Tần Chiêu Tương vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tần Chiêu Tương vương
昭襄王
Vua chư hầu Trung Quốc (chi tiết...)
Vua nước Tần
Trị vì 306 TCN-250 TCN
Tiền nhiệm Tần Vũ vương
Thừa tướng Cam Mậu
Sư Lý Tật
Ngụy Nhiễm
Phạm Thư
Thái Trạch
Kế nhiệm Tần Hiếu Văn vương
Tây đế
Tại vị 288 TCN
Kế vị Tần Thủy Hoàng
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên đầy đủ Doanh Tắc
Tước vị Tần Chiêu Tương vương
chư hầu nước Tần
Thân phụ Tần Huệ Văn vương
Thân mẫu Tuyên thái hậu
Sinh 324 TCN
Mất 251 TCN
Trung Quốc

Tần Chiêu Tương vương (chữ Hán: 秦昭襄王; 324 TCN251 TCN, trị vì: 306 TCN-251 TCN[1][2]) hay Tần Chiêu vương (秦昭王), tên thật là Doanh Tắc (嬴稷), là vị vua thứ 33 của nước Tần, chư hầu thời Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc[3][4].

Dưới thời kỳ trị vì của Chiêu Tương vương, nước Tần duy trì được sự hùng mạnh và mở rộng đất đai sang lãnh thổ các nước khác.

Thân thế và việc lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Sử ký, Tần Chiêu Tương vương là con thứ của Tần Huệ Văn vương – vua thứ 31 nước Tần và em của Tần Vũ vương – vua thứ 32 nước Tần[3].

Năm 307 TCN, Tần Vũ vương mất mà không có con nối dõi. Công tử Tắc đang làm con tinnước Yên, đã cùng với em trai mình tranh giành ngôi báu. Triệu Vũ Linh vương hợp sức với Ngụy Nhiễm (em trai mẹ của Doanh Tắc là Tuyên thái phi), đưa Tắc lên ngôi, tức Tần Chiêu Tương vương. Khi đó ông 20 tuổi.

Sau khi lên ngôi, Tần Chiêu Tương vương phong cho hai em trai của thái hậu là Ngụy NhiễmMị Nhung làm Nhương hầu và Hoa Dương quân, hai em cùng mẹ là Doanh Khôi và Doanh Phất làm Cao Lăng quân, Kính Dương quân. Bốn người nắm nhiều quyền lực ở Tần, được gọi là Tứ quý[5].

Củng cố quyền lực, diệt Nghĩa Cừ[sửa | sửa mã nguồn]

Tần Chiêu Tương vương nối ngôi khi còn trẻ, việc triều chính do Ngụy Nhiễm cùng các cựu thần thời Vũ vương là Sư Lí Tật, Cam Mậu, Hướng Thọ, Công Tôn Thích trợ giúp.

Năm 306 TCN, nước Sở đem quân đánh nước Hàn, Hàn sai sứ cầu viện Tần. Cam Mậu khuyên ông đem quân giúp. Chiêu Tương vương nghe theo. Sau đó Cam Mậu xin vua trả đất Quy Hoàn cho Hàn. Tuy nhiên về sau do nghe lời gièm pha của công tôn Thích và Hướng Thọ nên ông nghi ngờ Cam Mậu làm phản. Cam Mậu trốn sang nước Tề, đến Hàm Cốc quan thì gặp em Tô TầnTô Đại. Tô Đại khuyên Cam Mậu trở về, rồi sang Tần nói với Chiêu Tương vương rằng Cam Mậu là người giỏi, nếu để đến nước khác thì Tần sẽ mất một nhân tài. Chiêu Tương vương bèn sai sứ mời Cam Mậu về phong tướng quốc. Tô Đại lại khuyên Tề Mẫn vương dùng Cam Mậu, cuối cùng Cam Mậu ở lại Tề[6].

Sau khi Cam Mậu bỏ đi, Tần Chiêu Tương vương phong cho thúc phụ là Sư Lý Tật làm Tả Thừa tướng, sai đem quân đánh nước Vệ, vây Bồ Thành nhưng sau đó Sư Lý Tật rút quân[6]. Cùng năm, vua Nghĩa Cừ sang triều kiến Chiêu Tương vương, gặp được Tuyên Thái hậu (mẹ của Tần Chiêu Tương vương). Hai người tư thông với nhau, sinh được hai con.

Tề Mẫn vương cử Cam Mậu đi sứ nước Sở. Tần Chiêu Tương vương nghe tin Mậu ở nước Sở, sai sứ đến nhờ Sở Hoài vương đưa về Tần. Sở Hoài vương định nghe theo, tuy nhiên sau đó tướng SởPhạm Quyên can gián không nên đưa ông về Tần, cũng không nên giữ lại. Hoài vương đồng ý và cuối cùng Cam Mậu không về Tần được[6].

Năm 305 TCN, Thứ trưởng nước Tần là công tử Tráng nổi dậy cùng một số đại thần và công tử chống lại Chiêu Tương vương, bị thất bại. Sau đó Ngụy Nhiễm giết Tần Huệ Văn hậu và đuổi Tần Điệu vũ hậu sang nước Ngụy, còn các em Chiêu Tương vương đều bị Ngụy Nhiễm giết. Sang năm 304 TCN, Tần Chiêu Tương vương được cử hành quan lễ (lễ trưởng thành).

Năm 301 TCN, Chiêu Tương vương giận Thục hầu Huy (hay Thục hầu Uẩn), sai Tư Mã Thác đánh Thục, giết Uẩn rồi lập con Uẩn làm Thục hầu. Năm 298 TCN, Chiêu Tương vương lại cho rằng Thục hầu Uẩn bị oan, sai sứ đến làm lễ mai táng. Cùng năm đó, Tần cử Thứ trưởng Quốc hợp quân với Tề, Hàn, Ngụy đánh Sở, giết 2 vạn quân Sở.

Năm 299 TCN, ông sai Mị Nhung đánh Sở, chiến được Tân thị[3].

Năm 272 TCN, Tần Chiêu Tương vương và Tuyên Thái hậu muốn đánh Nghĩa Cừ, bèn triệu vua Nghĩa Cừ sang yết kiến, rồi giết chết ông ta ở cung Cam Tuyền. Nhân đó, Tần Chiêu Tương vương sai quân đánh và tiêu diệt Nghĩa Cừ lấy đất Nghĩa Cừ lập ra ba quận Lũng Tây, Bắc Địa, Thượng quận.

Tiếp đãi Mạnh Thường quân và Triệu chủ phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 298 TCN[7], tướng quốc nước TềMạnh Thường quân Điền Văn đến nước Tần, Chiêu Tương vương nghe Điền Văn là người hiền, muốn giữ lại, bèn nghĩ ra kế nếu Điền Văn quy phục sẽ phong tướng, còn không sẽ giết. Điền Văn nghe tin, cầu xin sủng thiếp của Chiêu Tương vương giúp mình, và đút lót cho sủng thiếp chiếc áo lông cừu. Nghe lời sủng thiếp, Tần Chiêu Tương vương đồng ý thả Mạnh Thường quân về. Khi Mạnh Thường quân sắp đến biên giới thì Chiêu Tương vương hối hận, sai quân đuổi theo nhưng Điền Văn đã kịp thoát.[8]

Triệu Vũ Linh vương tuy đã nhường ngôi làm chủ phụ vẫn tham gia chính sự. Năm 298 TCN, Triệu chủ phụ giả làm sứ giả đến để dò xét nước Tần, Tần Chiêu vương triệu sứ giả đến. Trong buổi khoản đãi, ông thấy sứ giả không phải người tầm thường, sau khi bày xong yến sai người đến điều tra, thì Triệu Vũ Linh vương đã qua cửa Hàm Cốc về nước rồi[9]. Như vậy, cùng một năm 298 TCN, Tần Chiêu Tương vương đã để chạy thoát hai cả Mạnh Thường quân và Triệu chủ phụ.

Lừa bắt vua Sở[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 304 TCN, Sở Hoài vương muốn kết thân với Tần, Chiêu Tương vương bèn đến hội cùng vua Sở ở Hoàng Cúc. Sở Hoài vương dâng đất Tương Thượng cho Tần, ngược lại Tần Chiêu Tương vương trả lại huyện Thượng Dung cho nước Sở.

Năm 303 TCN, Tần-Sở lại bất hòa. Chiêu Tương vương sai Trương Hoán đánh Sở, năm sau chiếm được Tân Thành.

Năm 302 TCN, liên quân ba nước Tề-Hàn-Ngụy hợp sức tấn công Sở. Sở Hoài vương cử thái tử sang nước Tần cầu cứu. Tần Chiêu Tương vương sai Khách khanh là Thông giúp Sở. Quân ba nước rút lui[10].

Năm 300 TCN, Tần liên quân với Tề-Hàn-Ngụy cùng đánh Sở, giết tướng Sở là Đường Muội, tiến đến Trọng Khâu rồi rút binh.

Năm 299 TCN, Tần Chiêu Tương vương lại đánh Sở, giết hai vạn quân nước Sở. Sở Hoài vương hoảng sợ, sai thái tử Hoành sai Tề xin giúp.

Năm 299 TCN, ông đánh nước Sở, lấy 8 thành, buộc Sở Hoài vương sang Tần triều kiến. Khi vua Sở tới, Tần Chiêu Tương vương sai một tướng đến Vũ Quan, trá xưng là vua Tần[10], rồi bắt Hoài vương đưa đến Hàm Dương (kinh đô của Tần). Đến nơi, Tần Chiêu Tương vương bắt vua Sở phải dùng lễ phiên thần với ông ta nhưng Hoài vương không chịu. Tần Chiêu Tương vương lại ép Sở Hoài vương phải cắt đất Vu và Kiềm Trung[11] mới cho về nước. Sở Hoài vương trách ông là đứa xảo trá, không chịu cắt, ông bèn giam vua Sở.

Năm 297 TCN, Sở Hoài vương lập kế để về nước, Chiêu Tương vương bèn sai phong tỏa đường biên giới Tần-Sở để ngăn cản. Sở Hoài vương đành phải đi sang Triệu để tìm đường về khác, nhưng vua Triệu không dám cho ở lại, Hoài vương bèn trốn sang Ngụy nhưng sau đó bị quân Tần bắt lại, đưa về Tần[10].

Năm 296 TCN, Sở Hoài vương bệnh mất ở Tần, vua Tần cho trả thi thể về nước an táng. Người nước Sở nghe tin, khóc thương như mất người thân thích.[10]

Giao tranh với Hàn, Ngụy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 303 TCN, Tần Chiêu Tương vương đánh Ngụy, chiếm đất Bồ Bản. Năm 302 TCN, Ngụy Tương vương sợ hãi phải đến Ứng Đình triều kiến Tần Chiêu Tương vương, ông mới trả đất Bồ Bản cho Ngụy.

Năm 298 TCN, hai nước NgụyHàn hợp tung với Tề đánh Tần. Dưới sự chỉ huy của Mạnh Thường quân, quân 3 nước cùng tiến đến Hàm Cốc quan, thu được thắng lợi, giết được tướng Cảnh Khoái, chiếm 8 thành.

Năm 297 TCN, quân 3 nước lại đánh bại quân Tần lần thứ 2. Đến năm 296 TCN, Mạnh Thường quân lại chỉ huy liên quân đánh tới Hàm Cốc quan lần thứ hai, chiếm được thành Diêm Thị. Tần Chiêu Tương vương phải cầu hòa, trả lại đất Phong Lăng[12] cho nước Ngụy và đất Vũ Toại cho nước Hàn[13].

Năm 295 TCN, Tần chiếm Tương Thành của nước Ngụy, Tần Chiêu Tương vương sau đó cử Hướng Thọ đánh Hàn, chiếm Vũ Thủy. Năm 294 TCN, tướng Bạch Khởi đánh thắng quân nước Hàn. Ngụy Chiêu vương bèn liên minh với Hàn Ly vương cùng chống Tần, nhưng không tấn công mà chỉ đào lũy phòng thủ.

Năm 293 TCN, Bạch Khởi sử dụng kế ly gián làm Hàn quyết định bỏ mặc Ngụy, thu quân về bảo toàn lực lương cho mình. Chiến sự kéo dài sang năm sau, quân Ngụy gặp bất lợi. Năm 293 TCN, Tần Chiêu Tương vương sai Bạch Khởi cầm quân chống lại liên quân Hàn-Ngụy ở Y Khuyết. Liên quân Ngụy-Hàn bị Bạch Khởi đánh cho đại bại, bị chém 24 vạn quân, tướng Công tôn Hỷ bị bắt sống, 5 thành bị san phẳng. Nước Ngụy bị mất 400 dặm đất Hà Đông về tay Tần.

Năm sau, 292 TCN, Bạch Khởi lại đánh thắng quân Ngụy, chiếm Viên Thành của Ngụy rồi trả lại. Năm 287 TCN, Tần lại chiếm Tân Viên và Khúc Dương của nước Ngụy.

Năm 275 TCN, Nhương hầu Ngụy Nhiễm đem quân đánh nước Hàn, quân Hàn thất bại, 4 vạn quân bị giết, tướng Bạo Diên sang đầu hàng nước Ngụy, Ngụy xin cắt 8 thành cầu hoà. Nhương hầu không nghe, đem quân chiếm Bắc Trạch, bao vây Đại Lương, Ngụy phải dâng đất xin hàng.

Năm 274 TCN, thấy nước Tần lớn mạnh, Ngụy An Ly vương cùng Tề Tương vương hợp tung chống Tần. Tần Chiêu vương sai Nhương hầu đánh Ngụy chiếm 4 thành, bốn vạn quân Ngụy bị giết.

Năm 273 TCN, hai nước NgụyTriệu hợp binh đánh Hàn, vây Hoa Dương. Nhương hầu cùng Vũ An quân Bạch Khởi, Khách khanh Hồ Dương đánh Ngụy cứu Hàn, đánh bại Ngụy ở thành Hoa Dương (nay là Trịnh Châu, Hà Nam), giết 13 vạn quân Ngụy, đại thần Đoạn Cán xin Ngụy An Ly vương cắt đất cầu hoà, Tô Đại lại ngăn cản nhưng vua Ngụy không nghe.

Cùng năm đó, Bạch Khởi lại đánh Ngụy, Mạnh Thường quân tiến cử Mang Mão làm tướng chống Tần, bị Bạch Khởi đánh bại, Hoa Dương bị chiếm, Mang Mão bỏ chạy, Mạnh Thường quân hoảng sợ, vội vào dưới trướng Tín Lăng quân để chạy tội.

Định ước đông tây cùng xưng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 288 TCN sai sứ sang đề nghị TầnTề cùng xưng đế. Hai bên giao ước vua Tần xưng làm Tây Đế, vua Tề xưng làm Đông Đế, và cùng mang quân tấn công nước Triệu nằm ở giữa.

Biện sĩ Tô Tần muốn làm yếu nước Tề, bèn ngăn cản hai nước xưng đế[14]. Năm 288 TCN, Tô Tần sang nước Tề, chỉ ra cho vua Tề thấy rằng nếu cùng xưng đế với Tần thì các nước chỉ tôn trọng Tần mà không tôn trọng Tề, nếu bỏ đế hiệu thì các nước sẽ cảm tình với Tề mà ghét Tần, vì vậy vua Tề quyết định bỏ đế hiệu. Sau khi Tề Mẫn vương bỏ đế hiệu, vua Tần cũng buộc phải bỏ đế hiệu vào tháng 12 năm 288 TCN[15].

Năm 286 TCN, ba nước Tề, SởNgụy cùng đánh Tống. Tần Chiêu vương nghe tin đó định đưa quân sang giúp Tống vì Tống có quan hệ tốt với Tần, nhưng biện sĩ Tô Đại rằng vua Tống cũng có tiếng bạo ngược và Tống thua thì Tề sẽ lấy hết đất, Sở và Ngụy phải sợ Tề và thân Tần[16].

Năm 284 TCN, Tần Chiêu Tương vương liên minh với các nước Yên, Hàn, Ngụy, Triệu đánh Tề, đánh bại quân Tề ở Tế Tây.

Đoạt được Dĩnh đô[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 279 TCN, Tần Chiêu Tương vương sai Bạch Khởi đem quân đánh Sở, đánh bại quân Sở, chiếm đất Yên (nay là Yên Lăng, tỉnh Hà Nam) và đất Lăng.

Năm 278 TCN, ông lại phong cho Bạch Khởi là Vũ An quân, sai đi đánh Sở. Bạch Khởi đã dễ dàng lấy được Dĩnh Đô, vua Sở phải chạy về Thọ Xuân. Bạch Khởi lại đốt cháy khu lăng mộ các vua Sở từ thời Xuân Thu. Đất ấy sau này chỉ còn phế tích sót lại của các lăng mộ vua Sở nên đổi gọi là Di Lăng.

Bãi Tứ quý, dùng Phạm Thư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 271 TCN, Ngụy Nhiễm đem quân đánh nước Tề, chiếm đất Cương Thọ. Cùng lúc, người nước NgụyPhạm Thư bị tướng Ngụy Tề nghi ngờ phải giả chết, đổi tên là Trương Lộc để trốn sang Tần, yết kiến Tần Chiêu Tương vương. Bấy giờ tuy ông ở ngôi đã lâu nhưng Tuyên thái hậu cùng bọn Tứ quý vẫn hay can dự triều chính. Phạm Thư khuyên nhà vua thu hồi lại quyền lực để tránh hậu hoạn. Tần Chiêu Tương vương bèn phế quyền lực của thái hậu, bãi chức của Ngụy Nhiễm, bắt phải lui về ấp phong, và đày Cao Lăng quân và Kinh Dương quân ra nơi biên cương [17]. Sau đó ông phong Phạm Thư làm Thừa tướng.

Phạm Thư đề ra kế sách viễn giao cận công, trước tiên đánh Hàn, Ngụy và thân Tề. Tần Chiêu Tương vương nghe theo.

Theo ý kiến của Phạm Thư, ông sai ngũ đại phu đem quân đánh Ngụy, chiếm ấp Hoài, hai năm sau lại chiếm Hình Khâu.

Năm 265 TCN, Phạm Thư mới công khai thân phận. Tần Chiêu Tương vương bèn hứa giúp ông ta báo thù Ngụy Tề.

Ngụy Tề biết Phạm Thư đã làm Thừa tướng lại muốn bắt mình, vội bỏ chạy sang nước Triệu nương nhờ Bình Nguyên quân. Vua Tần nghe tin Ngụy Tềnước Triệu, bèn viết thư mời Bình Nguyên quân đến nước mình chơi. Bình Nguyên quân đích thân đến nước Tần, bị ông uy hiếp nộp Ngụy Tề nhưng nhất định không nghe. Tần Chiêu Tương vương bèn đích thân viết thư cho vua Triệu, dọa bắt giam Bình Nguyên quân nếu Triệu không nộp Ngụy Tề. Tướng quốc Ngu Khanh khuyên vua Ngụy không được bèn cùng Ngụy Tề trốn sang nước Ngụy gặp Tín Lăng quân nhưng vừa sang đến nơi thì Ngụy Tề đã tự tử. Tín Lăng quân nghe lời sứ giả nước Triệu nộp đầu Ngụy Tề cho nước Tần để chuộc Bình Nguyên quân về nước. Tần Chiêu Tương vương bèn trả Bình Nguyên quân về nước.

Năm 263 TCN, Sở Khoảnh Tương vương ốm nặng, sai Hoàng Yết đến Tần rước thái tử Hùng Nguyên đang làm con tin ở Tần về. Hoàng Yết sợ Tần sẽ giữ Hùng Nguyên không cho về nên bày cách cho Hùng Nguyên trốn thoát. Tần Chiêu Tương vương phát hiện định giết Hoàng Yết nhưng sau đó nghe theo lời Phạm Thư, thả ông ta về để muốn lấy lòng nước Sở.[10][18]

Đánh bại quân Triệu ở Trường Bình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 283 TCN, Tần Chiêu Tương vương thấy nước Triệungọc bích họ Hòa, muốn dùng 15 thành trao đổi. Vua Triệu sai Lạn Tương Như đi sứ. Tương Như dùng mưu khiến vua Tần trao 15 thành cho Triệu mà vẫn không đem ngọc bích đổi. Năm 279 TCN, ông mời vua Triệu đến hội ở Dẫn Trì. Tần Chiêu Tương vương muốn hạ nhục nước Triệu, nhưng vua Triệu có Lạn Tương Như đi theo phò tá nên ông không làm gì được.

Năm 262 TCN, Tần Chiêu Tương vương sai Vương Hột đánh Hàn, sắp lấy được Thượng Đảng. Quan trấn thủ Thượng Đảng là Phùng Đình bị vây ngặt, liệu thế không thể giữ được, bèn xin mang Thượng Đảng về Triệu. Triệu Hiếu Thành vương bằng lòng, sai Bình Nguyên quân đến nhận đất, nhưng lại không cử đại binh đi cứu Thượng Đảng. Tướng Tần là Vương Hạt vây đánh Thượng Đảng, mãi tới khi vua Triệu cử danh tướng Liêm Pha đi cứu thì Vương Hạt đã đánh vỡ Thượng Đảng. Phùng Đình mang dân chạy sang nương nhờ nước Triệu.

Vương HạtLiêm Pha gặp nhau ở Thượng Đảng. Vương Hạt không đánh nổi ải Trường Bình liền xin viện binh. Tần Chiêu Tương vương quyết định cử Bạch Khởi ra mặt trận, lại phao rằng quân Tần chỉ sợ tướng Triệu Quát chứ không sợ Liêm Pha. Triệu Hiếu Thành vương thấy bèn sai tướng trẻ Triệu Quát ra mặt trận. Triệu Quát khinh thường quân Tần, bị thua trận và bị vây ngặt.

Tần Chiêu Tương vương nghe tin quân Tần đã bao vây được quân Triệu, hết sức vui mừng, bèn đích thân đến Hà Nội[19], ra lệnh động viên tất cả đàn ông và con trai từ 15 tuổi trở lên phải ra trận, điều động tới những nơi hiểm yếu phía đông bắc Trường Bình, cắt đứt đường vận lương và chặn luôn viện binh của quân Triệu từ Hàm Đan tới.

Năm 260 TCN, quân Triệu bị vây ngặt, Triệu Quát phải ra đánh và bị tử trận. 40 vạn quân Triệu đại bại, đầu hàng, bị Bạch Khởi chôn sống hết.

Năm 257 TCN, Tần Chiêu Tương vương nhân Triệu vừa thua ở Trường Bình, lại sai Vương Lăng đánh Triệu, tướng quốc nước TriệuBình Nguyên quân phải cầu cứu Ngụy. Ngụy An Ly vương có ý chần chừ. Tín Lăng quân bèn giết tướng Tấn Bỉ, đoạt binh phù rồi đem 8 vạn quân cứu Triệu. Vương Lăng thấy hai cánh quân cứu viện lâu ngày không dám tiến, nghĩ rằng quân chư hầu nhát, không ngờ quân Nguỵ ồ ạt kéo đến. Nguỵ Vô Kỵ dẫn quân kịch chiến với quân Tần. Quân Tần thua trận, phải giải vây rút lui.[20]

Giết Bạch Khởi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 259 TCN, nhân nước Triệu bị tổn thất nặng nề trong trận Trường Bình, Bạch Khởi chia quân làm ba hướng, một cánh đi về hướng đông áp sát kinh đô Hàm Đan, một cánh tiến về phía bắc để bình định Thái Nguyên, một cánh do Bạch Khởi đích thân chỉ huy, đóng giữ Thượng Đảng, chờ thời cơ tiến vây kinh thành Hàm Đan, tạo ra thế uy hiếp nước Triệu từ hướng Tây sang hướng Đông để tiêu diệt nước Triệu.

Tuy nhiên Phạm Thư vốn ghen tài Bạch Khởi, nước Triệu lại nhờ Tô Đại (em Tô Tần) làm thuyết khách sang nước Tần xúi giục Phạm Thư. Nghe lời Tô Đại, Thư sợ công lao của Bạch Khởi quá lớn sẽ lấn át mình, nên lại xui vua Tần Chiêu Tương vương chấp nhận lui quân giảng hòa với điều kiện nước Triệu dâng hiến sáu thành. Bạch Khởi nhận lệnh lui quân về nước, tiếc công lao của mình và tướng sĩ phải bỏ dở, hỏi ra mới biết là ý đồ của thừa tướng Phạm Thư. Từ đó sinh ra hiềm khích. Bạch Khởi nói:

"Từ trận thua ở Trường Bình, trong thành Hàm Đan, một đêm mười lần sợ; nêu thừa thắng tiến đánh, thì không đầy một tháng có thể lấy được. Tiếc thay Ứng hầu không biết thời thế, chủ trương việc rút quân về, làm mất cơ hội ấy!"

Tần Chiêu Tương vương có ý hối tiếc, lại dùng Bạch Khởi làm tướng, muốn sai đánh Triệu, nhưng gặp lúc ông có bệnh không đi được, bèn sai đại tướng Vương Lăng đem mười vạn quân đánh Triệu, vây thành Hàm Đan, nhưng bị Liêm Pha đánh bại.

Bấy giờ Vũ An quân Bạch Khởi bệnh đã khỏi, vua Tần sai ra thay Vương Lăng. Bạch Khởi cố ý từ chối, Chiêu Tương vươnh ép nài mãi, nhưng không được, lại sai Phạm Thư đến khuyên bảo, Bạch Khởi xưng bệnh không tiếp. Phạm Thư bèn gièm với vua Tần rằng ông muốn chống lệnh không đi. Chiêu Tương lại sai Vương Hột thay Vương Lăng đi đánh nhưng suốt mấy tháng cũng không hạ nổi Hàm Đan.

Phạm Thư lại tâu thế nào cũng phải cử Vũ An quân làm tướng. Bạch Khởi lại thoái thác. Tần Chiêu Tương vương giận dữ, sai thu hết chức tước và phong ấp, giáng xuống làm lính, đày ra Âm Mật, sau lại bức tử.

Năm 257 TCN, Tần bao vây kinh đô Hàm Đan của Triệu nhưng Tín Lăng quân đem quân cứu Triệu, đẩy lui quân Tần.

Diệt nhà Chu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 270 TCN, Chu Noản vương sang nước Tần triều kiến Tần Chiêu Tương vương.

Năm 257 TCN, các nước Hàn, TriệuNgụy liên hợp chống Tần. Chu Noản vương sai tướng quốc đi sứ nước Tần nhưng bị Tần Chiêu Tương vương khinh miệt phải bỏ về.

Năm 256 TCN, nước Tần đánh chiếm Dương Thành và Phụ Thư của nước Hàn, áp sát biên cương nhà Chu. Chu Noản vương lo lắng, bèn ước hợp tung với chư hầu chống Tần, dẫn quân ra cửa Y Khuyết ngăn trở khiến quân Tần không thể thông đường đến Dương Thành được. Tần Chiêu Tương vương nổi giận, bèn sai tướng quân Cưu đi đánh Tây Chu. Chu Noản vương không chống nổi, bị quân Tần bắt về nước Tần. Toàn bộ 36 ấp và 3 vạn dân của Tây Chu thuộc về nước Tần. Tần Chiêu Tương vương chiếm lấy chín đỉnh của nhà Chu, đày Tây Chu Văn công ra đất Đãn Hồ rồi tha cho Chu Noản vương trở về đất Chu, nhưng không lâu sau thì Noãn vương qua đời. Thế là nhà Chu bị diệt.[21][22]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 267 TCN, con trưởng của Chiêu Tương vương là Điệu thái tử mất. Năm 265 TCN, ông phong cho người con thứ hai với bà Đường hậu là Doanh Trụ làm thái tử An Quốc quân.

Năm 251 TCN, Chiêu Tương vương mất, thọ 74 tuổi. Ông ở ngôi 56 năm. Thi hài ông chôn ở Chỉ Lăng. An Quốc quân Doanh Trụ nối ngôi tức Tần Hiếu Văn vương. Thời của ông, nước Tần đã vươn lên thành nước hùng mạnh nhất trong thất hùng, và là cơ sở cho việc thống nhất Trung Quốc sau này.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên, các thiên:
    • Tần bản kỉ
    • Chu bản kỉ
    • Điền Kính Trọng Hoàn thế gia
    • Sở thế gia
    • Ngụy thế gia
    • Triệu thế gia
  • Phương Thi Danh (2001), Niên biểu lịch sử Trung Quốc, NXB Thế giới
  • Cát Kiếm Hùng chủ biên (2006), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 1, NXB Văn hoá thông tin
  • Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, NXB Đà Nẵng
  • Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Hoa, NXB Giáo dục

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Sử ký, Tần bản kỷ
  2. ^ Phương Thi Danh, sách đã dẫn, tr 44
  3. ^ a ă â Sử kí, Tần bản kỉ
  4. ^ Phương Thi Danh, sách đã dẫn
  5. ^ Sử kí, Nhương hầu liệt truyện
  6. ^ a ă â Sử kí, Sư Lý tử Cam Mậu liệt truyện
  7. ^ Sử kí chép Mạnh Thường Quân đến năm 25 Tề Mẫn vương, Tư trị thông giám chép năm 3 Tề Mẫn vương
  8. ^ Sử kí, Mạnh Thường Quân liệt truyện
  9. ^ Sử kí, Triệu thế gia
  10. ^ a ă â b c Sử kí, Sở thế gia
  11. ^ nay thuộc miền đất nằm giữa đông Tứ Xuyên, tây Hồ Bắc, tây Hồ Nam và một phần bắc bộ của tỉnh Quý Châu
  12. ^ Phía tây nam Lâm Phần, Sơn Tây, Trung Quốc
  13. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr 64
  14. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 71
  15. ^ Cát Kiếm Hùng, sách đã dẫn, tr 72
  16. ^ Sử kí, Điền Kính Trọng Hoàn thế gia
  17. ^ Sử kí, Phạm Thư, Thái Trạch liệt truyện
  18. ^ Sử kí, Xuân Thân Quân liệt truyện
  19. ^ Nay thuộc huyện Tất Dương, Hà Nam
  20. ^ Sử kí, Ngụy công tử liệt truyện
  21. ^ Phương Thi Danh, sách đã dẫn, tr 42
  22. ^ Nguyễn Khắc Thuần, sách đã dẫn, tr 23
Tần Chiêu Tương vương
Mất: 252 TCN
Tước hiệu
Tiền vị:
Tần Vũ vương
Vua nước Tần
306 TCN252 TCN
Kế vị
Tần Hiếu Văn vương