Việt Minh
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Thông tin trong bài (hay đoạn) này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. Nếu không, những câu hay đoạn văn không có chú giải nguồn gốc có thể bị thay thế hoặc xóa đi bất cứ lúc nào. |
| Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội | |
|---|---|
| Tên: | Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội |
| Hán-Nôm: | 越南獨立同盟會 |
| Ngày thành lập: | 19 tháng 5 năm 1941 |
Việt Minh (chữ Hán: 越盟) là tên thường gọi và viết tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, khởi đầu là một tổ chức chính trị/vũ trang với mục tiêu đứng về phía Đồng Minh chống phát xít, giành độc lập dân tộc cho Việt Nam. Việt Minh được thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941, bởi Nguyễn Ái Quốc.
Tên gọi này được lấy lại từ tên gọi của một tổ chức chính trị chống đế quốc của người Việt Nam, được thành lập năm 1936 ở Nam Kinh (Trung Quốc). Hồ Chí Minh đã nhận định: "Cái tên Việt Nam Độc lập Đồng minh rất rõ rệt, thiết thực và hợp với nguyện vọng của toàn dân".
Trong cuộc chiến với người Pháp, mặt trận Việt Minh là một công cụ lợi hại do những người Cộng sản dựng lên, một thế lực chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập nhằm thu hút tất cả những người không Cộng sản tham gia cuộc chiến dưới sự khống chế chặt chẽ của Cộng sản.[1]
Mục lục |
[sửa] Tiền sử
Năm 1936, Hồ Học Lãm đã đứng ra xin chính quyền Trung Quốc Quốc dân đảng ở Nam Kinh cho phép thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh hội. Tham gia hội nghị thành lập, về phía Việt Nam có Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần và những người khác, tổng cộng độ 20 người. Về phía Trung Quốc có hai đại biểu của Trung ương Quốc dân đảng Trung Quốc. Vi Đăng Tường đại biểu Biện sự xứ Việt Nam Quốc dân đảng ở Nam Kinh cũng được mời đến dự.
Để biểu thị sự hoạt động tích cực của Việt Minh, Hồ Học Lãm tự xuất tiền, ra một tờ tạp chí nhỏ bằng chữ Trung Quốc lấy tên là Việt Thanh, số lượng phát hành chỉ độ một trăm cuốn, cốt để gửi cho các cơ quan Quốc dân đảng Trung Quốc ở Nam Kinh, cũng có gửi cho Việt kiều ở Quảng Châu và Côn Minh độ vài chục cuốn. Tuy nhiên, do thiếu tiền, tạp chí này chỉ ra được vài số. Mọi hoạt động gần như đình chỉ.
Năm 1940, khi tình hình cách mạng đã thay đổi, Biện sự xứ hải ngoại của Việt Minh được thành lập ở Quế Lâm, do Hồ Học Lãm là Chủ nhiệm, Phạm Văn Đồng là Phó chủ nhiệm. Lúc này Hồ Chí Minh đã sang Quế Lâm. Hồ Chí Minh chủ trương những người cộng sản núp dưới danh nghĩa Việt Minh của Hồ Học Lãm để hoạt động. Hồ Học Lãm nhận đứng tên là Chủ nhiệm Việt Minh giúp họ.
Để củng cố địa vị hợp pháp của Việt Minh, Phạm Văn Đồng đã gặp một số nhà văn tiến bộ Trung Quốc, vận động thành lập Hội văn hóa Việt-Trung. Ngày 8 tháng 12 năm 1940, Hội được thành lập ở Câu lạc bộ Lạc Quần, lấy tên chính thức là “Trung-Việt văn hóa công tác đồng chí hội”. Hồ Học Lãm và Phạm Văn Đồng được giới thiệu vào Ban lý sự của Hội với tư cách là Chủ nhiệm và Phó chủ nhiệm Biện sự xứ Việt Minh ở hải ngoại.
[sửa] Thành lập Mặt trận Việt Minh
Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về Pác Bó (Cao Bằng) xây dựng thí điểm các đoàn thể cứu quốc để tiến tới thành lập Mặt trận Việt Minh. Hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng của Đảng Cộng sản Đông Dương, họp vào cuối tháng 4 năm 1941, dưới sự chủ tọa của Hoàng Văn Thụ và Vũ Anh, đã khẳng định công tác xây dựng thí điểm các đoàn thể cứu quốc đạt kết quả tốt, chứng tỏ chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh của Nguyễn Ái Quốc là hoàn toàn đúng đắn.
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, họp từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941 trong rừng Khuổi Nậm, thuộc Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, dưới sự chủ tọa của Nguyễn Ái Quốc, đã quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Các tổ chức quần chúng trong Việt Minh đều lấy tên là Hội cứu quốc (như Hội công nhân cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc, Hội phụ nữ cứu quốc, Hội quân nhân cứu quốc...).
Mặt trận Việt Minh tuyên bố chủ trương gồm 2 điều:
- Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập
- Làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do
Chương trình của Việt Minh được Nguyễn Ái Quốc soạn thành một bài thơ dài theo thể song thất lục bát gồm 212 câu và được Bộ tuyên truyền Việt Minh xuất bản.
[sửa] Lãnh đạo nhân dân giành chính quyền
Năm 1945, Việt Minh là lực lượng chính trị quan trọng, giành chính quyền về tay người Việt Nam từ tay phát xít Nhật. Quốc dân Đại hội do Tổng bộ Việt Minh triệu tập họp ở Tân Trào trong 2 ngày 16 và 17 tháng 8 năm 1945 đã thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ, quốc ca, cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc tức là Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh, tuyên bố thành lập chính phủ lâm thời của Việt Minh, khai sinh nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau khi người Pháp tái chiếm Đông Dương, Việt Minh chuyển mục tiêu sang đấu tranh giành lại toàn vẹn chủ quyền và lãnh thổ cho Việt Nam từ tay của thực dân Pháp.
[sửa] Trong chiến tranh Đông Dương
[sửa] Mặt trận Liên Việt
Năm 1951, Việt Minh và Liên Việt hợp nhất, lấy tên là Mặt trận Liên Việt (3 tháng 3 năm 1951), tuy vậy Mặt trận Liên Việt vẫn được nhiều người quen gọi là Việt Minh.
Sau năm 1955, Việt Minh (tức Mặt trận Liên Việt) tuyên bố hoàn thành nhiệm vụ và tự giải tán. Ngày 10 tháng 9 năm 1955, một tổ chức kế thừa Việt Minh là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời và hoạt động cho đến ngày nay.
[sửa] Hậu cần
Năm 1944, khi thành lập, Quân Đội Nhân Dân Việt Nam chỉ có vài khẩu súng. Trận Khai Phắt lấy được 30 khẩu, trận Nà Ngần lấy được 16 khẩu súng trường, đó là những vũ khí đầu tiên của Việt Minh.
Đến năm 1950, Việt Minh đã có khá nhiều súng trường tự động, súng máy, bazooka, súng máy hạng nặng. Đại bác khi công đồn được thay bằng bộc phá và chiến thuật đào hào.
Điều đặc biệt là nhiều vũ khí trang bị cho Việt Minh đều lấy từ Pháp. Ví dụ, ngày 11-10 năm 1950, khi chiếm Lạng Sơn, Việt Minh lấy được vũ khí đủ trang bị cho một sư đoàn chính quy mạnh, báo cáo quân Pháp: [2] [3]
- 13 Pháo
- 120 Cối
- 450 Xe ô tô
- 3 Xe bọc thép
- 240 Súng máy hạng nặng
- 1200 Trung liên
- 1200 Tiểu liên
- 8500 Súng trường
- 12500 viên đạn đại bác 105mm
- 6500 viên đạn đại bác 75mm
- 17000 viên đạn đại bác 3inch7 (94mm)
- 7000 viên đạn đại bác không giật
- 5 triệu viên đạn súng bộ binh.
- 600 tấn xăng
- Rất nhiều thực phẩm, quần áo.
Trước đó một tuần, trong Chiến dịch Biên giới, Việt Minh đánh Cao Bằng, bắt và giết 4800 Pháp (không kể bị thương), người Pháp bỏ lại trận địa toàn bộ vũ khí. Cứ như vậy, sau mỗi trận đánh Việt Minh lại có điều kiện mở rộng quân số.
Du kích còn có nguồn vũ khí mua, đổi, binh vận... lấy được từ quân Pháp.
Vũ khí tự sản xuất của Việt Minh thường chỉ chú trọng những loại Pháp không có, như súng chống tăng, đại bác không giật, mìn, thủy lôi. Việt Minh cũng lập xưởng lớn chế tạo những đồ dễ làm, như nhồi lại đạn, làm lựu đạn, hạt nổ. Vật liệu nổ mạnh chủ yếu lấy từ vũ khí thu được và bom mìn không nổ. Việt Minh cũng có những xưởng hóa chất nấu axít sulfuric, axít nitric để làm thuốc nổ.
Quần áo Việt Minh tự may, nhưng phần lớn là sửa chữa từ quần áo Pháp. (Khi bắt được tên Pháp nào, người lính lập công tự thưởng luôn đôi giầy quý giá, theo phong tục chung. Đến hết giai đoạn phòng ngự, giầy còn quý hiếm đến mức có viên sĩ quan khư khư đeo giầy lên cổ, chỉ xỏ vào chân lúc vượt hàng rào bãi chông.)
Việt Minh có kế họach nghiên cứu sử dụng máy bay, nhưng không thành công. Việt Minh cử người đi học điện tử từ năm 1947 ở nước ngoài. Một số đài phát thanh Việt Minh vẫn được các kỹ sư duy trì hoạt động trong chiến khu. Thậm chí để chống phát hiện, họ tổ chức một đài phát thanh trên thuyền che kín.
Việt Minh sử dụng pháo binh ngay ngày đầu chiến tranh. Pháo đài Láng bắn khá chính xác. Trong chiến dịch Việt Bắc, tàu chiến Pháp trên sông Lô bị bắn chìm bằng pháo bắn thẳng khá nhiều. Nhưng chỉ đến năm 1949 Việt Minh mới có thể di chuyển những khẩu sơn pháo 75mm phục vụ đánh đồn. Đến cuối chiến tranh, Việt Minh đã có số lượng khá lớn cối pháo hạng nặng. Như cối 81mm, 120mm, lựu pháo 105mm và 155mm.
Sau năm 1950 thì Việt Minh có hậu cần đầy đủ. Tuy vậy, chỉ một số súng như cối, pháo phòng không 37mm, súng chống tăng P21 Tiệp Khắc, pháo phản lực được trang bị do những khác nhau về tiêu chuẩn súng pháo (khối Xã Hội Chủ Nghĩa dùng tiêu chuẩn Nga và Liên Xô). Trung Quốc cũng viện trợ cho Việt Minh những súng pháo đạn dược lấy được ở Triều Tiên. Tuy vậy, phần lớn vũ khí của Việt Minh vẫn từ Pháp.
Cuối chiến tranh, Việt Minh đã thu được xe tăng máy bay, nhưng những thứ đó sau này không cần đến nữa.
Để hiểu được mức độ vũ khí Pháp mà Việt Minh lấy dùng, có thể tham khảo số liệu sau. Đây là con số tổng kết, chuẩn bị cho việc trang bị lại sau chiến tranh. Số liệu này Cục Cung Cấp lập ngày 2 tháng 7-1954. Số liệu này cũng không bao gồm các đơn vị mới sử dụng vũ khí tiêu chuẩn Liên Xô, như các đơn vị pháo phản lực, phòng không, cối lớn... đã tham gia đánh Điện Biên Phủ. Số liệu này cũng không bao gồm một ít súng K-50 đã được nhập vào, súng này Liên Xô sản xuất ở Trung Quốc. Số lượng này đủ trang bị cho 14 vạn quân mạnh.
- 105.526 khẩu súng trường (trong đó 57% còn sử dụng được) gồm các loại Rơ-manh-tông, Các-bin, Mas *7,62mm. Mô-đun (Nga), A-ri-na-ca (Nhật), Mut-cơ-tông (Pháp).
- 44.836 khẩu tiểu liên gồm Thôm-sơn, Sten, Tuyn.
- 6.059 khẩu trung liên, đại liên (có 72% sử dụng được)
- 2 tiểu đoàn lựu pháo 105mm.
- 3 tiểu đoàn sơn pháo 75mm.
- 7 đại đội cối 82mm và 120mm.
Trong đó có một ít súng Nga hoặc Liên Xô do quân Đồng Minh đem đến đầu chiến tranh, một ít súng Nhật cũng lấy được đầu chiến tranh.[4]. Để so sánh, sau trận Điện Biên Phủ, Việt Minh chỉ có 3 trung đoàn không đầy đủ pháo viện trợ.
[sửa] Các chiến khu
Việt Minh củng cố những căn cứ ở khắp nước trong những khu rừng rậm đầm lầy. Trong những căn cứ đó, Việt Minh tổ chức tự sản xuất lương thực và nhu yếu phẩm để tồn tại lâu dài. Những căn cứ lớn như Cà Mau, Đồng Tháp Mười, Khu Bốn, Việt Bắc có những xưởng lớn chế tạo vũ khí, trường đại học và cả nghiên cứu nghệ thuật, văn học. (Phần lớn trí thức và danh sĩ đều lên chiến khu, bất kể chính kiến).
Việt Minh đã chế được súng trường, súng cối, lựu đạn và súng chống tăng RPG, đại bác không giật, tên lửa bằng máy tiện đạp chân, kháng sinh penicillin được lên men từ ngô. Đây là một kỳ tích, khẩu bazooka và penicillin mới được các nước tiên tiến chế tạo trong Chiến tranh thế giới thứ 2, vài năm trước đó. Trần Đại Nghĩa chỉ huy việc sản xuất vũ khí ở Chi Nên và Việt Bắc. Một số xưởng lớn có những kỹ sư nước ngoài có ủng hộ kháng chiến. Như Saito người Nhật ở Quảng Ngãi.
Việt Minh chia cả nước ra các Khu. Do điều kiện vận chuyển hết sức khó khăn nên các liên khu hoạt động độc lập, từ việc xây dựng lực lượng, hậu cần đến chiến đấu và sản xuất. Có các liên khu lớn: Việt Bắc, Liên khu III (Hữu ngạn sống Hồng), Tả Ngạn(Tả ngạn sống Hồng), Tây Bắc, Khu IV(Bắc Trung Bộ dến Huế), Khu V (Nam Trung Bộ), Khu 7(Miền Đông), Khu 9 (Miền Tây). Các căn cứ lớn cũng được thành lập trên Lào và Campuchia. Mỗi khu xây dựng quân cơ động riêng, căn cứ riêng. Khối quân cơ động được xây dựng ở Việt Bắc có vai trò đặc biệt, trở thành khối quân cơ động trung ương, quyết định chiến tranh. Mỗi khu xây dựng một vài chiến khu riêng, chiến khu này sẽ là tâm điểm của cuộc kháng chiến xung quanh.
Chiến khu của Liên Khu Việt Bắc chính là Việt Bắc, trở thành Thủ đô kháng chiến hay còn gọi là Chiến khu Việt Bắc. Ở đây những hoạt động của nhà nước diễn ra, như các đại diện ngoại giao, nới đặt các trường đại học... Hay trường Đại học Sư Phạm dược thành lập ở đây để phát triển giáo dục.
Sau 1950 còn thành lập Việt Nam Học Hiệu bên Trung Quốc. Đây là một trường đa năng nằm gần biên giới đào tạo số lượng lớn nhân lực.
[sửa] Tên gọi Việt Cộng và Vi Xi
Năm 1954, tại Điện Biên Phủ quân Pháp đã đầu hàng. Theo quy định của Hiệp định Geneva được ký kết tại Geneva, Thụy Sĩ, Việt Nam được tạm thời chia cắt thành hai miền và một cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước sẽ được tổ chức trong vòng 2 năm. Phần lớn lực lượng của Việt Minh được tập trung về bắc vĩ tuyến 17. Các nhà lãnh đạo Việt Minh tin rằng với sự ủng hộ của đa số dân chúng chắc chắn sẽ giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử. Tuy nhiên, Ngô Đình Diệm, tin tưởng vào sự ủng hộ của Hoa Kỳ thông qua Chính sách Truman, đã đè bẹp lực lượng dân chủ đối lập, kẻ thù cá nhân cũng như các nhân vật tình nghi ủng hộ cộng sản tại miền Nam và tuyên bố thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa và từ chối tiến hành tổng tuyển cử. Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tuyên bố xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tiếp tục đấu tranh để thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử theo hiệp định Genève. Một phần lực lượng Việt Minh tại miền Nam lui vào hoạt động bí mật và sau này tuyên bố thành lập Mặt trận dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam vào 1960. Trong các tài liệu, sách báo của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa họ được gọi là Việt Cộng, còn sách báo phương Tây gọi là Viet Cong, hay Victor Charlie hay V.C. (Vi Xi).
[sửa] Chú thích
- ^ William Colby-Một chiến thắng bị bỏ lỡ NXB CAND p108
- ^ http://indochine54.free.fr
- ^ Le fuyard de Lang Son. Autopsie d'une "légende noire" Tonkin, 1949-1950. Louis Constans.
- ^ Tài liệu lưu trữ.