Nhà Chu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đông Chu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nhà Chu
Vương quốc
Blank.png
1046 TCN – 256 TCN Blank.png
Vị trí của Nhà Chu
Nhà Chu, khoảng thế kỷ 10 TCN
Thủ đô Hạo Kinh, Lạc Dương
Ngôn ngữ Hán Ngữ cổ
Tôn giáo Tôn giáo dân gian Trung Hoa, Bách Gia Chư Tử
Chính thể Quân chủ/Phong kiến
Vua
 - 1046–1043 TCN Chu Vũ Vương
 - 314–256 TCN Chu Noãn Vương
Lịch sử
 - Trận Mục Giã 1046 TCN
 - Giải thể 256 TCN
Dân số
 - 273 TCN ước tính 30.000.000 
 - 230 TCN ước tính 38.000.000 
Tiền tệ Tiền cổ Trung Quốc
Nhà Chu
Tiếng Trung: 周朝
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Tam Hoàng Ngũ Đế
Nhà Hạ 2205–1767 TCN
Nhà Thương 1766–1122 TCN
Nhà Chu 1122–256 TCN
  Nhà Tây Chu
  Nhà Đông Chu
    Xuân Thu
    Chiến Quốc
TRUNG ĐẠI
Nhà Tần 221 TCN –206 TCN
Nhà Hán 206 TCN–220 CN
  Nhà Tây Hán
  Nhà Tân
  Nhà Đông Hán
Tam Quốc 220–280
  Ngụy, Thục & Ngô
Nhà Tấn 265–420
  Nhà Tây Tấn
  Nhà Đông Tấn Ngũ Hồ thập lục quốc
304–439
Nam Bắc Triều 420–589
Nhà Tùy 581–619
CẬN ĐẠI
Nhà Đường 618–907
  (Nhà Vũ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–960
Nhà Liêu 907–1125
Nhà Tống 960–1279
  Nhà Bắc Tống Nhà Tây Hạ
  Nhà Nam Tống Nhà Kim
Nhà Nguyên 1271–1368
Nhà Minh 1368–1644
Nhà Thanh 1644–1911
HIỆN ĐẠI
Trung Hoa Dân Quốc 1912–nay
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa

1949–nay

Trung Hoa Dân Quốc
(tại Đài Loan)

Triều đại Trung Quốc
Lịch sử quân sự Trung Quốc
Hộp này: xem  thảo luận  sửa

Nhà Chu (Trung: 周朝; bính âm: Zhōu Cháo; Wade–Giles: Chou Ch'ao [tʂóʊ tʂʰɑ̌ʊ]) nối tiếp sau nhà Thương và trước nhà TầnTrung Quốc. Nhà Chu tồn tại lâu hơn bất cứ một triều đại nào khác trong lịch sử Trung Quốcviệc sử dụng đồ sắt cũng đã xuất hiện ở Trung Quốc trong thời kỳ này. Nhà Chu cũng là khoảng thời gian khi hệ thống chữ viết cổ xuất hiện trên các đỉnh đồng thời Tây Chu bắt đầu chuyển sang giai đoạn hiện đại, dưới hình thức những văn bản ghi chép cổ cuối thời Chiến Quốc.

Mục lục

[sửa] Nguồn gốc

Nền văn minh Tây Chu.

Nhà Chu khởi nguồn ở sông Vị (Wei), phía tây nền văn minh Thương. Tổ tiên bộ tộc Chu khởi nghiệp từ đất Thai (nay thuộc tây Vũ Công, Thiểm Tây), tương truyền có tên là Khí, còn gọi là Hậu Tắc, sống vào đời vua Thuấn, được ban cho họ Cơ.

Qua nhiều đời di cư, Chu phát triển thành một bộ lạc lớn và bắt đầu di cư về đất Mân (nay thuộc tây nam huyện Tuần Ấp, Thiểm Tây). Tại đây, bộ lạc Chu bắt đầu mở rộng ảnh hưởng và trở thành thủ lĩnh một liên minh gồm các bộ lạc gần nền văn minh Thương, đóng đô tại đất Kỳ (nay là Kỳ Sơn, Thiểm Tây). Truyền 15 đời từ Hậu Tắc tới đời Tây bá Cơ Xương, liên minh bộ lạc này phát triển thành một tiểu quốc Chu hùng mạnh, với kinh đô tại đất Phong (nay thuộc tây Tràng An, Thiểm Tây), uy hiếp mạnh mẽ sự tồn tại của nhà Thương.

Cơ Xương mất, con là Cơ Phát lên thay, tiếp tục ý định diệt Thương. Vị vua Thương, Đế Tân hay Trụ Tân (Zhouxin) tàn bạo và mất lòng dân. Cơ Phát đã tranh thủ sự ủng hộ của các chư hầu oán ghét nhà Thương, tập hợp lực lượng chống lại. Nhà Chu và đồng minh coi việc suy yếu của nhà Thương là một cơ hội để nổi dậy, và vào năm 1123 trước Công Nguyên[1] họ chiến thắng vua nhà Thương là Trụ trong trận chiến Mục Dã (Mu-ye). Vua Trụ thua trận, nhảy vào lửa tự thiêu. Từ đó, vương triều Chu bắt đầu cai trị ở vùng đất trước đó thuộc nền văn minh Thương. Cơ Phát lên làm thiên tử, tức là Chu Vũ Vương.

[sửa] Cai trị

Bình gốm Tây Chu với các mảnh khảm thủy tinh, thế kỷ thứ 4-3 TCN, Bảo tàng Anh.

Nhà Chu coi tất cả đất đai thuộc về thần thánh, và họ là những đứa con của thần thánh vì vậy tất cả đất đai và dân cư đều thuộc về họ. Thấy rằng đất đai mình chinh phục được quá rộng lớn để một người có thể cai trị, các vua nhà Chu đã chia đất đai thành những vùng và chỉ định một người nào đó để cai trị vùng đó dưới danh nghĩa của mình (chư hầu), lựa chọn một người thân trong họ, một người có thể tin tưởng trong bè cánh, hay vị thủ lĩnh một bộ lạc đã cùng họ chống lại nhà Thương. Chính sách của nhà Châu khá tương đồng với mô hình chính trị Âu châu thời Trung cổ, trong đó có rất nhiều tiểu quốc được thành lập, và phần lớn đều do con cháu của thiên tử làm lãnh đạo. Các lãnh đạo, hay lãnh chúa của các tiểu quốc đó đều nhận tước hiệu của nhà Chu. Tuyệt đại đa số các nước chư hầu đều được thành lập và thụ phong tước Hầu hay tước Tử trong thời Tây Chu, xem như họ đều là cánh tay nối dài của gia đình Chu Văn Vương. Chỉ trừ một số ít chư hầu khác là được thành lập dưới tiền triều Thương, như nước Trần và Tống. Mỗi vị thủ lĩnh địa phương có quyền sắp đặt mọi vùng đất quanh mình và có lực lượng dân phòng riêng. Và nhà Chu ban cho họ những quà tặng như xe ngựa, vũ khí bằng đồng, người hầu và súc vật. Các vị tù trưởng này được phong các tước vị và cai quản vùng lãnh địa của mình như một tiểu quốc thần phục nhà Chu. Những vị vua địa phương này truyền ngôi cho con trai mình và tước vị của họ là cha truyền con nối. Và để cai trị vùng đất của mình tốt hơn, vị chư hầu đó lại phong những tước nhỏ hơn cho những người đã từng cầm đầu các nhóm dân ở nơi đó trước khi họ đến. Một hệ thống thứ bậc địa vị và trách nhiệm xuất hiện giữa và bên trong các gia đình, với việc anh lớn thì có quyền cao hơn em, với quy tắc kế tục theo đó những người đàn ông sẽ làm chủ gia đình. Nếu một người quý tộc đã có gia đình mà lại thích một người đàn bà khác, thay vì đuổi vợ khỏi nhà, ông ta có thể đưa người đàn bà kia vào trong gia đình với tư cách vợ lẽ, với cấp bậc thấp hơn vợ mình.

Các vị vua sáng lập nhà Chu đã tuyên truyền với những người bị mình chinh phục rằng nhà Chu đã đuổi tiền nhân các vua nhà Thương khỏi thiên đường và thiên đường đã bị vị thần tối cao của họ chiếm, vị thần mà họ gọi là “Thượng đế”, người, theo họ nói, đã ra lệnh cho sự sụp đổ của nhà Thương. Giống như ở vùng Tây Á, các vua Chu tuyên bố rằng họ cai trị bằng quyền lực thần thánh. Họ cho rằng họ là hiện thân trên mặt đất của “Thượng đế” và nhiệm vụ của họ là làm trung gian với Thượng đế, để thực hiện các cuộc hiến tế thích đáng và giữ gìn quan hệ tốt giữa thiên đường và thần dân của họ. Họ tuyên bố rằng bất kỳ một sự chống đối nào với sự cai trị của họ là chống đối lại ý muốn của trời. Bắt đầu từ thời các vua nhà Chu, các vị thủ lĩnh địa phương nhận được quyền hành động như các thầy tế: để thực hiện hiến tế, để cho phép hát một số loại bài hát và một số điệu nhảy, quyền cúng tế các vị thần núi sông ở địa phương, các dòng suối và đất và mùa màng. Tuy nhiên, các quý tộc địa phương tiếp tục đi theo di sản của ông cha để lại. Họ lấy vợ bằng những nghi thức tôn giáo và sự ủng hộ trong khi người dân thường vẫn tiếp tục không có kiểu lấy vợ như vậy, không có họ hay có gia phả. Họ chỉ đơn giản sống với nhau và được công nhận là một cặp bởi những người hàng xóm. Giống như ở Ấn ĐộTây Á, cùng với thời gian có một sự pha trộn giữa các tôn giáo của kẻ chinh phục và kẻ bị chinh phục. Những vị cai trị nhà Chu chấp nhận vào danh sách thần thánh của mình một số vị thần của nền văn minh Thương. Sự cúng tế nhiều vị thần từ thời nhà Thương vẫn được tiếp tục, gồm cả vị thần mùa màng, mưanông nghiệp - một trong những vị thần này được tin rằng được sinh ra từ một bà mẹ trinh trắng. Trong số các vị thần đó có vị thần sông Hoàng Hà, người có thân cá nhưng có mặt người. Trong nền văn minh Chu, con người tiếp tục cố gắng làm dịu các vị thần bằng cách cúng tế. Những người có khả năng thì hiến tế bằng gia súc, cừu, lợn hay ngựa. Việc hiến tế bằng người giảm bớt so với thời nhà Thương, nhưng nhà Chu có cả vợ và bạn bè ở trong mộ, và mỗi năm một cô gái trẻ bị cúng làm cô dâu cho thần sông. Việc hiến tế này bắt đầu bằng việc những bà đồng cốt lựa chọn một cô gái đẹp nhất có thể. Mặc cho cô ta đồ satin, và đeo trang sức và đặt lên một cái giường cưới trên một cái bè. Họ tống cái bè xuống sông. Cái bè sẽ chìm và cô gái chết đuối, coi như là một đồ hiến tế cho thế giới vô hình của vị thần sông.

[sửa] Mệnh Trời (Thiên Mệnh)

Nhà Chu cũng phải tranh đấu với tính hợp thức về sự cai trị của họ. Để thuyết phục thần dân, đặc biệt là các quý tộc, về tính chính đáng của quyền lực của mình, nhà Chu lập ra một hệ thống quyền lực mới mà họ gọi là "thiên mệnh" (t’ien ming), hay “Sự uỷ nhiệm của Trời”. Khái niệm này vẫn là một phần trong bề ngoài của những lý thuyết về quyền lực ở Trung Quốc. Nhà Chu định nghĩa quyền làm vua như một vị trí trung gian giữa trời và đất; đặc tính của vua hay chúa tể, “vương” thể hiện hùng hồn điều này. Chữ biểu ý của nghĩa này gồm ba đường ngang và một nét sổ dọc. Điều này thể hiện sự kết nỗi giữa trời (ở trên) và đất (ở dưới).

Mối quan hệ này được thể hiện gián tiếp bởi chúa tể hay nhà vua (đường ngang ở giữa). Trời (“thiên”) muốn rằng con người sẽ có được mọi thứ nhu cầu của mình, và vị vua, theo ý của “thiên mệnh” được chỉ định bởi trời để coi sóc sự thịnh vượng của mọi người dân. Đây là một “Chiếu chỉ” hay “Sự uỷ nhiệm” của trời. Nếu vị vua chúa trở nên ích kỷ hay không thể chấp nhận được, không thể chăm sóc người dân, trời bãi bỏ sự uỷ nhiệm của mình và trao cho người khác.

Cách duy nhất để biết được sự uỷ nhiệm đã được thông qua là lật đổ vị vua chúa đó; nếu việc lật đổ thành công, thì sự uỷ nhiệm đã được trao cho người kia, nhưng nếu thất bại, thì sự uỷ nhiệm vẫn thuộc về nhà vua. Mệnh Trời có thể là khái niệm về mặt chính trị và xã hội bị chỉ trích nhiều nhất trong văn hoá Trung Quốc. Nó giải thích những thay đổi trong lịch sử, nhưng cũng cung cấp một lý thuyết đạo đức sâu sắc về triều đình dựa trên sự vị tha cống hiến của người cai trị đối với lợi ích đại chúng. Quan niệm này cũng tái tạo lại quan niệm Trung Quốc về Trời, vốn bắt nguồn từ khái niệm trước đó về một “Thượng đế”, (“Shang-Ti”) thành một lực lượng cai trị vũ trụ đạo đức. Chính khía cạnh đạo đức này của Trời và “Mệnh Trời”, đã ảnh hưởng đến khuynh hướng chung của văn hoá và triết học Trung Quốc, có lẽ chú trọng tới đạo đức và các vấn đề xã hội – hơn là những nền văn hoá cổ khác.

[sửa] Nhà Đông Chu

Năm 771 TCN, khi Chu U Vương phế truất Thân hậu để đưa Bao Tự lên thay thế, kinh đô nhà Chu đã bị các lực lượng du mục phía đông bắc tràn vào cướp phá do sự xúi giục của Thân Hầu (cha Thân hậu). U vương bị giết và con cả là thái tử Nghi Cữu được các quý tộc chư hầu Trịnh, Tấn, Tần đưa lên làm vua, tức là Chu Bình Vương, dời đô về phía đông năm 722 TCN tới Lạc Dương, tỉnh Hà Nam hiện nay. Từ đây bắt đầu giai đoạn Đông Chu, và chỉ kết thúc khi bị nhà Tần lật đổ vào năm 256 trước Công Nguyên; trong lịch sử Trung Quốc, giai đoạn này được gọi là “Thời Xuân Thu” (771-403 TCN) và “Thời chiến quốc” (403-256 TCN). Thời kỳ này của nhà Đông Chu cũng được coi là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của tư tưởng và văn hoá Trung Quốc trong lịch sử. Chính trong giai đoạn cai trị này của nhà Đông Chu mà những nhà tư tưởng lớn nhất đã sáng tạo ra những quan niệm khởi đầu về triết học, đạo đức, học thuyết chính trị và văn hoá Trung Quốc. Ở giai đoạn Xuân Thu (771-401 TCN), Trung Quốc gồm phần lớn là một nhóm các tiểu vương quốc; chính nhà Chu cũng không bao giờ có đủ quyền lực quân sự và chính trị để tái chiếm phía tây hay thậm chí là giữ được quyền kiểm soát các tiểu quốc của mình. Bởi vì sự không ổn định của các tiểu quốc đó, và bởi vì sự xâm lấn lãnh thổ của các rợ du mục phía nam, các tiểu quốc phải liên minh với nhau và chấp nhận một số vị bá chủ trên “lãnh thổ” của họ. Vì vậy thời Xuân Thu là một giai đoạn nguy hiểm và không chắc chắn nhất, trong đó lãnh thổ bị chuyển dịch tới lui, các cuộc xâm lấn thường xuyên xảy ra và các liên minh được lập lên rồi lại giải tán với sự nhanh chóng đáng kinh ngạc.

[sửa] Suy tàn

Bài chi tiết: Xuân ThuChiến Quốc

Từ khi dời đô sang phía Đông, quyền lực của triều đình Chu dần giảm sút: tốc độ tan rã các vương quốc tăng lên. Từ thời Bình Vương về sau, các vua nhà Chu chỉ còn cai trị trên danh nghĩa, quyền lực thực sự nằm trong tay các chư hầu hùng mạnh. Các chư hầu đánh nhau để giành lấy ngôi bá chủ, điều khiển các chư hầu khác thay vai trò của nhà Chu, dù trên danh nghĩa họ vẫn mượn tiếng nhà Chu để điều khiển các chư hầu khuất phục. Trong thời Xuân Thu xuất hiện các chư hầu mạnh nối nhau làm bá chủ, gọi là Ngũ Bá (có vài thuyết khác nhau quan niệm về Ngũ Bá).

Tới cuối thời nhà Chu, các chư hầu thậm chí còn không cần biết tới sự cai trị chỉ mang tính biểu tượng của các vua Chu và tự xưng vương (như nhà Chu). Chiến tranh giữa các chư hầu tàn khốc hơn, quy mô lớn hơn vì một loạt nước nhỏ thời Xuân Thu đã bị tiêu diệt, còn lại chỉ khoảng 10 nước, trong đó có 7 nước lớn gọi là Thất hùng: Tề, Yên, Tần, Sở, Hàn, Triệu, Nguỵ. Nhà Chu khi đó chỉ còn cai quản vùng đất nhỏ bé như các nước chư hầu bé khác còn sót lại chưa bị diệt như Lỗ, Vệ. Các chư hầu lớn muốn trở thành Vua của những ông vua.

Tới thế kỷ 3 TCN, một nhà Chu nhỏ bé cũng lại nảy sinh lục đục. Hai nước Hàn và Triệu mang quân can thiệp, chia lãnh thổ nhỏ bé làm đôi, giao cho hai vị tông thất cai quản, gọi là Tây Chu công và Đông Chu công. "Thiên tử" nhà Chu ở chung với Tây Chu công. Từ đây Tây Chu và Đông Chu chỉ mang nghĩa phân chia trong phạm vi hẹp của vùng đất nhà Đông Chu xung quanh Lạc Dương mà thôi, không phải địa phận nhà Tây Chu xưa kia, lúc đó đã thuộc về Tần.

Tới năm 257 TCN, hưởng ứng phong trào "hợp tung" do Sở và Yên phát động để chống nước Tần hùng mạnh và hung hãn đang lấn đất chư hầu như tằm ăn lá, thiên tử nhà Chu cũng mộ binh đánh Tần. Nhưng lúc đó nhà Chu đã kiệt quệ tới mức thiên tử không có đủ tiền chiêu binh mà phải đi vay. Tây Chu công tự làm tướng cùng hợp binh với quân Yên và quân Sở. Thế nhưng, phong trào hợp tung cũng như những lần trước, đúng như đánh giá của Trương Nghi :"hợp tung như đống cát, dễ hợp mà dễ tan", chưa đánh Tần trận nào ra trò mà hợp tung lại tan rã vì quân các nước khác không tới. Hàn đang bị Tần vây, không cựa quậy được, Triệu vừa thua trận Trường Bình mất gần hết nhân sự và sinh khí, còn Tề lại thông hiếu với Tần không ra quân. Quân Sở và Yên cô thế đành tự rút. Lấy cớ nhà Chu gây hấn, năm 256 TCN, Tần Chiêu Tương vương sai Trương Đường mang quân đánh vào đất Tây Chu, bắt Chu Noãn vương đem về Hàm Dương.

Năm 250 TCN, Tần Chiêu Tương vương chết, liền sau đó con là Hiếu Văn vương lên ngôi 3 ngày cũng chết. Cháu là Tử Sở lên ngôi, tức là Trang Tương vương. Đông Chu quân thấy nước Tần mất liền 2 vua, lại sai người đi bàn với các nước hợp tung đánh Tần lần nữa, thành ra chọc giận nước Tần. Năm 249 TCN, vua Tần bèn sai Lã Bất Vi mang 10 vạn quân đi đánh Đông Chu, bắt nốt Đông Chu quân mang về. Từ đó nhà Chu mất hẳn.

Nhà Chu tính từ Chu Vũ vương đến Đông Chu quân có 37 vua, nếu tính từ năm 1122 TCN thì kéo dài 873 năm, nếu tính từ 1046 TCN thì kéo dài 777 năm. Dù là con số nào, nhà Chu vẫn là triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc.

[sửa] Nông nghiệp

Nông nghiệp thời nhà Chu đã rất tập trung và trong nhiều trường hợp được chỉ đạo từ nhà nước. Tất cả đất đai trồng trọt đều thuộc sở hữu quý tộc, các quý tộc trao lại đất đai cho các nông nô của mình. Ví dụ, một mảnh đất được chia làm chín miếng vuông, hình chữ tỉnh (井), gọi là phép tỉnh điền, thu hoạch từ mảnh đất nằm chính giữa thuộc về nhà nước, ở những mảnh xung quanh thuộc về các nông dân. Theo cách này, nhà nước có thể tích trữ lương thực thặng dư (như gạo) và phân phối chúng ở thời đói kém hay mất mùa. Một số lĩnh vực sản xuất quan trọng thời kỳ này gồm chế tạo đồng, vũ khí và công cụ sản xuất nông nghiệp. Những ngành này thuộc quyền quản lý của tầng lớp quý tộc.

[sửa] Các vua nhà Chu

[sửa] Các thủ lĩnh bộ tộc từ thời vua Thuấn đến Hạ, Thương

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Chu bản kỷ, có ghi lại 15 đời thủ lĩnh bộ tộc Chu:

Thứ tự Tên Quan hệ với người trước Ghi chú
1 Hậu Tắc (Cơ Khí) con Đế Cốc và bà Nguyên Khương thời vua Thuấn
2 Cơ Bất Khuất con Hậu Tắc thời nhà Hạ
3 Cơ Cúc con Bất Khuất
4 Cơ Công Lưu con Cúc
5 Cơ Khánh Tiết con Công Lưu dựng đô ở đất Mân
6 Cơ Hoàng Bộc con Khánh Tiết
7 Cơ Sai Phất con Hoàng Bộc
8 Cơ Hủy Hiểm con Sai Phất
9 Cơ Công Phi con Hủy Hiểm
10 Cơ Cao Ngữ con Công Phi
11 Cơ Á Ngữ con Cao Ngữ
12 Công Thúc Tổ Loại con Á Ngữ
13 Cổ Công Đản Phủ (Cơ Đản Phủ, tức Chu Thái Vương) con Công Thúc Tổ Loại dời đến Kỳ Sơn
14 Công Quý (Cơ Quý Lịch) con út Cổ Công Đản Phủ (em Ngô Thái BáNgô Trọng Ung) thời nhà Thương
15 Tây Bá (Cơ Xương) con Công Quý thời Đế Tân nhà Thương

[sửa] Các vua Chu làm thiên tử

Tên riêng Tên thuỵ Năm cai trị1
Cơ Phát
姬發
Chu Vũ Vương
武王
1046 TCN-1043 TCN1
Cơ Tụng
姬誦
Chu Thành Vương
成王
1042 TCN-1021 TCN1
Cơ Chiêu
姬釗
Chu Khang Vương
康王
1020 TCN-996 TCN1
Cơ Hà
姬瑕
Chu Chiêu Vương
昭王
995 TCN-977 TCN1
Cơ Mãn
姬滿
Chu Mục Vương
穆王
976 TCN-922 TCN1
Cơ Ý Hỗ
姬繄扈
Chu Cung Vương
共王
922 TCN-900 TCN1
Cơ Kiên
姬囏
Chu Ý Vương
懿王
899 TCN-892 TCN1
Cơ Tích Phương
姬辟方
Chu Hiếu Vương
孝王
891 TCN-886 TCN1
Cơ Tiếp
姬燮
Chu Di Vương
夷王
885 TCN-878 TCN1
Cơ Hồ
姬胡
Chu Lệ Vương
厲王
877 TCN-842 TCN1
Chu Triệu cộng hòa
共和 
(nhiếp chính) 841 TCN-828 TCN
Cơ Tĩnh
姬靜
Chu Tuyên Vương
宣王
827 TCN-782 TCN
Cơ Cung Sanh /Tinh
姬宮湦
Chu U Vương
幽王
781 TCN-771 TCN
Kết thúc Tây Chu / Bắt đầu Đông Chu
Cơ Nghi Cữu
姬宜臼
Chu Bình Vương
平王
770 TCN-720 TCN
Cơ Lâm
姬林
Chu Hoàn Vương
桓王
719 TCN-697 TCN
Cơ Đà
姬佗
Chu Trang Vương
莊王
696 TCN-682 TCN
Cơ Hồ Tề
姬胡齊
Chu Ly Vương
釐王
681 TCN-677 TCN
Cơ Lang /Lãng
姬閬
Chu Huệ Vương
惠王
676 TCN-652 TCN
Cơ Trịnh
姬鄭
Chu Tương Vương
襄王
651 TCN-619 TCN
Cơ Nhâm Thần
姬壬臣
Chu Khoảnh Vương
頃王
618 TCN-613 TCN
Cơ Ban
姬班
Chu Khuông Vương
匡王
612 TCN-607 TCN
Cơ Du
姬瑜
Chu Định Vương
定王
606 TCN-586 TCN
Cơ Di
姬夷
Chu Giản Vương
簡王
585 TCN-572 TCN
Cơ Tiết Tâm
姬泄心
Chu Linh Vương
靈王
571 TCN-545 TCN
Cơ Quý
姬貴
Chu Cảnh Vương
景王
544 TCN-521 TCN
Cơ Mãnh
姬猛
Chu Điệu Vương
悼王
520 TCN
Cơ Cái
姬丐
Chu Kính Vương
敬王
519 TCN-476 TCN
Cơ Nhân
姬仁
Chu Nguyên Vương
元王
475 TCN-469 TCN
Cơ Giới
姬介
Chu Trinh Định Vương
貞定王
468 TCN-442 TCN
Cơ Khứ Tật
姬去疾
Chu Ai Vương
哀王
441 TCN
Cơ Thúc
姬叔
Chu Tư Vương
思王
441 TCN
Cơ Ngôi
姬嵬
Chu Khảo Vương
考王
440 TCN-426 TCN
Cơ Ngọ
姬午
Chu Uy Liệt Vương
威烈王
425 TCN-402 TCN
Cơ Kiêu
姬驕
Chu An Vương
安王
401 TCN-376 TCN
Cơ Hỉ
姬喜
Chu Liệt Vương
烈王
375 TCN-369 TCN
Cơ Biển
姬扁
Chu Hiển Vương
顯王
368 TCN-321 TCN
Cơ Định
姬定
Chu Thận Tịnh Vương
慎靚王
320 TCN-315 TCN
Cơ Duyên
姬延
Chu Noản Vương
赧王
314 TCN-256 TCN
Cơ Căn
姬根
Đông Chu quân hay Chu Huệ Công
惠公2
255 TCN-249 TCN
1 Niên đại bắt đầu lịch sử Trung Quốc được chấp nhận chung là năm 841 TCN, khởi đầu thời nhiếp chính Cộng Hòa. Tất cả niên đại trước đó đều còn gây nhiều tranh cãi. Những niên đại ở đây lấy theo Dự án Biên niên Hạ-Thương-Chu, của các học giả do chính phủ Trung Quốc tài trợ và hoàn thành năm 2000. Chúng chỉ có tính tham khảo.
2 Các quý tộc họ Cơ cho rằng Huệ Công là người kế vị Noản Vương sau khi kinh đô Lạc Dương bị các quân Tần chiếm năm 256 TCN. Tuy nhiên danh vị nhà Chu không kéo dài thêm được bao lâu và Huệ Công cũng không dám xưng vương, vì thế số đông cho rằng Noản Vương là vua cuối cùng nhà Chu.

[sửa] Chú thích

  1. ^ Có một thuyết khác cho rằng thời điểm bắt đầu nhà Chu là 1066 TCN

[sửa] Xem thêm

[sửa] Tham khảo

[sửa] Liên kết ngoài

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác