Khu tự trị Thái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sip Hok Chau Tai (tiếng Thái)
Région autonome du Taï (tiếng Pháp)

Khu tự trị Thái (tiếng Việt)

 

1067–1955
Quốc kỳ Quốc huy
Hiệu kỳ Huy hiệu
Vị trí của Xứ Thái
Vị trí xứ Thái trên bản đồ Quốc gia Việt Nam, 1950.
Thủ đô Mường So
Tôn giáo Tín ngưỡng cổ truyền
Chính thể Khu tự trị
Lịch sử
 - Thành lập 1067
 - Giải thể 1955
Tiền tệ Đồng

Xứ Thái (tiếng Thái: Chau Tai; tiếng Pháp: Pays Taï), hoặc Khu tự trị Thái (tiếng Thái: Sip Hok Chau Tai / Mười sáu xứ Thái; tiếng Pháp: Région autonome du Taï) là một lãnh địa tự trị tồn tại trên phần lớn khu vực Tây Bắc Việt Nam từ khoảng thế kỷ 7 đến năm 1955. Miền đất này từng là nơi chồng lấn của nhiều thế lực chính trị tại khu vực phía Nam Trung Hoa, trước khi trở thành một phần của Liên bang Đông Dương và tiếp đến là Quốc gia Việt Nam, cũng như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời phong kiến Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Theo David Wyatt, trong cuốn "Thailand: A short history", người Thái xuất xứ từ phía Nam Trung Hoa, có cùng nguồn gốc với các nhóm dân ít người bây giờ như Choang, Tày, Nùng. Dưới sức ép của người Hán và người Việt ở phía Đông và Bắc, người Thái dần di cư về phía Nam và Tây Nam. Người Thái di cư đến An Nam trong thời gian từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 13[1]. Trung tâm của họ khi đó là Mường Thanh. Từ đây, họ tỏa đi khắp nơi ở Đông Nam Á như Ai Lao, Xiêm, Shan và một số vùng ở Đông Bắc Ấn Độ cũng như Vân Nam[2].

Theo sử sách Việt Nam, vào thời nhà Lý, đạo Đà Giang, man Ngưu Hống (tức người Thái) đến từ Vân Nam, đã triều cống lần đầu tiên vào năm 1067. Trong thế kỷ 13, người Ngưu Hống kết hợp với người Ai Lao chống lại nhà Trần và bị đánh bại năm 1280, lãnh tụ Trịnh Giác Mật đầu hàng, xứ Ngưu Hống bị đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của quan quân nhà Trần. Năm 1337, lãnh tụ Xa Phần bị giết chết sau một cuộc xung đột, xứ Ngưu Hống bị sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt và đổi tên thành Mường Lễ, hay Ninh Viễn (Lai Châu ngày nay) và giao cho họ Đèo cai quản. Năm 1431, lãnh tụ Đèo Cát Hãn, người Thái Trắng tại Mường Lễ, nổi lên chống triều đình, chiếm hai lộ Quy Hóa (Lào Cai) và Gia Hưng (giữa sông Mã và sông Đà), tấn công Mương Mỗi (Sơn La) Đèo Mạnh Vượng (con của Đèo Cát Hãn) làm tri châu. Năm 1466, lãnh thổ của người Thái được tổ chức lại thành vùng (thừa tuyên) Hưng Hóa, gồm 3 phủ: An Tây (tức Phục Lễ), Gia Hưng và Quy Hóa, 4 huyện và 17 châu.

Những lãnh tụ Thái được gọi là phìa tạo, được phép cai quản một số lãnh địa và trở thành quý tộc của vùng đó, như dòng họ Đèo cai quản các châu Lai, Chiêu Tấn, Tuy Phụ, Hoàng Nham; dòng họ Cầm các châu Phù Hoa, Mai Sơn, Sơn La, Tuần Giáo, Luân, Ninh Biên; dòng họ Xa cai quản châu Mộc; dòng họ Hà cai quản châu Mai, dòng họ Bạc ở châu Thuận; họ Hoàng ở châu Việt...

Năm 1841, trước sự đe dọa của người Xiêm La, triều đình nhà Nguyễn kết hợp ba châu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu bên bờ tả ngạn sông Mekong thành phủ Điện Biên.

Liên bang Đông Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1890, Auguste Pavie, lúc bấy giờ là đại diện của Pháp tại Luang Prabang đề nghị với chính phủ bên chính quốc công nhận Đèo Văn Trị, một thủ lĩnh người Thái Trắng, sau khi giúp người Pháp xác định khu vực biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và Lào, được làm lãnh chúa xứ Thái vùng Sip Song Chau Tai.[3]. Triều đình Việt Nam phong cho Đèo Văn Trị chức tri châu, được phép thế tập (cha truyền con nối) tại Điện Biên, cai quản đạo Lai Châu, một lãnh thổ rộng lớn từ Điện Biên Phủ đến Phong Thổ.

Vào thập niên 1940 khi tình hình Chiến tranh Pháp-Việt ngày càng lan rộng, người Pháp quyết định tách xứ Thái ra khỏi Bắc Kỳ và chính thức thiết lập Khu tự trị Thái vào tháng 7 năm 1948. Nằm trong đơn vị này là các sắc dân Lô Lô, Khơ-mú, DaoH'Mông đều thuộc quyền cai quản của lãnh chúa Thái.[4] Chủ tâm của người Pháp là để tranh thủ sự ủng hộ của dân địa phương trong khi đánh dẹp Việt Minh.[5] Khu tự trị Thái bao gồm tỉnh Lai Châu, Sơn LaPhong Thổ.[3] Thủ phủ đặt ở thị xã Lai Châu cũ, nay là thị xã Mường Lay.[6] Tiếng Tháitiếng Pháp là hai ngôn ngữ chính thức của xứ Thái.[7]

Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1950 dưới chính thể Quốc gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại, chiếu theo Dụ số 6 ký ngày 15 Tháng Tư thì Khu tự trị Thái được gom vào cùng với tỉnh Hải NinhXứ Thượng Nam Đông DươngCao nguyên Trung phần để thành Hoàng triều Cương thổ (tiếng Pháp: Domaine de la Couronne).[8] Theo đó thì xứ Thái có vị khâm mạng cai trị nhân danh hoàng đế Bảo Đại.[9] Khi người Pháp thất trận tại Đông Dương thì khu tự trị này cũng tan rã.

Hành chính 1948 - 1954[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cơ quan lập pháp là hội đồng đại biểu của các châu, có nhiệm kỳ là bốn năm.[7]
  • Hành pháp có chủ tịch hành pháp xứ Thái do các đại biểu tri châu, tri trưởng bầu lên với 2/3 số phiếu; chức vụ này có nhiệm kỳ năm năm. Chủ tịch hành pháp có một cố vấn người Pháp giúp sức.[7]
  • Tư pháp thì chiếu theo tục lệ cổ truyền.[7]

Tiểu khu[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Mường Tè
  2. Mường So
  3. Mường Sát
  4. Mường Ma
  5. Mường Lay
  6. Mường Chiên
  7. Mường Chăn
  8. Mường Than
  9. Mường Quài
  10. Mường Thanh
  11. Mường Muổi
  12. Mường

Tên gọi qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ tự các đời lãnh chúa[sửa | sửa mã nguồn]

Dấu triện của chúa Thái.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mai Lý Quảng, Glimpses of Vietnam, NXB Thế Giới, Hà Nội 2004, tr. 89
  2. ^ Wyatt, trang 6.
  3. ^ a ă Evans, Grant et al. Where China Meets Southeast Asia: social & cultural change in the border regions. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2000. tr 106-109.
  4. ^ Michaud, Jean. Historical dictionary of the peoples of the Southeast Asian massif. Lanham, MD: Scarecrow Press, 2006. tr 228.
  5. ^ Ellinwood, DeWitt. Ethnicity and the military in Asia. New Brunswick, NJ: Transaction, 1981. tr 156.
  6. ^ White Tai or Tai Don
  7. ^ a ă â b Lê Đình Chi. Người Thượng Miền Nam Việt Nam. Gardena, CA: Văn Mới, 2006. tr 401-449
  8. ^ Luong, Hy. Postwar Vietnam: dynamics of a transforming society. Lanham, MD: Rowman and Littlefield, 2003. tr 134.
  9. ^ Lê Đình Chi. Người Thượng Miền Nam Việt Nam. Gardena, CA: Văn Mới, 2006. tr 569-612.
  10. ^ Kể từ 1954 chỉ mang tính tượng trưng, không có thực quyền.
  11. ^ Chỉ mang tính tượng trưng, không có thực quyền.