm đất của Triệu.

Diệt vong[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 230 TCN, Tần diệt Hàn. Năm 228 TCN, quân Tần chiếm kinh đô của Triệu là Hàm Đan, tiến sát nước Yên, thành trì nước Yên lúc này trở thành mục tiêu tấn công của quân Tần. Để đối lại, tập đoàn thống trị nước Yên bày ra 2 đối sách: thứ nhất dùng mưu giết Tần vương; thứ hai là cùng tàn dư thế lực của Triệu là Đại vương Gia liên hợp chống Tần. Thái tử Đan nước Yên từng có thời cùng Tần Doanh Chính làm con tin tại Triệu, sau khi trở về nước Yên ông cho tìm người làm thích khách và gặp Kinh Kha. Năm 227 TCN, thái tử Đan tiễn Kinh Kha cùng trợ thủ là Tần Vũ Dương mới 13 tuổi tới bờ sông Dịch Thủy ở Yên Thành (nay là huyện Dịch, tỉnh Hà Bắc). Kinh Kha ứng tác hai câu thơ:

Phong tiêu tiêu hề Dịch Thủy hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề bất phục hoàn

Dịch

Gió hiu hắt chừ, Dịch thuỷ lạnh ghê
Tráng sĩ ra đi chừ, không bao giờ về

Sau đó Kinh Kha định giết Tần vương Doanh Chính nhưng không thành. Vì sự kiện này mà quân Tần quyết định tấn công Yên ngay.

Cùng năm, vua Tần hạ lệnh đại tướng Vương Tiễn, Tân Thắng dẫn quân công phá Yên. Tại Dịch Thủy, quân Yên đại bại, lãnh thổ nước Yên bị quân Tần chiếm quá nửa. Năm 226 TCN, quân Tần công phá Kế Thành, Yên vương Hỉ cùng thái tử Đan dẫn quân lui về Liêu Đông, tướng Tần là Lý Tín xuất quân truy đuổi. Yên vương giết thái tử Đan dâng thủ cấp để cầu hòa. Tại vùng đất quân Tần chiếm được, vua Tần cho thành lập các quận Ngư Dương, Hữu Bắc Bình, Liêu Tây. Năm sau lại lập quận Thượng Cốc, Quảng Dương. Năm 222 TCN, vua Tần sai Vương Bí tấn công Yên ở Liêu Đông. Quân Yên đại bại, Yên vương Hỉ bị bắt. Nước Yên diệt vong. Quân Tần quay sang tấn công Đại, Đại vương Gia cũng bị bắt. Vùng Liêu Đông của Yên và vùng đất của Đại bị Tần chia ra thành quận Liêu Đông và quận Đại.

Lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng đất phong của nước Yên thời kỳ đầu Tây Chu là không rõ, căn cứ vào các đồ vật khai quật được tại di chỉ Lưu Ly Hà thì thời kỳ đầu thuộc địa phận nước Yên có 6 tiểu quốc. Thời Tây Chu, Xuân Thu thì phát triển về hướng Kí Bắc và Liêu Tây, tiêu diệt các nước như Kế, Cổ Hàn, Cô Trúc, Lệnh Chi, Vô Chung.

Thời kỳ đầu Chiến Quốc, lãnh thổ của Yên đại khái bao gồm miền bắc tỉnh Hà Bắc, đông bắc tỉnh Sơn Tây. Toàn cảnh có thể thấy phía đông bắc là biên giới với Đông Hồ, phía tây có biên giới với Trung Sơn và Triệu, phía nam giáp biển và có biên giới với Tề. Thời kỳ Yên Chiêu vương, do quân sự hùng mạnh lên lãnh thổ cũng được mở rộng. Yên xâm chiếm một dải đất phía bắc Trung Sơn, (nay là huyện Đường). Tướng Yên là Tần Khai về phía đông xâm chiếm Đông Hồ, mở rộng đất đai trên nghìn dặm, tới tận Liêu Đông và phía bắc bán đảo Triều Tiên, một thời chiếm hữu một phần lớn nước Tề. Chiến Quốc sách•Yên sách nhất•Tô Tần tướng vi tòng bắc thuyết Yên Văn công có viết: Yên quốc "đông có Triều Tiên, Liêu Đông, bắc có Lâm Hồ, Lâu Phiền, tây có Vân Trung, Cửu Nguyên, nam có Hô Đà, Dịch Thủy". Thiết lập 5 quận Thượng Cốc, Ngư Dương, Hữu Bắc Bình, Liêu Tây, Liêu Đông.

Thể chế chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Do lịch sử nước Yên rất dài, nhưng các ghi chép lại ít nên về thể chế chính trị cũng chỉ biết sơ lược.

Cơ cấu quan lại[sửa | sửa mã nguồn]

Tại các nước thời Xuân Thu-Chiến Quốc, quan lại phân ra hai ban văn võ là đặc điểm chủ yếu của chế độ quan lại. Tại trung ương, từ thời các Yên hầu trở đi, nước Yên đã đặt ra một cơ cấu tổ chức quan lại, trong đó các chức vụ trọng yếu là tướng quốc và tướng quân, phân ra cai quản các công việc văn võ.

Tướng quốc là người đứng đầu hệ thống quan văn. Những người từng làm tướng quốc nước Yên có: Tử Chi (thời Yên vương Khoái), Công Tôn Tháo (thời Yên Huệ vương), Lật Phúc (thời Yên vương Hỉ)[5]

Tướng quân là người đứng đầu hệ thống quan võ, theo sử sách ghi chép lại có: Thị Bị, Tần Khai. Trong cấp bậc tướng quân có chức "thượng tướng quân", Nhạc Nghị từng giữ chức này; trong đó thượng tướng quân thời Chiến Quốc là tương đương với nguyên soái thời Xuân Thu[6]. Về chức quan võ còn có "tư mã".

Vè mặt tước trật, nước Yên có 2 bậc tước trật phong cho các quan là khanh và đại phu. Khanh có "thượng khanh", "á khanh", đại phu có "trưởng đại phu", "thượng đại phu", "trung đại phu", "ngũ đại phu".

Về mặt bổng lộc, nước Yên dùng "thạch" để quy định. Lã Tổ Khiêm thời Nam Tống trong Đại sự kí viết: "lấy thạch tính bổng lộc..., trong đó 10 thăng là 1 đấu, 10 đấu là 1 thạch, mỗi thạch nặng 120 cân.

Về mặt tổ chức hành chính, nước Yên áp dụng chế độ quận huyện 2 cấp. Tổng cộng Yên có 5 quận: Thượng Cốc, Ngư Dương, Hữu Bắc Bình, Liêu Tây, Liêu Đông.

Trưởng quan hành chính của quận là "thú", vùng đô thị do võ quan được điều đến nhậm chức; trưởng quan hành chính của huyện là "lệnh", sau thiết lập thừa, úy. Dưới huyện là hương, lí, tụ (thôn) hoặc liên, lư[7]. Theo các ấn quan có thể thấy tại các địa phương nước Yên có các chức quan như "tư đồ", "tư mã", "tư công", "thừa".

Chế độ phân phong[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Chiến Quốc, các nước phổ biến thiết lập hệ thống hành chính quận huyện, thực hành chế độ trung ương tập quyền, nhưng vẫn tồn tại các vùng đất phân phong cho một số quý tộc nhất định. Tại Yên, một số người có các vùng đất phân phong. Cụ thể như:

Tước phong Họ tên Quốc tịch Thời kỳ Lý do Nguyên nhân được phong Nguồn tài liệu
Tương An quân   Có lẽ là gia tộc Yên vương Yên Chiêu vương Đi sứ Tề Có công được phong Chiến Quốc sách •Triệu sách tứ
Chiến Quốc tung hoành gia thư phần 4, chương Tô Tần từ Tề dâng thư cho Yên vương
Vũ An quân Tô Tần người Đông Chu Yên Chiêu vương Gián điệp tại Tề Do có công được phong Chiến Quốc sách•Yên sách
Chiến quốc tung hoành gia thư
Sử ký•Tô Tần liệt truyện
Xương Quốc quân Nhạc Nghị Người nước Trung Sơn Yên Chiêu vương Chinh phạt Tề giành chiến thắng Phong theo địa danh Chiến Quốc sách•Yên sách nhị
Sử ký•Nhạc Nghị liệt truyện
Xương Quốc quân Nhạc Gian Người nước Trung Sơn Yên Huệ vương thế tập như trên như trên
Thành An quân Công Tôn Tháo   Yên Huệ vương Là tướng quốc của Yên Có công được phong Sử ký •Yên thế gia
Triệu thế gia
Cao Dương quân Vinh Phần Người nước Tống Yên Vũ Thành vương   Phong theo địa danh Chiến Quốc sách•Triệu sách tứ
Sử ký•Lục quốc niên biểu, Yên thế gia, Triệu thế gia

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ và cấu trúc quân đội của Yên, do thời gian tồn tại thì dài nhưng các ghi chép còn lưu lại rất ít nên khó có thể biết chi tiết. Các cứ điểm quân sự quan trọng của Yên có: Lệnh Tỳ tái (nay là phía tây Thiên An, Hà Bắc), Cư Dong tái (nay là phía tây bắc Cư Dong quan thuộc huyện Xương Bình, tỉnh Hà Bắc), chủ yếu để phòng bị Đông Hồ. Thành Vũ Dương (nay là đông nam huyện Dịch tỉnh Hà Bắc), nằm ở phía tây bắc trường thành, chủ yếu để phòng bị Tề và Triệu. Quân đội nước Yên đạt tới 100.000 người, chiến xa 600 cỗ, ngựa 6000 con[8]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Từ vùng Yên Sơn về phía nam thì ngành kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, còn về phía bắc thì chăn thả gia súc là cơ bản. Tại vùng Yên Sơn và Kí Đông thì cả nông nghiệp lẫn chăn thả gia súc đều có tầm quan trọng như nhau. Từ quận Đại về phía đông tới vùng duyên hải thì nghề làm muối phát triển, phía bắc xuất sản ngựa bò dê, phía nam sản phẩm chủ yếu là các loại lúa mì, lúa gạo, vùng đồi núi có các mỏ quặng đồngsắt. Các công, nông cụ bằng sắt được sử dụng phổ biến ở các địa phương.

Các công trình thủy lợi quan trọng có: Tại phía nam U Châu là đầm Đốc Kháng, kênh Đốc Kháng, tại lưu vực sông Vĩnh Định trong địa phận Bắc Kinh ngày nay có Đào tỉnh, tại nam trường thành có đê ngăn giữ lũ lụt từ sông Dịch Thủy, tại khu vực Hạ Đô có sông Vận Lương.

Ngành thủ công nghiệp luyện kim chủ yếu liên quan tới sản xuất và chế tạo các vật dụng từ sắt và đồng thiếc. Thời Chiến Quốc thủ công nghiệp chế tạo sắt và vật dụng từ sắt tại Yên khá phát triển, với các loại vũ khí chế tạo từ sắt, đồng thời thủ công nghiệp chế tác đồng thiếc cũng có những cải tiến kĩ thuật đạt mức phát triển cao.

Thành thị[sửa | sửa mã nguồn]

Do thương nghiệp, thủ công nghiệp phát triển, nên đô thị từ không có gì lúc ban đầu đã bắt đầu xuất hiện và phồn thịnh. Thời kỳ Yên Chiêu vương, khu vực đô thị của nước Yên hình thành thể chế "tam đô", bao gồm Thượng Đô Kế Thành, Trung Đô (nay là phía tây trấn Đậu Điếm, quận Phòng Sơn, Bắc Kinh) và Hạ Đô Vũ Dương.

Trừ vùng đô thành cũ, khu vực đô thị của Yên tại vùng đất thu được có trình độ phát triển không đồng đều, như Tương Bình (trụ sở quận Liêu Đông của Yên (nay là quận Cự Thành, địa cấp thị Liêu Dương, tỉnh Liêu Ninh).

Nhân vật quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các vị quân chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Danh mục các vị quân chủ nước Yên chủ yếu dựa theo Sử ký của Tư Mã Thiên, phần Yên thế gia, có bổ sung và đối chiếu theo Chiến Quốc sử của Dương Khoan, Yên quốc sử cảo của Bành Hoa và Trúc thư kỉ niên.


STT Tước hiệu Họ tên Số năm tại vị Thời gian Xuất thân, quan hệ Nguồn tư liệu
  Triệu Khang công Cơ Thích 78 (Trúc thư kỉ niên) Chu Vũ vương năm thứ nhất -Chu Khang vương năm thứ 24 người của vương tộc nhà Chu Sử kí•Yên thế gia và Kim bản trúc thư kỉ niên
1 Yên hầu Khắc Cơ Khắc     Con trưởng của Triệu Khang công Yên quốc sử cảo
2 Yên hầu Chỉ Cơ Chỉ     Em trai thứ ba của Yên hầu Khắc Yên quốc sử cảo
3 Yên hầu Vũ Cơ Vũ     Con của Yên hầu Chỉ Yên quốc sử cảo
4 Yên hầu Hiến Cơ Hiến     Con của Yên hầu Vũ, có thuyết cho là Triệu bá Yên quốc sử cảo
5 Yên hầu Hòa Cơ Hòa     Con của Yên hầu Hiến, có thuyết cho là Triệu bá Yên quốc sử cảo
Còn 4 đời không/chưa rõ
10 Yên Huệ hầu   38 864 TCN827 TCN Cháu 9 đời của Triệu Khang công Sử ký•Yên thế gia
11 Yên Li hầu Cơ Trang 36 826 TCN791 TCN Con của Yên Huệ hầu Sử ký•Yên thế gia, niên biểu 12 chư hầu
12 Yên Khoảnh hầu   24 790 TCN767 TCN Con của Yên Li hầu Sử ký•Yên thế gia
13 Yên Ai hầu   2 766 TCN765 TCN Con của Yên Khoảnh hầu Sử kí•Yên thế gia
14 Yên Trịnh hầu Có thuyết cho là Cơ Trịnh 36 764 TCN729 TCN Con của Yên Ai hầu Sử ký•Yên thế gia
15 Yên Mục hầu   18 728 TCN711 TCN Con của Yên Trịnh hầu Sử ký•Yên thế gia
16 Yên Tuyên hầu   13 710 TCN698 TCN Con của Yên Mục hầu Sử ký•Yên thế gia
17 Yên Hoàn hầu   7 697 TCN691 TCN "Thế gia" cho là con của Yên Tuyên hầu Sử ký•Yên thế gia
18 Yên Trang công   33 690 TCN658 TCN "Thế gia" cho là con của Yên Hoàn hầu Sử ký•Yên thế gia
19 Yên Tương công   40 657 TCN618 TCN "Thế gia" cho là con của Yên Trang công Sử ký•Yên thế gia
20 Yên Hoàn công [9]   16 617 TCN602 TCN   Sử ký•Yên thế gia
21 Yên Tuyên công [10]   15 601 TCN587 TCN   Sử ký•Yên thế gia
22 Yên Chiêu công   13 586 TCN574 TCN   Sử ký•Yên thế gia
23 Yên Vũ công   19 573 TCN555 TCN   Sử ký•Yên thế gia
24 Yên Văn công   6 554 TCN549 TCN   Sử ký•Yên thế gia
25 Yên Ý công   4 548 TCN545 TCN   Sử ký•Yên thế gia
26 Yên Huệ công
"Tả truyện" ghi là Yên Giản công
Cơ Khoản 9 544 TCN536 TCN "Thế gia" coi là con của Yên Ý công Sử ký•Yên thế gia, Tả truyện•Chiêu công tam niên
27 Yên Điệu công   7 535 TCN529 TCN   Sử ký•Yên thế gia
28 Yên Cộng công   5 528 TCN524 TCN   Sử ký•Yên thế gia
29 Yên Bình công   18 523 TCN505 TCN   Sử ký•Yên thế gia
30 Yên Giản công   12 504 TCN493 TCN   Sử ký•Yên thế gia
31 Yên Hiếu công 38 492 TCN455 TCN, trước tính là 464 TCN450 TCN   Sử ký•Yên thế gia đối chiếu với Trúc thư kỷ niên, Chiến Quốc sử
32 Yên Thành công Cơ Tái 16 454 TCN439 TCN, trước tính là 449 TCN434 TCN   Sử ký•Yên thế gia đối chiếu với Trúc thư kỉ niên, Chiến Quốc sử
33 Yên Mẫn công   24 438 TCN415 TCN, trước tính là 433 TCN403 TCN   Sử ký•Yên thế gia đối chiếu với Trúc thư kỉ niên, Chiến Quốc sử
34 Yên Giản công hay Yên Li công Trúc thư kỉ niên gọi là Cơ Tái 42 414 TCN373 TCN, trước tính là 402 TCN373 TCN   Sử ký•Yên thế gia đối chiếu với Trúc thư kỉ niên, Chiến Quốc sử
35 Yên Hoàn công   11 372 TCN362 TCN   Sử ký•Yên thế gia
36 Yên Văn công   29 361 TCN333 TCN   Sử ký•Yên thế gia
37 Yên Dịch vương   12 332 TCN321 TCN Con của Yên Văn công Sử ký•Yên thế gia
38 Yên vương Khoái Cơ Khoái 9 320 TCN314 TCN Con của Yên Dịch vương Sử ký•Yên thế gia
Tử Chi Tử Chi 4 317 TCN314 TCN Đại thần của Yên vương Khoái Sử ký•Yên thế gia
39 Yên Chiêu vương Cơ Chức, trước gọi là thái tử Bình 33 311 TCN279 TCN Công tử nước Yên Sử ký•Yên thế gia đối chiếu với Triệu thế gia, Chiến Quốc sử
40 Yên Huệ vương 8 278 TCN271 TCN, trước tính là 278 TCN272 TCN Con của Yên Chiêu vương Sử ký•Yên thế gia đối chiếu với Triệu thế gia, Chiến Quốc sử
41 Yên Vũ Thành vương 14 271 TCN258 TCN Từ Quảng cho là con của Yên Huệ vương Sử ký•Yên thế gia
42 Yên Hiếu vương [11]   3 257 TCN255 TCN Con của Yên Vũ Thành vương Sử ký•Yên thế gia
43 Yên vương Hỉ Cơ Hỉ 33 254 TCN222 TCN Con của Yên Hiếu vương Sử ký•Yên thế gia

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Có thuyết cho rằng Kế Thành tương ứng với quận Tuyên Vũ, Bắc Kinh ngày nay, Kế Thành kỉ niệm trụ bia kí
  2. ^ "Sử kí•Yên thế gia" và "Trúc thư kỉ niên" viết: "Tử Chi giết công tử Bình"
  3. ^ Lục quốc niên biểu viết: "vua Khoái và thái tử cùng Tử Chi đều chết".
  4. ^ Sử ký, Hung Nô liệt truyện viết: "Sau này Yên có hiền tướng Tần Khai, là con tin ở Hồ, Hồ rất tin tưởng. Quay về tập kích đánh úp Đông Hồ, Đông Hồ lui trên nghìn dặm. Cùng Kinh Kha mưu giết Tần vương là Tần Vũ Dương, cháu của Khai. Yên sau lại xây đắp trường thành, từ Tạo Dương, tới Tương Bình. Lập các quận Thượng Cốc, Ngư Dương, Hữu Bắc Bình, Liêu Tây, Liêu Đông để chống Hồ.
  5. ^ Xem Chiến Quốc sách•Yên sách nhất, Sử ký•Yên Triệu công thế gia và Triệu thế gia.
  6. ^ Tư trị thông giám, Chu Noản Vương năm thứ 31 có ghi "...do Xuân Thu nguyên soái...".
  7. ^ Xem Dương Khoan, Chiến Quốc sử (bản bổ sung), nhà xuất bản nhân dân Thượng Hải, năm 1998, trang 228-231.
  8. ^ Xem Sử ký•Tô Tần liệt truyện.
  9. ^ Từ đây, tước vị của vua nước Yên được nâng lên hàng Công
  10. ^ Hiện chưa rõ tại sao, nước Yên đã có Yên Tuyên Hầu mà lại còn có Yên Tuyên Công
  11. ^ Hiện chưa rõ tại sao, nước Yên đã có Yên Hiếu Công mà lại còn có Yên Hiếu vương, tước thì khác nhau nhưng hiệu thì không rõ

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]