Kinh Thư

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Kinh Thư (書經 Shū Jīng): là một bộ phận trong bộ sách Ngũ Kinh của Trung Quốc, ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh Thư bao gồm Ngu thư (ghi chép về đời Nghiêu Thuấn), Hạ thư (ghi chép về nhà Hạ), Thương thư (ghi chép về nhà Thương) và Chu thư (ghi chép về nhà Chu).

Ngu thư gồm các thiên:

Hạ thư gồm các thiên:

  • Vũ Cống
  • Cam Thệ
  • Ngũ Tử chi ca
  • Dận Chinh

Thương thư gồm các thiên:

Chu thư gồm các thiên:

  • Thái Thệ thượng
  • Thái Thệ trung
  • Thái Thệ hạ
  • Mục Thệ
  • Vũ Thành
  • Hồng Phạm
  • Lữ Ngao
  • Kim Đằng
  • Đại Cáo
  • Vi Tử chi mệnh
  • Khang Cáo
  • Tửu Cáo
  • Tử Tài
  • Triệu Cáo
  • Lạc Cáo
  • Đa Sĩ
  • Vô Dật
  • Quân Thích
  • Thái Trọng chi mệnh
  • Đa Phương
  • Lập Chính
  • Chu Quan
  • Quân Trần
  • Cố Mệnh
  • Khang Vương chi cáo
  • Tất Mệnh
  • Quân Nha
  • Quynh Mệnh
  • Lữ Hình
  • Văn Hầu chi mệnh
  • Phí Thệ
  • Tần Thệ

Khái niệm chủ yếu[sửa | sửa mã nguồn]

  1. "Vương đạo lạc thổ" (Đường vua, đất vui) - Kinh Thư, chương Hồng Phạm (洪範) viết: Vô hữu tác hảo, tuân vương chi đạo (無有作好、遵王之道), nghĩa là "Yêu chớ theo cách thiên vị, hãy theo đạo Vương".
  2. "Quy mã phóng ngưu" (Trả ngựa, thả bò) - Trong Kinh Thư, chương Vũ Thành (武成), sau khi Vũ Vương (nhà Chu) đã trả thù đối Trụ Vương (nhà Thương), có viết: Quy mã ư Hoa Sơn chi dương, phóng ngưu ư Đào Lâm chi dã (歸馬于華山之陽、放牛于桃林之野), nghĩa là "Trả ngựa ở hướng nam của núi Hoa Sơn và thả con bò ở đồng của rừng Đào Lâm", tức là chiến tranh đã được kết thúc rồi.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]