Hạ Kiệt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hạ Kiệt
夏桀
Vua của Trung Hoa (chi tiết...)
Xiajie.png
Hình ảnh vua Kiệt mang cây kích trên vai, đại diện cho sự tàn ác và ngồi trên hai người phụ nữ, tượng trưng cho sự lạm dụng quyền lực của Ông. Tranh in tường trên một đền thờ của gia đình họ Võ ở Sơn Đông, năm 150.
Vua nhà Hạ
Trị vì 1818 TCN – 1767 TCN
Tiền nhiệm Hạ Phát
Kế nhiệm Không có: Triều đại Hạ sụp đổ
Thông tin chung
Vương phi
Tên thật Lý Quý (履癸)
Triều đại Nhà Hạ
Thân phụ Hạ Phát
Mất 1764 TCN
Núi Đình Sơn

Vua Kiệt (chữ Hán: 桀; bính âm: jié; bính âm trung cổ: gjet; trị vì: 1818 TCN1767 TCN[1]) hay Hạ Kiệt (夏桀) là vị vua thứ 17 và cuối cùng nhà Hạ trong lịch sử Trung Quốc. Ông được truyền thống coi như một bạo chúa và kẻ áp bức, người mang lại sự sụp đổ của một triều đại [2]. Khoảng thế kỉ 16 TCN Kiệt bị đánh bại bởi Thành Thang, dẫn đến chấm dứt của nhà Hạ, kéo dài khoảng 500 năm, và sự ra đời của nhà Thương [3].

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Hạ Kiệt là con của Hạ Phát, vốn có tên là Lý Quý (履癸). Vì Lý Quý là người tàn ác nên bị gọi là Kiệt, nghĩa là kẻ độc ác ưa giết chóc.

Mất nhân tâm[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Quý được sử sách ghi lại là ông vua hoang dâm và tàn bạo, thích gây việc chiến tranh.

Lý Quý mang quân đi đánh nước Hữu Thi, nước Hữu Thi không chống nổi bèn dâng mỹ nữ là nàng Muội Hỷ và xin Lý Quý lui quân. Lý Quý được nàng Muội Hỷ bèn tha cho nước Hữu Thi.

Lý Quý sủng ái nàng Muội Hỷ, tăng cường bóc lột nhân dân để hưởng lạc. Sự tàn bạo của ông khiến nhiều bộ tộc nổi dậy chống lại. Nhân dân oán ghét ông nên nguyền rủa rằng:

Ông là mặt trời, bao giờ ông mới lặn xuống núi? Bọn ta nguyện lặn theo ông![4]

Thấy nước Thương của Thành Thang giàu mạnh, Lý Quý sợ Thương chống lại nên lệnh triệu Thương Thang đến kinh đô rồi bắt và giam cầm ở Hạ Đài[5]. Sau một thời gian, Kiệt tha cho Thương Thang, thả về bộ tộc. Thương Thang quyết tâm phát triển lực lượng để lật đổ sự cai trị của Hạ Kiệt.

Mất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Trúc thư kỉ niên của nước Ngụy thời Chiến Quốc bổ sung thêm thông tin về sự diệt vong của nhà Hạ: Lý Quý vẫn tiếp tục việc chinh phạt, mang quân đi đánh đất Manh Sơn. Manh Sơn bèn theo nước Hữu Thi, dâng 2 người con gái đẹp là Uyển và Viêm để xin Hạ lui quân. Lý Quý cũng bằng lòng lui quân về và rất sủng ái hai người con gái đất Manh Sơn, lạnh nhạt với nàng Muội Hỷ[6].

Trong khi đó Thành Thang nước Thương ngày càng lớn mạnh. Thương Thang sai Y Doãn đến kinh đô nhà Hạ trá hàng. Muội Hỷ bị Lý Quý lạnh nhạt đâm ra oán vọng. Y Doãn đã lợi dụng sự oán vọng của Muội Hỷ đã liên hệ với nàng để nắm được nhiều tin tức về nội tình triều đình nhà Hạ. Sau khi nắm được nội tình nhà Hạ, Y Doãn trở về với Thành Thang[6].

Trong khi Lý Quý say đắm tửu sắc thì Thương Thang tìm cách liên minh với các bộ tộc để tạo vây cánh và mang quân đánh diệt các nước chư hầu thân với Hạ như Cát, Bình Chướng Vi[7], Côn Ngô[8].

Theo kế sách của Y Doãn, Thương Thang khiêu chiến với nhà Hạ, bỏ không nộp cống cho Hạ Kiệt. Lý Quý nổi giận điều động binh mã 9 bộ tộc phía đông trước sau đánh vào bộ lạc Thương. Thang sai người đến nộp cống. Thấy Thang thuần phục, ông lại bằng lòng cho lui quân.

Thang tranh thủ thời gian tìm cách liên minh và chia rẽ 9 bộ tộc giúp quân cho Hạ Kiệt. Sang năm sau, Thang lại bỏ cống nạp. Lý Quý lại tổ chức hội các bộ lạc phụ thuộc ở Hữu Nhung[9] đánh Thương, nhưng lần này các bộ lạc không nghe theo. Bộ lạc Hữu Mân phản đối việc đánh Thương của Lý Quý. Ông nổi giận bèn mang quân đánh Hữu Mân trước. Nhân dân phải phục dịch cho cuộc chiến nặng nề càng oán hận ông hơn.

Thấy ông bị sa lầy vào cuộc chiến với tộc Mân, Thang quyết định ra quân diệt Hạ. Năm 1767 TCN, Thương Thang đánh thắng Lý Quý trong trận quyết định ở Minh Điều (鸣条)[10]. Hạ Kiệt thua trận, bị mất ngôi và bị đày ra Nam Sào (南巢)[11]. Ông nói với thủ hạ:

Ta hối hận không giết Thang ở Hạ Đài nên mới ra nông nỗi này

Nhà Hạ mất. Hạ Kiệt ở ngôi 52 năm, bị đày ra Nam Sào 3 năm thì qua đời tại núi Đình Sơn năm 1764 TCN[1], không rõ bao nhiêu tuổi. Thành Thang lập ra nhà Thương.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sử ký Tư Mã Thiên - Những điều chưa biết, Bùi Hạnh Cẩn và Việt Anh dịch (2007), NXB Văn hóa thông tin, các thiên:
    • Ân bản kỷ
    • Hạ bản kỷ
  • Chu Mục, Trần Thâm chủ biên (2003), 365 truyện cổ sử chọn lọc Trung Quốc, tập 1, NXB Thanh niên
  • Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành (1998), Cố sự Quỳnh Lâm, NXB Thanh Hoá
  • Tiêu Lê (2000), Những ông vua nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, NXB Đà Nẵng
  • Kỳ Ngạn Thần (2007), Người Trung Quốc và những hiểu lầm về lịch sử, NXB Công an nhân dân

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Trình Doãn Thắng, Ngô Trâu Cương, Thái Thành, sách đã dẫn, tr 16
  2. ^ 劉煒/著. [2002] (2002) Chinese civilization in a new light 中華文明傳真#1 原始社會:東方的曙光. Publishing Company. ISBN 9620753143. pg 150.
  3. ^ 王恆偉. (2005) (2006) 中國歷史講堂 #1 遠古至春秋. 中華書局. ISBN 962-8885-24-3. p 26.
  4. ^ Tiêu Lê, sách đã dẫn, tr 12
  5. ^ Huyện Vũ, Hà Nam, Trung Quốc
  6. ^ a ă Kỳ Ngạn Thần, sách đã dẫn, tr 51
  7. ^ Huyện Hoạt, phía đông Hà Nam, Trung Quốc
  8. ^ Phía đông huyện Hoạt, Hà Nam, Trung Quốc
  9. ^ Vùng Tế Ninh, Sơn Đông hiện nay
  10. ^ Miền đông Phong Khâu, Hà Nam, Trung Quốc
  11. ^ Miền đông nam huyện Thọ, An Huy hiện nay