Nam Hán Cao Tổ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nam Hán Cao Tổ (南汉高祖)
Hoàng đế Nam Hán (chi tiết...)
Hoàng đế Nam Hán
Trị vì 5/9/917[1][2]-10/6/942
Tiền nhiệm Không (sáng lập triều đại)
Kế nhiệm Thương đế Lưu Phần
Thông tin chung
Thê thiếp Mã hoàng hậu
Triệu chiêu nghi, sau là hoàng thái phi
Hậu duệ Xem văn bản
Tước hiệu Hoàng đế
Niên hiệu Càn Hanh (乾亨) 917-925
Bạch Long (白龍) 925-928
Đại Hữu (大有) 928-941
Thụy hiệu Thiên Hoàng Đại đế (天皇大帝)
Miếu hiệu Cao Tổ (高祖)
Triều đại Nam Hán
Thân phụ Lưu Khiêm
Thân mẫu Đoàn thị
Sinh 889[3]
Mất 10 tháng 6 năm 942[1][4]
Trung Quốc
An táng Khang lăng

Lưu Nghiễm (Trung văn giản thể: 刘龑; Trung văn phồn thể: 劉龑; bính âm: Líu Yán; 889[3]–10 tháng 6 năm 942[1][4]), nguyên danh Lưu Nham (劉巖), cũng mang tên Lưu Trắc (劉陟) (từ ~896 đến 911) và trong một thời gian là Lưu Cung (劉龔), là hoàng đế đầu tiên của nước Nam Hán thời Ngũ Đại Thập Quốc.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Nham sinh năm 889, dưới triều đại của Đường Chiêu Tông.[3] Phụ thân ông là Lưu Tri Khiêm (hay Lưu Khiêm) khi đó đang giữ chức Phong châu[chú 1] thứ sử và kết hôn với người cháu gái gọi bằng chú của Vi Trụ (韋宙)- từng là tể tướng triều Đường, Lĩnh Nam Đông đạo[chú 2] tiết độ sứ. Tuy nhiên, Lưu Khiêm cũng bí mật có một người thiếp ở bên ngoài là Đoàn thị, Lưu Nham là con trai của Đoàn thị. Khi Vi thị phát hiện ra sự việc, bà sát hại Đoàn thị, song không giết Lưu Nghiễm mà đem về nhà nuôi dưỡng như con đẻ- Lưu Ẩn và Lưu Đài (劉台).[5][6]

Khi Lưu Nghiễm lớn lên, ông cao lớn, có tài cưỡi ngựa và bắn cung.[5] Sau khi Lưu Ẩn trở thành Hữu đô áp nha trong quân đội của quân (lúc này cải danh thành Thanh Hải) dưới quyền tiết độ sứ Lý Tri Nhu vào năm 896,[7] Lưu Nghiễm cũng phụng sự cho Lý Tri Nhu, và cải danh từ Lưu Nham sang Lưu Trắc.[5]

Phụng sự Lưu Ẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 901, người kế vị Lý Tri Nhu là Từ Ngạn Nhược qua đời, di biểu cho Đường Chiêu Tông để tiến cử Lưu Ẩn làm lưu hậu, Lưu Ẩn sau được nhận chức vụ này.[8] Lưu Trắc tiếp tục phục vụ dưới quyền anh trai. Năm 902, Kiền châu[chú 3] thứ sử Lô Quang Trù (盧光稠) tiến công Thanh Hải, chiếm Thiều châu[chú 4] và giao châu này lại cho con trai là Lô Diên Xương, sau đó bao vây Triều châu[chú 5]. Lưu Ẩn đem quân đẩy lui Lô Quang Trù khỏi Triều châu, sau đó chuẩn bị tiến công Thiều châu. Lưu Trắc cho rằng quân của Lô Diên Xương có viện binh từ Kiền châu, nên quân Thanh Hải không thể thành công nếu tiến công trực tiếp. Lưu Ẩn nghe theo, cho bao vây Thiều châu để khiến sức mạnh phòng thủ của Lô Diên Xương suy yếu. Tuy nhiên, chiến lược này lại phản tác dụng do mức nước sông dâng cao, quân Thanh Hải bị gián đoạn nguồn cung lương thảo. Sau đó, Lô Quang Trù đem binh từ Kiền châu đến cứu viện, đẩy lui Lưu Ẩn khỏi Thiều châu.[9]

Năm 904, Đường Ai Đế bổ nhiệm Lưu Ẩn làm Thanh Hải tiết độ sứ.[10] Lưu Trắc trở thành tiết độ phó sứ. Theo ghi chép, ngoài xung đột với Lô Quang Trù, quanh lãnh địa của Lưu Ẩn còn có các quân phiệt khác: Khúc Hạo ở Giao châu[chú 6]; Lưu Sĩ Chính (劉士政) ở Quế châu[chú 7]; Diệp Quảng Lược (葉廣略) ở Ung châu[chú 8]; Bàng Cự Chiêu (龐巨昭) ở Dung châu [chú 9]; Lưu Xương Lỗ (劉昌魯) tại Cao châu[chú 10]; và Lưu Tiềm (劉潜) tại Tân châu[chú 11]. Thêm vào đó, ở phía đông Châu Giang, có khoảng 70 trại lớn nhỏ không công nhận quyền uy của Lưu Ẩn. Sau khi Lưu Ẩn giao phó quân sự lại cho Lưu Trắc, Lưu Trắc dần dần trục xuất hoặc buộc các quân phiệt phải quy phục, trở thành danh tướng ở Lĩnh Nam.[5]

Một trong số các chiến dịch diễn ra vào khoảng năm 910 (khi đó Lưu Ẩn là một chư hầu của triều Hậu Lương), Lưu Trắc tiến công Lưu Xương Lỗ ở Cao châu. Lưu Xương Lỗ đẩy lui cuộc tiến công của Lưu Trắc, song lại suy tính rằng sẽ không thể chống lại huynh đệ họ Lưu trong một thời gian dài, do vậy, Lưu Xương Lỗ cùng với Bàng Cự Chiêu quyết định quy phục Sở vương Mã Ân. Mã Ân khiển quân đến hộ tống Lưu Xương Lỗ và Bàng Cự Chiêu đến Sở, khiển tướng Diêu Ngạn Chương (姚彥章) đóng quân tại Dung châu.[11]

Năm 911, Lưu Ẩn lâm bệnh nặng, ông ta dâng biểu cho triều đình Hậu Lương để tiến cử Lưu Trắc làm lưu hậu, sau đó liền qua đời. Lưu Trắc kế thừa quyền cai quản Thanh Hải quân, và một thời gian ngắn sau, Hậu Lương Thái Tổ bổ nhiệm Lưu Trắc làm Thanh Hải tiết độ sứ.[12] Ông lại cải danh thành Lưu Nham.[5]

Làm tiết độ sứ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo ghi chép, trên cương vị tiết độ sứ, Lưu Nham thường xuyên mời các sĩ nhân chạy loạn từ Trung Nguyên đến mạc phủ, thường bổ nhiệm họ làm thứ sử, đến nỗi thứ sử các châu đều không phải là võ quan.[12]

Cũng trong năm 911, Lô Diên Xương bị thuộc hạ là Lê Cầu (黎球) ám sát, Lê Cầu sau đó qua đời và người kế nhiệm là Lý Ngạn Đồ (李彥圖). Do Lê Cầu muốn giết mưu chủ của Lô Quang Trù là Đàm Toàn Bá, Đàm Toàn Bá xưng bệnh xin được cáo hưu. Lưu Nghiễm hay tin thì liền phát binh công Thiều châu, kết quả tái chiếm được châu này; Thiều châu thứ sử Liệu Sảng (廖爽) chạy đến Sở. Trong khi đó, ông cũng phái quân tiến công Dung châu. Diêu Ngạn Chương nhận định rằng không thể trụ lại được (mặc dù quân cứu viện của Sở do Hứa Đức Huân thống lĩnh đang tiến đến), do đó Diêu Ngạn Chương quyết định đưa sĩ dân Dung châu về Sở, Lưu Ẩn đoạt được Dung châu và Cao châu. Hay tin hai chư hầu xảy ra chiến tranh, Hậu Lương Thái Tổ sai Hữu tán kị thường thị Vi Tiển (韋戩) đi hòa giải giữa Mã Ân và Lưu Nham.[12] Đáp lại, Lưu Nham nộp cống một lượng lớn vàng, bạc, sừng tê giác, ngà voi, đủ loại đồ trang sức và gia vị khác, cho Hậu Lương Thái Tổ.[5]

Vào cuối năm 912, Hậu Lương Thái Tổ bị con là Dĩnh vương Chu Hữu Khuê ám sát.[12] Vào đầu năm 913, Chu Hữu Khuê ban chức kiểm hiệu thái phó cho Lưu Nham.[5] Sau đó, hoàng vị Hậu Lương lại về tay Chu Hữu Trinh (cải danh thành Chu Trấn)[12] Chu Trấn bổ nhiệm Lưu Nham làm tiết độ sứ của Thanh Hải quân và Kiến Vũ quân[chú 12], phong tước Nam Bình vương.[5]

Cũng vào năm 913, Lưu Nham muốn thiết lập liên minh hôn nhân với Mã Ân, xin cưới con gái của Mã Ân, Mã Ân chấp thuận.[12] Đến năm 915, Lưu Nham cử đoàn đến kinh đô Trường Sa của Sở để đón dâu, Mã Ân khiển con trai là Vĩnh Thuận tiết độ sứ Mã Tồn (馬存) hộ tống Mã thị đến Thanh Hải quân. Trong khi đó, Thanh Hải-Kiến Vũ tiết độ sứ kiêm Trung thư lệnh Lưu Nham không hài lòng trước việc chỉ được phong tước Nam Bình vương, trong khi Tiền Lưu được phong làm Ngô Việt quốc vương. Do vậy, Lưu Nham dâng biểu cầu được phong tước Nam Việt vương, thăng làm đô thống. Khi Chu Trần từ chối, Lưu Nham nói với quan lại dưới quyền: Nay Trung Quốc phân tranh, ai là Thiên tử?. Sao ta có thể [khiển sứ] leo trèo, đi thuyền hàng vạn lý để tôn thờ ngụy đình?. Sau đó, Lưu Nham chấm dứt việc gửi cống phẩm và sứ giả đến triều đình Hậu Lương.[13]

Vào mùa thu năm 917, Lưu Nham tức hoàng đế vị ở Phiêng Ngung, đặt quốc hiệu là "Đại Việt", đại xá, cải nguyên Càn Hanh. Ông truy phong tổ phụ Lưu An Nhân (劉安仁), phụ thân Lưu Khiêm, và huynh Lưu Ẩn là hoàng đế.[2] Bổ nhiệm sứ giả Hậu Lương Triệu Quang Duệ làm Binh bộ thượng thư, tiết độ phó sứ; bổ nhiệm Tiết độ phán quan Lý Ân Hành làm Lễ bộ thị lang; bổ nhiệm Tiết độ phó sứ Dương Đỗng Tiềm làm Binh bộ thị lang; cả ba đều là Đồng bình chương sự.[2]

Thời kỳ đầu trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng vào năm 917, Lưu Nghiễm gả cháu gái là Thanh Viễn công chúa Lưu Hoa (con gái của Lưu Ẩn) cho Vương Diên Quân- con trai của Mân vương Vương Thẩm Tri, thắt chặt quan hệ giữa hai nước.[2][5][chú 13]

Tháng 11 ÂL năm 918, sau khi Lưu Nham tế Nam Giao, ông ra lệnh đại xá, cải quốc hiệu từ Việt sang Hán, quốc gia của ông do vậy được gọi là Nam Hán.[2]

Năm 919, Lưu Nham lập Việt quốc phu nhân Mã thị làm hoàng hậu.[2]

Năm 920, theo thỉnh cầu của Dương Động Tiềm, Lưu Nham cho lập học hiệu, khai cống cử, thiết thuyên tuyển. Ông cũng khiển sứ đến Tiền Thục, thiết lập quan hệ hữu hảo.[14]

Năm 922, Lưu Nham tin theo lời của thuật giả rằng ông cần rời khỏi kinh đô để tránh tai họa, do vậy quyết định ngao du Mai Khẩu[chú 14], gần biên giới với Mân. Tướng Mân là Vương Diên Mĩ đem binh tập kích đoàn của Lưu Nham, song trước khi quân của Vương Diên Mĩ đến nơi, Lưu Nham nhận được báo cáo của trinh sát nên bỏ trốn kịp thời.[14]

Năm 924, Lưu Nham dẫn binh xâm lược Mân, đóng quân ở Đinh châu[chú 15] và Chương châu[chú 16]. Lưu Nham chiến bại trước quân Mân, buộc phải chạy trốn.[15]

Trong khi đó, vào năm 923, Hậu Lương bị Hậu Đường chinh phục, Hậu Đường Trang Tông làm chủ Trung Nguyên.[16] Khi nhận được tin, Lưu Nham trở nên lo sợ trước thế lực hùng mạnh này, và đến năm 925 thì khiển Cung uyển sứ Hà Từ (何詞) đến triều cống cho Hậu Lương[15] (xưng là "Đại Hán quốc vương" đưa thư thượng "Đại Đường hoàng đế")[5] và dò xét sức mạnh của triều đại này. Sau khi Hà Từ trở về, thông báo lại rằng Hậu Đường Trang Tông kiêu dâm vô chính, không đáng phải sợ; Lưu Nham rất phấn khởi, và từ đó không còn qua lại với triều đình Trung Nguyên.[15]

Cũng vào năm 925, theo ghi chép thì người ta thấy có rồng trắng xuất hiện trong cung điện Nam Hán, do vậy Lưu Nham cải nguyên "Bạch Long", đổi tên thành Cung (龔).[17] Tuy nhiên, trong năm đó có một tăng người Hồ nói với ông rằng Sấm thư "diệt Lưu thị giả vung dã" (theo sấm thư thì diệt họ Lưu là Cung), sau đó ông tham khảo trong Chu Dịch, tạo ra chữ "龑" với nghĩa "phi long tại thiên" (rồng bay lên trời), âm là "Nghiễm".[18] (Tư trị thông giám thì chép lần đổi tên thứ hai này diễn ra vào năm 941.[19]) Cũng vào năm 925, khi Phiếu tín Trường Hòa (Nam Chiếu) là Trịnh Mân khiển bố tiếp (em) là Trịnh Chiêu Thuần (鄭昭淳) đến Nam Hán cầu hôn, Lưu Nham gả một người cháu gái khác là Tăng Thành công chúa làm thê của Trịnh Mân.[6][17][18]

Giữa thời kỳ giữa[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 928, thủy quân Sở tiến công Nam Hán, bao vây Phong châu. Lưu Nham tin rằng từ "Đại Hữu" trong Chu Dịch có nghĩa là đại xá, vì thế cải nguyên Đại Hữu. Ông lệnh cho Tả hữu nhai sứ Tô Chương (蘇章) đem 3.000 "nỏ thần" (cung thủ tài giỏi), 100 chiến hạm cứu Phong châu. Tô Chương giăng dây sắt chìm dưới sông, hai bên bờ căng dây, đắp đê dài để giấu quân. Đến khi giao chiến với thủy quân Sở, Tô Chương giả vờ rút lui, lừa quân Sở đuổi theo; sau đó hạm đội Sở lọt vào nơi phục kích, không thể tiến thoái, bị quân Nam Hán bắn tên, quân Sở bại trận phải rút lui.[20]

Năm 930, Lưu Nghiễm khiển bộ tướng Lương Khắc Trinh (梁克貞) và Lý Thủ Phu (李守鄜) tiến công Giao châu- thủ phủ của Tĩnh Hải quân; bắt được Tĩnh Hải tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ, Tĩnh Hải quân về tay Nam Hán, chấm dứt quyền lực của họ Khúc. Lương Khắc Trinh còn tiến công Chiêm Thành, cướp vật quý của nước này rồi rút lui. Lưu Nham khiển bộ tướng Lý Tiến (李進) đi cai quản Giao châu.[21]

Nam Hán không giữ Tĩnh Hải quân được lâu. Sau khi họ Khúc bị lật đổ, tướng Ái châu[chú 17] Dương Đình Nghệ gây dựng được một đội quân gồm 3.000 con nuôi (dưỡng-giả tử), có ý muốn đoạt lấy Tĩnh Hải quân. Mặc dù Lý Tiến biết về sự việc, song vì nhận hối lộ của Dương Đình Nghệ nên không có hành động gì. Năm 931, Dương Đình Nghệ bao vây Giao châu. Lưu Nghiễm khiển Thừa chỉ Trình Bảo (程寶) đem binh cứu viện, song thành bị chiếm trước khi Trình Bảo đến nơi. Lý Tiến chạy trốn về kinh đô, bị Lưu Nghiễm giết chết. Trình Bảo bao vây châu thành Giao châu, đến khi Dương Đình Nghệ xuất chiến, Trình Bảo bại trận tử chiến.[21]

Năm 932, Lưu Nghiễm phong vương cho 19 hoàng tử.[22]

Năm 934, Mã hoàng hậu qua đời.[23]

Cũng vào năm 934, Lưu Nghiễm cho phép hoàng tử lớn tuổi nhất còn sống là phán lục quân- Tần vương Lưu Hoằng Độ[6] mộ 1.000 túc vệ binh, song những binh sĩ này đều là những vô lại thân cận với Lưu Hoằng Độ. Khi Dương Đỗng Tiềm nói sự việc với Lưu Nghiễm để kiềm chế các hoạt động của Lưu Hoằng Độ, Lưu Nghiễm từ chối nghe theo. Sau đó, Dương Đỗng Tiềm ra ngoài thấy cảnh vệ sĩ cướp bóc vàng bạc của thương nhân, thương nhân không dám tố cáo, Dương Đỗng Tiềm than thở: "Chính loạn như vậy, sao cần tể tướng?" rồi cáo về ở trong phủ đệ. Lưu Nham sau đó không còn triệu kiến Dương Đỗng Tiềm nữa.[23]

Cuối thời kỳ trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 936, Lưu Nghiễm khiển bộ tướng Tôn Đức Uy (孫德威) xâm chiếm Mông châu[chú 18] và Quế châu[chú 19] của Sở. Khi Sở vương Mã Hy Phạm đem 5.000 bộ-kị binh đến Quế châu, Tôn Đức Uy triệt thoái.[24]

Năm 937, Lưu Nghiễm nhân việc khỏi bệnh, ban bố đại xá.[25]

Năm 937, Dương Đình Nghệ bị Kiều Công Tiễn giết chết, Kiều Công Tiễn đoạt lấy quyền cai quản Tĩnh Hải quân. Năm 938, một tướng cũ của Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền nổi dậy lại Ái châu và sau đó tiến công Giao châu, Kiều Công Tiễn cầu viện Nam Hán. Lưu Nghiễm muốn nhân cơ hội này để đoạt lấy Tĩnh Hải quân, do vậy bổ nhiệm hoàng tử- Vạn vương Lưu Hoằng Thao làm Tĩnh Hải tiết độ sứ, tỉ phong Giao vương, đem binh đến cứu Giao châu, Lưu Nghiễm tự mình đem một đội quân theo sau, dự định đến đóng ở Hải Môn. Lưu Nghiễm hỏi Sùng văn sứ Tiêu Ích về sách lược, Tiêu Ích nói rằng: "Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến", song Lưu Nghiễm không nghe theo. Tuy nhiên, khi Lưu Hoằng Thao tiến đến Giao châu, Ngô Quyền đã đánh bại và giết chết Kiều Công Tiễn, chiếm cứ Giao châu. Lưu Nghiễm lệnh cho Lưu Hoằng Tháo suất chiến hạm theo sông Bạch Đằng tiến đến Giao châu. Ngô Quyền cho quân sĩ đóng cọc có bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi thuỷ triều lên, bãi cọc không bị lộ. Khi thủy triều xuống, chiến hạm Nam Hán đều bị cọc sắt ngăn lại và không thể tiến thoái, quân Nam Hán đại bại, sĩ tốt chết quả nửa, Lưu Hoằng Tháo cũng tử chiến, sử gọi là trận Bạch Đằng. Lưu Nghiễm hay tin thì gào khóc thảm thiết, tập hợp tàn quân trở về Nam Hán.[25]

Năm 939, Triệu Quang Duệ chỉ ra rằng Nám Hán và Sở chưa gửi sứ giả qua lại từ sau khi Mã hoàng hậu qua đời, và hai nước là thân lân cựu hảo, không thể để mất; tiến cử Gián nghị đại phu Lý Thư (李紓) làm sứ giả. Lưu Nghiễm đồng ý, và sau khi Lý Thư đến Sở, Sở cũng khiển sứ sang Nam Hán, tái lập quan hệ giữa hai nước. Mặc dù vậy, vào năm 941, Lưu Nghiễm khiển sứ đến triều đình Trung Nguyên, đề nghị cùng chiếm Sở rồi chia nhau lãnh thổ, song Hoàng đế Trung Nguyên từ chối.[19]

Năm 942, Lưu Nghiễm lâm bệnh phải nằm trên giường, ông nhận thấy Tần vương Lưu Hoằng Độ và Tấn vương Lưu Hoằng Hy đều kiêu ngạo và phóng túng, cho Việt vương Lưu Hoằng Xương (劉弘昌) là người hiếu cẩn và có trí thức. Do đó ông cùng Hữu bộc xạ kiêm Tây ngự viện sứ Vương Lân (王翷) định để Lưu Hoằng Độ đi trấn thủ Ung châu, Lưu Hoằng Hy đi trấn thủ Dung châu và lập Lưu Hoằng Xương làm người kế vị. Tuy nhiên, Tiêu Ích lại thuyết phục ông rằng nếu không lập đích làm trưởng thì tất loạn, do vậy Lưu Nghiễm ngừng tiến hành kế hoạch. Ngày Đinh Sửu tháng 4 ÂL năm 942, Lưu Nghiễm qua đời, Lưu Hoằng Độ kế vị, tức Nam Hán Thương Đế.[4]

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Tư trị thông giám, tổng kết nhận định từ các nguồn khác, nhận xét về triều đại của Lưu Nghiễm:[4]

Cao Tổ là người tinh ý và có tài ứng biến, song tự kiêu, thường gọi Thiên tử Trung Quốc [tức Trung Nguyên] là "Lạc châu thứ sử". Lĩnh Nam là nơi có nhiều đồ quý hiếm, ông tích góp đến nỗi cùng xa cực lệ. Cung điện đều dùng vàng, ngọc, ngọc trai, ngọc bích làm đồ trang trí. Ông dùng hình thảm khốc, bao gồm quán tị (cắt mũi), cát thiệt (cắt lưỡi), chi giải (chặt tay chân), khô dịch (phanh thây phụ nữ mang thai), pháo chích (buộc vào cột sắt nung nóng), phanh chưng (nấu); hoặc cho rắn độc vào nước, rồi ném tù nhân vào đó, gọi là "thủy ngục". Khi Đồng bình chương sự Dương Đỗng Tiềm cố gắng can gián, ông không nghe theo. Trong những năm cuối, ông càng trở nên nghi kị, cho rằng các sĩ nhân phần nhiều là tập trung tâm chí vì con cháu của họ thay vì quốc gia, nên tín nhiệm hoạn giả, do vậy tại Nam Hán hoạn giả đại thịnh.

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Sử không chép Lưu Nghiễm có bao nhiêu con và tên những người con gái. Tân Ngũ Đại sử có chép vào năm 932, Lưu Nghiễm phong vương cho 19 người con trai của mình là:

  1. Ung vương Lưu Diệu Xu
  2. Khang vương Lưu Quy Đồ
  3. Tần vương Lưu Hoằng Độ (sau nối ngôi, bị em là Lưu Hoằng Hi giết, sử chép hiệu là Thương Đế)
  4. Tấn vương Lưu Hoằng Hi (sau giết anh cướp ngôi, được tôn miếu hiệu Trung Tông)
  5. Việt vương Lưu Hoằng Xương
  6. Tề vương Lưu Hoằng Bật
  7. Thiều vương Lưu Hoằng Nhã
  8. Trấn vương Lưu Hoằng Trạch
  9. Vạn vương Lưu Hoằng Thao (sau được cải phong Giao vương, tử trận tại Giao Châu)
  10. Tuần vương Lưu Hoằng Cảo
  11. Tức vương Lưu Hoằng... (không rõ tên)
  12. Cao vương Lưu Hoằng Mạc
  13. Đồng vương Lưu Hoằng Giản
  14. Ích vương Lưu Hoằng Kiến
  15. Biện vương Lưu Hoằng Tể
  16. Quý vương Lưu Hoằng Đạo
  17. Tuyên vương Lưu Hoằng Chiêu
  18. Thông vương Lưu Hoằng Chính
  19. Định vương Lưu Hoằng Ích

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 封州, nay thuộc Triệu Khánh, Quảng Đông
  2. ^ 嶺南東道, trị sở nay thuộc Quảng Châu, Quảng Đông
  3. ^ 虔州, nay thuộc Cám Châu, Giang Tây
  4. ^ 韶州, nay thuộc Thiều Quan, Quảng Đông
  5. ^ 潮州, nay thuộc Triều Châu, Quảng Đông
  6. ^ 交州, nay thuộc Hà Nội, Việt Nam
  7. ^ 桂州, nay thuộc Quế Lâm, Quảng Tây
  8. ^ 邕州, nay thuộc Nam Ninh, Quảng Tây
  9. ^ 容州, nay thuộc Ngọc Lâm, Quảng Tây
  10. ^ 高州, nay thuộc Mậu Danh, Quảng Đông
  11. ^ 新洲, nay thuộc Vân Phù, Quảng Đông
  12. ^ 建武, trị sở tại Dung châu
  13. ^ Các thư tịch cổ thì ghi rằng Lưu Hoa là con gái của Lưu Nham, song bia mộ của bà thì ghi rằng bà là con gái của Lưu Ẩn..
  14. ^ 梅口, nay thuộc Mai Châu, Quảng Đông
  15. ^ 汀洲, nay thuộc Long Nham, Phúc Kiến
  16. ^ 漳州, nay thuộc Chương Châu, Phúc Kiến
  17. ^ 愛州, nay thuộc Thanh Hóa, Việt Nam
  18. ^ 蒙州, nay thuộc Ngô Châu, Quảng Tây
  19. ^ 桂州, nay thuộc Quế Lâm, Quảng Tây

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Viện Nghiên cứu Trung Ương (Đài Loan) Chuyển hoán lịch Trung-Tây 2000 năm.
  2. ^ a ă â b c d Tư trị thông giám, quyển 270.
  3. ^ a ă â Cựu Ngũ Đại sử, quyển 135.
  4. ^ a ă â b Tư trị thông giám, quyển 283.
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g Thập Quốc Xuân Thu, quyển 58.
  6. ^ a ă â Thập Quốc Xuân Thu, quyển 61.
  7. ^ Tư trị thông giám, quyển 260.
  8. ^ Tư trị thông giám, quyển 262.
  9. ^ Tư trị thông giám, quyển 263.
  10. ^ Tư trị thông giám, quyển 265.
  11. ^ Tư trị thông giám, quyển 267.
  12. ^ a ă â b c d Tư trị thông giám, quyển 268.
  13. ^ Tư trị thông giám, quyển 269.
  14. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 271.
  15. ^ a ă â Tư trị thông giám, quyển 273.
  16. ^ Tư trị thông giám, quyển 272.
  17. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 274.
  18. ^ a ă Tân Ngũ Đại sử, quyển 65.
  19. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 282.
  20. ^ Tư trị thông giám, quyển 276.
  21. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 277.
  22. ^ Tư trị thông giám, quyển 278.
  23. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 279.
  24. ^ Tư trị thông giám, quyển 280.
  25. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 281.