Chiến dịch Lam Sơn 719

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến dịch Lam Sơn 719 / Chiến dịch đường 9 - Nam Lào
Một phần của Chiến tranh Việt Nam
Lamson.jpg
Bản đồ kế hoạch Lam Sơn 719.
.
Thời gian 8 tháng 224 tháng 3 năm 1971
Địa điểm Lào
Kết quả Quân Giải phóng chiến thắng
Tham chiến
Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Flag of the United States.svg Mỹ
Flag of Laos (1952-1975).svg Vương quốc Lào
Flag of Vietnam.svg Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Flag of Laos.svg Pathet Lào
Chỉ huy
Flag of the United States.svg James W. Sutherland, Jr.

Flag of South Vietnam.svgHoàng Xuân Lãm

Flag of Vietnam.svgLê Trọng Tấn
Flag of Vietnam.svgLê Quang Đạo
Flag of Vietnam.svgĐồng Sỹ Nguyên
Lực lượng
Flag of South Vietnam.svg VNCH: ban đầu có 17.000 [2], sau tăng lên 21.000 quân [3], cùng với 10.000 quân hỗ trợ ở tuyến sau (pháo binh, liên lạc, vận tải...)
450 xe tăng - xe thiết giáp, 250 khẩu pháo
Flag of the United States.svg Mỹ: 10.000 quân, 800 trực thăng, 300 máy bay cường kích, 50 máy bay vận tải và 50 máy bay ném bom chiến lược B-52 (ném tổng cộng 52.000 tấn bom).
Quân Hoàng gia Lào: ~4.000
50.000 quân
88 xe tăng
Tổn thất
Flag of South Vietnam.svgVNCH: 1.529 tới 8.483 chết
5.483 tới 12.420 bị thương
625 mất tích[1]
1.142 bị bắt [2]

Flag of the United States.svg Hoa Kỳ: 215 chết
1.149 bị thương
38 mất tích
Tổn thất trang bị: 168 trực thăng bị bắn rơi, 618 bị bắn hỏng[3][4]
Hơn 1.000 xe thiết giáp và xe vận tải bị phá hủy hoặc tịch thu
43 tàu, xuồng, xà lan bị đánh chìm

Theo QĐNDVN: 2.163 chết, 6.176 bị thương[5]
Theo Hoa Kỳ ước tính: 13.341 chết hoặc bị thương[6]
.

Chiến dịch Lam Sơn 719 hay Cuộc Hành quân Hạ Lào (cách gọi của Việt Nam Cộng hòa) hay Chiến dịch đường 9 - Nam Lào (cách gọi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) là một chiến dịch trong Chiến tranh Việt Nam, do Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH) thực hiện với sự yểm trợ của không quân và pháo binh Mỹ. Mục tiêu của chiến dịch là phá vỡ hệ thống hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) tại Lào và cắt đứt Đường mòn Hồ Chí Minh tại thị trấn Tchepone nằm cách biên giới Việt-Lào 42 km về phía Tây.

Chiến dịch này còn là một thử nghiệm về khả năng Quân lực Việt Nam Cộng hòa có thể tự chiến đấu trong tình huống Mỹ tiếp tục rút quân ra khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam, một thử nghiệm về chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và năng lực hoạt động độc lập một cách hiệu quả của Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Do những sai lầm cố hữu trong hệ thống chỉ huy của Việt Nam Cộng hòa, nhu cầu bảo mật làm hạn chế việc lập kế hoạch kĩ càng, và sự bất lực của các chỉ huy quân sự và chính trị của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa khi đối mặt với thực tế chiến sự, và do sự thi hành kém, Chiến dịch Lam Sơn 719 đã sụp đổ khi đối mặt với sự phản kháng kiên quyết và khéo léo của đối phương. Chiến dịch này đã là một thảm họa đối với Quân lực Việt Nam Cộng hòa, làm tiêu tan những đơn vị thiện chiến nhất của quân đội này, và phá tan sự tự tin đã được xây dựng trong ba năm trước đó. Việt Nam hóa chiến tranh, chiến lược mà nhiều quan chức dân sự và quân sự Mỹ coi là phương cách tốt nhất để cứu Việt Nam Cộng hòa và để Mỹ hoàn thành việc rút quân, đã thể hiện sự thất bại.

Chiến dịch này còn đánh dấu bước phát triển mới của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến sự bùng nổ ở Hạ Lào không giống như bất cứ trận chiến nào trước đó trong Chiến tranh Việt Nam. Đây là lần đầu tiên QĐNDVN bỏ chiến thuật cũ và tiến hành phản công theo kiểu chiến tranh chính quy truyền thống, lần đầu tiên QĐNDVN mở các đợt tấn công lớn bằng bộ binh với yểm trợ của thiết giáppháo binh hạng nặng để đè bẹp các vị trí của QLVNCH tại các cánh sườn của tiền đội chính. Sự hiệp đồng tác chiến của hỏa lực phòng không đã làm cho yểm trợ không quân chiến thuật và tăng viện bằng không quân của Mỹ trở nên khó khăn và chịu nhiều thiệt hại.

Quân đội Nhân dân Việt Nam dự đoán sẵn một nỗ lực quân sự tiếp theo tất yếu của sự Việt Nam hóa chiến tranh và bày sẵn thế trận tiêu hao đối thủ. Trong thời gian đầu của chiến dịch Quân đội Nhân dân Việt Nam cố gắng tìm cách giấu lực lượng để địch tiến về phía tây, chỉ đến khi không còn giữ được bí mật, mới tiến hành trận đánh Đại phá bản Đông, cho thấy Quân lực Việt Nam Cộng hòa thất bại "từ trong trứng". Hoặc một cách lập luận khác, Việt Nam Cộng hòa đã biết chắc thất bại nhưng vẫn tiến hành chiến dịch đẫm máu vì những lý do chính trị, như lời của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: "chỉ cần đến Xê-pôn rồi rút về".[cần dẫn nguồn]

Hoàn cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống đường Trường Sơn

Trong thời kỳ 1959-1970, đường Trường Sơn đã trở thành tuyến hậu cần quan trọng của Quân đội Nhân dân Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam cho nỗ lực của họ nhằm thực hiện các hoạt động quân sự để lật đổ chính phủ Việt Nam Cộng hòa do Mỹ hỗ trợ và thống nhất đất nước. Chạy từ phía tây Bắc Trung Bộ qua vùng Đông Nam Lào và đi vào một số vùng phía Tây của miền Nam, hệ thống đường Trường Sơn đã là mục tiêu của các nỗ lực đánh phá ngăn chặn liên tục của Mỹ suốt từ năm 1966. Tuy nhiên, hỗ trợ các chiến dịch không kích, các hoạt động ngầm mới chỉ được thực hiện ở quy mô nhỏ trong địa phận của Lào nhằm ngăn chặn dòng người và hàng trên đường Trường Sơn.[7]

Hành quân bằng Thiết giáp M113

Kể từ năm 1966, trên 630.000 người, 100.000 tấn lương thực, 400.000 vũ khí, và 50.000 tấn đạn dược đã di chuyển qua mê cung của những con đường đất, đường rải đá, đường mòn, và các hệ thống vận chuyển đường sông dọc ngang vùng Đông Nam Lào, nối với một hệ thống hậu cần tương tự tại nước láng giềng Campuchia - Đường mòn Sihanouk.[8] Tuy nhiên, từ sau khi Norodom Sihanouk bị lật đổ năm 1971, chính quyền Lon Nol thân Mỹ đã không cho lực lượng quân Giải phóng tiếp tục sử dụng cảng Sihanoukville để nhận hàng. Về mặt chiến thuật, đây là một đòn nặng đối với nỗ lực của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do 70% hàng quân sự cho miền cực nam đã được chuyển đến qua cảng này.[9] Cú đòn tiếp theo vào hệ thống hậu cần đặt tại Campuchia đã được thực hiện vào mùa xuân và mùa hè năm 1970, khi quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa vượt qua biên giới và tấn công các khu căn cứ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam trong chiến dịch Campuchia.

Hoàn thành việc phá hủy các "thánh địa Cộng sản" tại Campuchia, các sở chỉ huy Mỹ tại Sài Gòn quyết định rằng thời gian đang thuận lợi cho một chiến dịch tương tự tại Lào. Các tướng lĩnh Mỹ tin rằng, nếu thực hiện một chiến dịch như vậy, tốt nhất là làm thật nhanh, trong khi các phương tiện chiến tranh của Mỹ vẫn còn sẵn có tại miền Nam Việt Nam. Một chiến dịch như vậy sẽ gây ra sự thiếu thốn đạn dược vũ khí cho Giải phóng quân sau 12 đến 18 tháng, trong khi quân đội Mỹ rút dần ra khỏi miền Nam Việt Nam, và nhờ đó trì hoãn một cuộc tấn công lớn của Quân Giải phóng vào các tỉnh phía Bắc Việt Nam Cộng hòa trong vòng 1 năm, thậm chí có thể 2 năm.[10]

Binh sĩ Việt Nam Cộng hòa thuộc Tiểu đoàn 1 Cơ giới tại Mặt trận Đường 9 Nam Lào

Khi đó đang có các dấu hiện ngày càng tăng của hoạt động hậu cần tại miền Đông Nam Lào, hoạt động này báo hiệu một cuộc tấn công lớn của quân đội nhân dân Việt Nam.[11] Các cuộc tấn công này thường xảy ra vào gần cuối mùa khô tại Lào (từ tháng 10 đến tháng 3), mùa các lực lượng hậu cần của Quân đội Nhân dân Việt Nam hoạt động mạnh nhất. Một báo cáo tình báo Mỹ ướng tính khoảng 90% lượng quân nhu của Quân đội Nhân dân Việt Nam chuyển dọc đường Trường Sơn đang được điều vào 3 tỉnh cực Bắc của Việt Nam Cộng hòa, hiện tượng này cho thấy sự chuẩn bị cho một cuộc tấn công lớn.[12] Đây là một tín hiệu cảnh báo cho cả Washington và chỉ huy Mỹ tại Việt Nam, hối thúc về sự cần thiết của một cuộc tấn công ngăn chặn để làm trật bánh các mục tiêu của QĐNDVN trong tương lai.[13]

Lực lượng tham chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Mỹ và Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng của Mỹ, Việt Nam Cộng hòa trong cuộc hành quân này gồm có:

  • Quân lực Việt Nam Cộng hòa: tổng cộng khoảng 31 ngàn quân, gồm:
  • Quân đội Mỹ: tổng cộng khoảng 10 ngàn quân, gồm:
    • 12 tiểu đoàn bộ binh: 5 tiểu đoàn thuộc sư đoàn dù 101, 4 tiểu đoàn lữ 1 sư đoàn 5 bộ binh cơ giới, 3 tiểu đoàn thuộc sư đoàn Americal
    • 8 tiểu đoàn pháo binh (cỡ pháo từ 155 đến 203 mm)
    • 1.200 máy bay: 800 trực thăng, 300 máy bay phản lực, 50 máy bay vận tải cỡ lớn và 50 máy bay ném bom chiến lược B-52.

Trong diễn biến, khi cao nhất - ngày 10/3/1971, quân Mỹ đã tăng tổng số quân từ 9.000 dự kiến lên đến 15.000, điều động 5 tiểu đoàn thiết giáp (tăng hơn dự kiến 1 tiểu đoàn) và 4 tiểu đoàn pháo binh (tăng hơn dự kiến 1 tiểu đoàn) để hỗ trợ trực tiếp; điều động khẩn cấp 3 lữ đoàn bộ binh trong 2 ngày 23 và 24 tháng 2 năm 1971 từ Thừa Thiên ra vùng Quáng Ngang, Mai Lộc, điểm cao 241, Khe Sanh (tức là Lữ đoàn 11 bộ binh Mỹ, 2 lữ đoàn dù thuộc Sư đoàn 101 dù Mỹ) và thêm 4 tiểu đoàn pháo binh (tăng hơn dự kiến 2 tiểu đoàn) để bảo vệ phía sau. Đây là không kể hơn 300 máy bay lên thẳng được điều thêm để phục vụ cho cơ động và vận chuyển lực lượng.

  • Ngoài ra còn có 2 binh đoàn Quân đội Hoàng gia Lào với khoảng 4.000 quân (thuộc 2 binh đoàn cơ động GM30 và GM33)

Theo QĐNDVN, lực lượng Mỹ-VNCH trên địa bàn chiến dịch lúc cao nhất có 55.000 quân, gồm 15 trung đoàn bộ binh, 3 thiết đoàn thiết giáp gồm 578 xe tăng, xe bọc thép, 318 khẩu pháo, 700 máy bay các loại[14].

Quân đội Nhân dân Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng cộng có khoảng 50.000 quân, với chỉ huy là Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là "Bộ tư lệnh 702").

  • Các sư đoàn bộ binh: 2, 304, 308, 320324
  • Ba tiểu đoàn tăng, thiết giáp: 297, 397, 198, với 88 xe tăng ([33 xe T-34/85, 22 xe T-54, 33 xe tăng lội nước PT-76)
  • Một số tiểu đoàn đặc công
  • Ba trung đoàn pháo binh cơ giới: 368, 38, 45
  • Trung đoàn pháo mang vác 84
  • Ba trung đoàn pháo phòng không: 230, 241, 591
  • Ba trung đoàn công binh: 219, 83, 7
  • Bảo vệ hậu phương chiến lược, trực tiếp của chiến dịch là Sư đoàn phòng không 367 gồm 3 trung đoàn pháo phòng không 282, 284, 224 và hai trung đoàn tên lửa 238, 237
  • Các lực lượng tại chỗ của B5, B4 và Đoàn 559

Xét về tương quan, hai bên khá tương đương về quân số, tuy nhiên phía Mỹ và VNCH mạnh hơn hẳn về trang bị và hỏa lực hạng nặng (gấp 4 lần về thiết giáp, 3 lần về pháo hạng nặng và hơn tuyệt đối về không quân).

Chiến lược và kế hoạch[sửa | sửa mã nguồn]

Mục tiêu của QLVNCH là xâm chiếm phần lãnh thổ Lào quanh đường 9, kéo dài từ biên giới tới thị trấn Xê-pôn; tiêu diệt lực lượng đối phương đóng trong vùng; phá hủy tất cả các kho xăng dầu và hậu cần; kiểm soát mọi sự thâm nhập dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh từ Bắc vào Nam.

Đối với QLVNCH, chiến thuật cơ bản của Lam Sơn 719 là đánh-và-rút. Trên kế hoạch, điều này là khả thi do yểm trợ về không quân và khả năng di chuyển bằng máy bay. Để gây thiệt hại tối đa về người cho QĐNDVN, QLVNCH sẽ tiến công và thiết lập các cứ điểm mạnh, kéo đối phương vào các vùng trống, tạo điều kiện cho hỏa lực mạnh của không quân và pháo binh Mỹ phát huy hiệu quả. Các nhà chiến lược quân sự Mỹ cho rằng, với "ưu thế tuyệt đối, 600 - 1.000 máy bay lên thẳng sẽ cho phép 20.000 quân Sài Gòn làm được những điều mà phải cần đến 8 hoặc 10 vạn quân".

Ngày 7 tháng 1 năm 1971, MACV nhận được thẩm quyền lập kế hoạch chi tiết cho cuộc tấn công vào các khu căn cứ 604 và 611 của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tướng James W. Sutherland, Jr., được giao nhiệm vụ lập kế hoạch để MACV thông qua.

Theo kế hoạch, chiến dịch sẽ bao gồm 4 pha. Trong pha đầu tiên, quân Mỹ sẽ chiếm vùng sát biên và thực hiện các hoạt động nghi binh. Tiếp theo, đội hình dù phối hợp tăng thiết giáp của VNCH sẽ tấn công dọc theo đường 9 về phía thị trấn Xê-pôn của Lào - căn cứ hậu cần 604 của QĐNDVN. Đội hình tiến công sẽ được bảo vệ bởi các đơn vị dù và biệt động quân ở sườn phía bắc và Sư đoàn 1 Bộ binh ở sườn phía Nam. Trong pha thứ 3, các hoạt động tìm diệt tại Xê-pôn sẽ được thực hiện. Cuối cùng, các lực lượng của VNCH sẽ rút ra dọc theo đường 9 hoặc qua căn cứ 611 và ra khỏi địa phận Lào qua thung lũng A Sầu.[15] Những người lập kế hoạch đã hy vọng rằng quân đội của VNCH có thể trụ lại Lào cho đến khi mùa mưa đến vào đầu tháng 5.[16]

Phần chiến dịch do Mỹ thực hiện được đặt tên Dewey Canyon II, lấy tên theo chiến dịch Dewey Canyon do thủy quân lục chiến Mỹ thực hiện tại vùng Tây Bắc Việt Nam Cộng hòa năm 1969, với hy vọng rằng sự trùng tên này sẽ làm Hà Nội nhầm lẫn về mục tiêu chính của cuộc tấn công. Phần của Quân lực Việt Nam Cộng hòa được đặt tên Lam Son 719, con số 719 được ghép từ năm 1971 và Đường 9 - trục chính của cuộc tấn công.

Ngày 29 tháng 1, Tổng thống Mỹ Nixon phê chuẩn lần cuối đối với chiến dịch. Ngày hôm sau, chiến dịch Dewey Canyon II bắt đầu. Việt Nam Cộng hòa sắp bước vào chiến dịch lớn nhất, phức tạp nhất, và quan trọng nhất của họ trong cuộc chiến tranh.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 2 năm 1971, 17.000 (sau tăng lên 21.000) quân VNCH vượt biên giới với Lào đi theo đường 9 và hướng về trung tâm hậu cần của QĐNDVN tại Xê-pôn. Chiến dịch Lam Sơn 719, cuộc tấn công vào hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh và cuộc thử nghiệm lớn chính sách Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ, đã bắt đầu.[17] Theo luật, quân đội Mỹ (ngoại trừ các đơn vị không quân, pháo binh, và trực thăng) không được phép tham gia cuộc xâm lấn.[18]

QLVNCH đã tấn công, tiến đến các vị trí đã định trong kế hoạch. Nhưng không chốt giữ được lâu để thực hiện mục đích ngăn cản sự tiếp tế. QĐNDVN đã dự đoán trước được hướng tiến công nên đã chủ động thực hiện phòng ngự - phản công, gây thiệt hại lớn và ngăn chặn được ý đồ chia cắt của QLVNCH.

Đợt 1 (31/1 - 7/2)[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là giai đoạn bên tấn công chuẩn bị hậu cần, chuyển quân. Sở chỉ huy chiến dịch (Quân đoàn 1 QLVNCH) chuyển từ Đà Nẵng tới Đông Hà, chuẩn bị hậu cần để tiếp nhận lực lượng tăng cường từ Sài Gòn. QLVNCH thực hiện các hoạt động nghi binh như thể sắp vượt giới tuyến 17 đánh ra Bắc. Cuối cùng, sở chỉ huy chuyển về đặt tại Khe Sanh.

Đầu tháng 2 năm 1971, trên hướng phối hợp đông đường 9 gồm các huyện Gio Linh, Cam Lộ, Hướng Hóa do Mặt trận đường 9 - bắc Quảng Trị chỉ huy, từ ngày 1 đến 5 tháng 2 năm 1971, Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 27), Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 84 pháo binh) của QĐNDVN tiến công chế áp quân QLVNCH ở khu vực Tân Lâm, Sa Mưu; Tiểu đoàn 3 độc lập tập kích quân QLVNCH ở tây Đầu Mầu, Tiểu đoàn 15 đánh cắt giao thông từ Bồng Kho đi Rào Quán. Trong hai ngày 6 và 7 tháng 2 năm 1971, Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 84 pháo binh) bắn 200 viên đạn pháo các loại vào căn cứ Đông Hà và Sở chỉ huy tiền phương Sư Đoàn 1 Bộ Binh QLVNCH ở điểm cao 241... Trên hướng tây đường 9 bao gồm các khu vực Đồng Hến (Atsaphangthong), Pha Lan (Thaphalanxay), Mường Phìn (Phine) tỉnh Savannakhet của nước Lào, Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) phối hợp với Quân Pathet Lào, trong hai ngày (25 và 26 tháng 1 năm 1971) đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn đặc nhiệm, Binh đoàn GM33 ở Pha Lan.

Ngày 6 tháng 2, Bộ Quốc phòng VNDCCH ra quyết định thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào với mật danh "bộ tư lệnh 702". Một lực lượng lớn gồm bộ binh, pháo binh và thiết giáp, phòng không tên lửa được đặt dưới sự chỉ huy của Bộ tư lệnh mặt trận sẵn sàng đợi lệnh.

Tấn công[sửa | sửa mã nguồn]

Tối 7-2, Tổng thống Mỹ Richard Nixon nhận được bản báo cáo đầu tiên: cuộc tiến quân vượt biên giới Việt – Lào đã tiến hành "theo đúng kế hoạch", mà không gặp bất kỳ sự cản trở nào.

8 giờ ngày 8 tháng 2 năm 1971, Tống thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố mở cuộc tiến công nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tuyên bố: "Sẽ đón các nhà báo quốc tế tại Xê-pôn"...[cần dẫn nguồn].

Đầu năm 1971, tình báo Mỹ ước tính lực lượng QĐNDVN tại Căn cứ 604 là 22.000 người, gồm 7.000 lính chiến đấu, 10.000 người trong các đơn vị hậu cần và hỗ trợ, và 5.000 quân Pathet Lào, tất cả nằm dưới sự chỉ huy của Mặt trận 702 mới được thành lập.[19] Đã có nhiều quan điểm khác nhau về phản ứng có thể của QĐNDVN đối với cuộc tấn công. Tướng Abrams tin rằng, không như ở Campuchia, tại các căn cứ ở Lào, QĐNDVN sẽ trụ lại và chiến đấu. Ngay từ ngày 11 tháng 12, ông đã báo cáo với Đô đốc McCain (1911-1981) rằng

các đội hình bộ binh, thiết giáp, và pháo mạnh đã có mặt ở Nam Lào... các tuyến phòng không ghê gớm đã được triển khai... địa hình rừng núi là một trở ngoại bổ sung. Các bãi trống tự nhiên cho trực thăng hạ cánh hiếm và khả năng lớn là đã được phòng thủ chặt chẽ. Các khối lớn các đơn vị chiến đấu đang ở trong vùng lân cận Xê-pôn, và QĐNDVN chắc sẽ bảo vệ các căn cứ và các trung tâm hậu cần của mình trước bất kì hoạt động quân sự nào của Mỹ và đồng minh.[20]

Tuy nhiên, tình báo MACV đã tin rằng cuộc xâm nhập sẽ chỉ bị chống cự nhẹ. Các cuộc không kích chiến thuật và pháo sẽ làm mất tác dụng của số lượng vũ khí phòng không trong khu vực được ước tính là từ 170 đến 200 khẩu, và mối đe dọa từ các đơn vị thiết giáp QĐNDVN được coi là tối thiểu. Khả năng tăng viện của QĐNDVN được xác định là từ hai sư đoàn đóng phía bắc Khu Phi Quân sự sẽ đến sau 14 ngày, và MACV hy vọng rằng các hoạt động nghi binh sẽ giữ chân các đơn vị này trong thời gian xảy ra chiến dịch.[21] Tuy nhiên, khi viện binh của QĐNDVN đến nơi, họ lại không đến từ phía bắc như MACV dự đoán, mà lại từ Căn cứ 611 và thung lũng A Sầu ở phía nam, nơi 8 trung đoàn, tất cả đều có các đợn vị pháo binh hữu cơ, đang ở trong tầm 2 tuần hành quân.

Ngay từ ngày 26 tháng 1, QĐNDVN đã đang chờ đợi một cuộc tấn công.[22]

Sau các đợt bắn phá dữ dội của hàng chục trận địa pháo gồm hàng trăm khẩu từ 105 mm tới 175 mm bố trí dọc biên giới Việt - Lào trên một chính diện 30 km; và các phi vụ ném bom B-52 dọc hai bên Đường 9 - Nam Lào, cuộc hành quân Lam Sơn - 719 bắt đầu vào ngày 8 tháng 2, khi cánh quân chính của Việt Nam Cộng hòa, lực lượng hiệp đồng thiết giáp/bộ binh gồm 4000 quân thuộc Lữ đoàn 3 Thiết giáp và các Tiểu đoàn 1 và 8 Nhảy dù, tiến về phía Bản Đông theo đường 9 không gặp phản kháng. Để bảo vệ sườn phía bắc, Tiểu đoàn 39 Biệt động quân được không vận tới bãi đáp Ranger North (biệt động quân bắc), còn Tiểu đoàn 21 Biệt động quân tới Ranger South (biệt động quân nam). Các tiền đồn này có nhiệm vụ làm rào cản đối với bất kỳ cuộc tiến quân nào của Quân đội Nhân dân Việt Nam từ phía Bắc vào khu vực xâm nhập của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Cùng thời gian đó, Tiểu đoàn 2 Nhảy dù chiếm cứ điểm 30 (Fire Support Base 30), còn sở chỉ huy Lữ 3 Dù cùng Tiểu đoàn 3 Nhảy dù tới cứ điểm 31. Đồng thời, các đơn vị của Sư đoàn 1 Bộ binh đánh chiếm các bãi đáp Blue, Don, White, và Brown cùng các cứ điểm Hotel, Delta, và Delta 1, che chắn sườn phía nam của đội hình chính.[23]

Nhiệm vụ của đội hình chính là tiến theo thung lũng sông Xê-pôn, một dải đất tương đối bằng phẳng với cây bụi xen lẫn rừng thưa, phía Bắc và phía Nam là núi cao. Gần như ngay lập tức, các trực thăng tiếp vận chịu hỏa lực từ các đỉnh cao, nơi các tay súng Quân đội Nhân dân Việt Nam có thể dùng súng máy và súng cối bắn xuống máy bay. Thêm vào đó, đường 9 xấu đến mức chỉ có xe bánh xích và xe jeep có thể đi được về phía Tây. Điều này đặt gánh nặng tăng viện và hậu cần cho máy bay. Các đơn vị trực thăng trở thành hình thức hậu cần sống còn, một vai trò trở nên ngày càng nguy hiểm do trần mây thấp và hỏa lực phòng không không dứt.[24]

M41 Walker Bulldog, xe tăng chiến đấu chính của QLVNCH

Ngày 10 tháng 2, lực lượng thiết giáp QLVNCH kiểm soát được Đường 9 cho đến Bản Đông, nằm sâu 20 km trong địa phận Lào và ở khoảng giữa đường tới Xê-pôn. Đến 11 tháng 2, Bản Đông trở thành căn cứ và là trung tâm chỉ huy chiến dịch. Theo kế hoạch, cần tấn công mạnh để chiếm giữ mục tiêu chính, nhưng Quân lực Việt Nam Cộng hòa lại dừng lại ở Bản Đông để chờ lệnh tiến của tướng Lãm.[25] Hai ngày sau, tướng Abrams và Sutherland bay đến sở chỉ huy tiền phương của Hoàng Xuân Lãm tại Đông Hà để đẩy nhanh lịch trình. Nhưng tại cuộc họp, thay vào đó, các tướng đã quyết định đẩy các tiền đồn của Sư đoàn 1 Bộ binh ở phía Nam đường 9 về phía Tây để bảo vệ sườn cho hướng tiến quân theo kế hoạch. Việc chuyển quân này tốn thêm 5 ngày nữa.[26] Trong khi đó, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tổ chức vây hãm Bản Đông từ nhiều phía, không để cho cánh quân chính của Việt Nam Cộng hòa theo đường 9 tiến lên Xê-pôn.

Tại Washington, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Melvin Laird phủ nhận khẳng định của các nhà báo rằng cuộc tiến công của VNCH đã đình trệ. Tại một cuộc họp báo, Laird tuyên bố rằng A Loui (Bản Đông) chỉ là một điểm tạm dừng để các chỉ huy QLVNCH có cơ hội "quan sát và đánh giá các di chuyển của đối phương.... Chiến dịch đang tiến triển theo kế hoạch."[27]

Về phía QĐNDVN, sáng 9 tháng 2, Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) tăng cường cho Sư đoàn 308 liên tiếp đánh bại 5 đợt tiến công của chiến đoàn đặc nhiệm dù tại chốt 351 cầu Cha Kỵ, diệt gần hai đại đội. Cùng ngày, tại đường 16, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88 (Sư đoàn 308) đánh thiệt hại nặng Đại đội 2 (Tiểu đoàn 21 Biệt động quân) bảo vệ an toàn trận địa pháo Làng Sen.

Đêm 11 tháng 2, Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 88) và Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 64) tập kích Tiểu đoàn 2 dù ở bắc Sê Num.

Từ ngày 11 đến 13 tháng 2, Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) liên tiếp đánh thắng hai trận ở khu vực điểm cao 456 và đồi Không tên, tiêu diệt 3 đại đội của Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 6 (Lữ đoàn dù 3) chốt giữ căn cứ 31 (điểm cao 543) bắc Bản Đông 7 km. Cùng thời gian này, trên hướng nam và tây Bản Đông, các mũi tiến công của QLVNCH đều bị chặn đánh quyết liệt.

Phản công[sửa | sửa mã nguồn]

Phản ứng của QĐNDVN đối với cuộc xâm nhập phát triển dần dần. Ban đầu Hà Nội tập trung chú ý vào một hoạt động nghi binh cho Hải quân Mỹ thực hiện ở ngoài khơi VNDCCH. Lực lượng này thực hiện tất cả các hoạt động cần thiết cho việc đổ bộ vào một địa điểm chỉ cách thành phố Vinh 20 km.[28] Nhưng sự chú ý này không kéo dài, Binh đoàn 70 QĐNDVN đã lệnh cho 3 sư đoàn 304, 308, và 320 vào vùng chiến sự ở Nam Lào. Sư đoàn 2 cũng đã hành quân từ phía Nam tới phu vực Sê-pôn và bắt đầu tiến về phía đông để đón mối đe dọa của VNCH. Đến đầu tháng 3, QĐNDVN đã có 36.000 quân trong khu vực, gấp rưỡi quân số của VNCH.[29] Trung tuần tháng 2 năm 1971, sau khi chiến dịch mất tính bất ngờ, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (QĐNDVN) chỉ thị cho các đơn vị trong Binh đoàn 70 trên hướng chủ yếu của chiến dịch chuyển sang tiến công.

Phương pháp mà QĐNDVN chọn để đánh bại cuộc xâm lấn là: Trước hết, pháo phòng không được sử dụng để cô lập các căn cứ hỏa lực ở phía bắc. Các vị trí vòng ngoài sẽ bị giã suốt ngày đêm bằng pháo, rốc-két, và súng cối. Tuy các căn cứ hỏa lực của QLVNCH được trang bị pháo, nhưng các khẩu pháo của họ thường dưới tầm các khẩu pháo Liên Xô cỡ 122 mm và 130 mm của QĐNDVN, việc hỗ trợ của không quân thì không hiệu quả do QĐNDVN ngụy trang kỹ các trận địa pháo. Do vậy các khẩu pháo của QĐNDVN này chỉ cần đứng một chỗ và nã đạn vào các vị trí này. Vành phòng thủ mà đáng ra đã có thể được thiết lập bằng cách sử dụng B-52 chiến thuật đã bị vô hiệu hóa bởi các chiến thuật đánh gần của QĐNDVN.[30] Tiếp theo, các cuộc tấn công tập trung bằng bộ binh với yểm trợ bằng pháo và tăng sẽ kết thúc việc đánh chiếm.

Tại cứ điểm 31, binh sĩ QĐNDVN đứng trên đỉnh hầm chỉ huy đã bị đánh sập của Lữ 3 Dù QLVNCH

Tại hướng bắc Đường 9 - Nam Lào, từ ngày 16 tháng 2, QĐNDVN đã bắt đầu tấn công các cứ điểm Rangers North và Rangers South. Ngày 19, các cuộc tấn công tập trung vào Ranger North (điểm cao 500) - vị trí do Tiểu đoàn 39 (Liên đoàn 21 biệt động quân) chiếm giữ. Lực lượng tấn công trên bộ là Trung đoàn 102 Thủ Đô của Sư đoàn 308, do Trung đoàn trưởng Hoàng Ngọc Tý và Chính ủy Nguyễn Hữu Ích chỉ huy, hỗ trợ bởi các xe tăng PT-76T-54.[31] Đến chiều ngày 20, tuy có sự hỗ trợ của B-52 và pháo, quân số của Tiểu đoàn 39 đã giảm từ 500 tay súng xuống còn 323, họ và bắt đầu rút về phía Ranger South cách đó 6 km.[32] Đến đêm, chỉ có 109 người đến được Ranger South. Trong nỗ lực hỗ trợ Tiểu đoàn 39, 10 máy bay Mỹ, trong đó có 6 máy bay trực thăng, đã bị bắn rơi. Mỹ ước tính QĐNDVN thương vong khoảng 600 binh sĩ trong trận này.[33]

Ngày 21 tháng 2, đến lượt Ranger South, nơi có 400 quân của VNCH với hơn 100 quân từ Ranger North đến, bị tấn công. Lực lượng này giữ vị trí thêm 2 ngày trước khi tướng Lãm ra lệnh rút về Cứ điểm 30 cách đó 5 km về phía đông nam.[34]

Ngày 23 tháng 2, cứ điểm Hotel 2 ở phía nam Đường 9 bị tấn công dữ dội bằng pháo binh và bộ binh. Hôm sau, lực lượng QLVNCH tại đây rút khỏi cứ điểm.

Từ ngày 26 đến 28 tháng 2, được sự hỗ trợ đắc lực của các đơn vị tại chỗ của Đoàn 559, phối hợp với Sư đoàn 308 và Sư đoàn 320 hoạt động ở hướng bắc, các Sư đoàn 304, 324, 2 ở hướng nam và tây nam Đường 9 chuyển từ chốt chặt sang tiến công, đánh thiệt hại nặng Sư Đoàn 1 Bộ BinhSư đoàn lính thủy đánh bộ QLVNCH, phá tan các đợt "nhảy cóc" lùng sục đánh phá kho tàng.

Căn cứ 31 (điểm cao 543) - vị trí then chốt 2 ở phía bắc là cứ điểm tiếp theo bị đánh chiếm. Căn cứ này đã bị Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320 QĐNDVN), do Trung đoàn trưởng Khuất Duy Tiến và Chính ủy Đặng Văn Trượng chỉ huy, bao vây tiến công từ ngày 21 tháng 4. Hỏa lực phòng không dữ dội của QĐNDVN làm cho việc tăng viện và hậu cần cho căn cứ 31 trở nên bất khả thi. Tướng Dư Quốc Đống, chỉ huy Sư đoàn Dù VNCH khi đó đã lệnh cho các đơn vị của Thiết đoàn 17 từ Bản Đông tiến về phía bắc để tăng cường cho căn cứ. Nhưng lực lượng này đã không bao giờ tới nơi do các mệnh lệnh mâu thuẫn của tướng Lãm và tướng Đống.[35]

Trong khi đó, bằng chiến thuật vây lấn, từ ngày 21 đến 24 tháng 2, các đơn vị của Trung đoàn 64 QĐNDVN đã lần lượt tiêu diệt các trận địa hỏa lực và trận địa phòng ngự vòng ngoài, cắt đường bộ từ Bản Đông lên căn cứ 31. Trưa 25 tháng 2, bằng trận tiến công hiệp đồng binh chủng, Trung đoàn 64 đã làm chủ căn cứ 31, tiêu diệt Lữ đoàn 3 dù, bắt sống đại tá Lữ đoàn trưởng Nguyễn Văn Thọ và toàn bộ Ban tham mưu. Lữ đoàn 1 Dù và Lữ đoàn 1 Thiết giáp tại các căn cứ 30 và Bản Đông khi đó cũng đang bị Quân giải phóng tấn công nên đã không thể hỗ trợ. Thiệt hại của QĐNDVN được Mỹ ước tính là 250 người chết, 11 xe tăng PT-76 và T-54 bị diệt. QLVNCH có 155 người chết, 100 bị bắt chưa kể số bị thương.[36]

Cứ điểm 30 chỉ trụ được thêm khoảng 1 tuần. Tuy độ dốc của ngọn đồi mà cứ điểm đặt trên đó đã loại trừ khả năng tấn công bằng xe tăng, sự bắn phá của pháo binh QĐNDVN đã rất hiệu lực. Đến ngày 3 tháng 3, 6 khẩu lựu pháo 105 li và 155 li của cứ điểm đã bị phá hỏng.

Để cứu trợ cứ điểm 30, Thiết đoàn 17 QLVNCH đã tiến về phía căn cứ này [37]. Xe tăng của QĐNDVN và QLVNCH đã giáp chiến lần đầu trong Chiến tranh Việt Nam tại phía bắc Đường 9. Trong 5 ngày từ 25 tháng 2, khi cứ điểm 31 bị đánh bại, đến 1 tháng 3, 3 trận đánh lớn đã xảy ra, trong đó QLVNCH được sự hỗ trợ của máy bay. QLVNCH mất 5 xe tăng M-41 và 25 xe bọc thép chở quân (APC). Thiệt hại của QĐNDVN theo báo cáo của QLVNCH là 17 xe tăng hạng nhẹ PT-76 và 6 xe T-54 bị bắn cháy.[38] Báo cáo của QLVNCH bị các sĩ quan Mỹ nghi ngờ, tướng Sutherland cho rằng đây chỉ là điều bịa đặt. Tài liệu của QĐNDVN thì chỉ xác nhận trong giai đoạn này, họ có 1 chiếc T-54 bị chết máy và phải tự phá hủy.

Trong các cuộc tấn công kể trên vào các căn cứ hỏa lực và các đội quân cứu viện, các đơn vị của QĐNDVN đã chịu thương vong cao từ bom, pháo, tấn công từ trực thăng trang bị súng, và hỏa lực nhỏ. Tuy nhiên, họ luôn thể hiện sự thiện chiến và quyết tâm cao làm đối phương sửng sốt và ấn tượng. William D. Morrow, cố vấn của Sư đoàn Dù QLVNCH trong cuộc tấn công, đã ca ngợi các lực lượng của QĐNDVN một cách ngắn gọn - "họ có thể đánh bại bất cứ quân đội nào thực hiện cuộc xâm lấn này." [39]

Các chiến thắng phá tung cánh cung hướng bắc và chiến thắng ở hướng nam đường 9 đã tạo điều kiện thuận lợi cho QĐNDVN triển khai lực lượng tiến công đội hình trung tâm của QLVNCH từ Lao Bảo đến Bản Đông.

Đến Tchepone[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 3, cho rằng thời cơ đã đến, Quân ủy Trung ương QĐNDVN đã chỉ thị cho Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận 702 "Tập trung tiêu diệt địch trong khu vực Bản Đông" với thời gian càng nhanh càng tốt. Sư đoàn 308 và các Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320), Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304) được lệnh tập trung bao vây tiến công tập đoàn cứ điểm Bản Đông. Sư đoàn 2 (Quân khu 5) hoạt động ở hướng nam bao vây kìm chân hai trung đoàn của Sư đoàn 1 bộ binh VNCH, ngăn không cho chi viện Bản Đông. Trung đoàn 24 (Sư đoàn 304) và một số tiểu đoàn của Mặt trận chốt giữ đường 9 giữa Bản Đông và Lao Bảo, quyết chặn không cho đối phương chạy thoát.

Trong khi đội hình chính của QLVNCH đang dậm chân tại Bản Đông đã được 3 tuần, còn các đơn vị Dù và Biệt động quân đang chiến đấu để sống sót, Tổng thống Thiệu và tướng Lãm quyết định thực hiện một cuộc tấn công trực thăng vận xuống chính Xê-pôn. Mặc dù các nhà lãnh đạo Mỹ và các phóng viên đã tập trung vào thị trấn bỏ hoang này như là một trong các mục tiêu chính của Lam Sơn 719, nhưng nơi mà hệ thống hậu cần của QĐNDVN đi qua thực ra lại nằm ở phía Tây của thị trấn bị tàn phá. Tuy nhiên, nếu các lực lượng của VNCH có thể chiếm giữ Xê-pôn thì Nguyễn Văn Thiệu sẽ có được một lí do chính trị để tuyên bố "chiến thắng" và rút quân về Nam Việt Nam.[40]

Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa

Cuộc tấn công này đã giao cho Sư đoàn 1 Bộ binh VNCH đang chiếm giữ các căn cứ phía nam Đường 9 thực hiện, chứ không phải cho đội hình chính với thiết giáp yểm trợ hiện đang ở Bản Đông, cũng không phải lực lượng Thủy quân lục chiến dự phòng. Điều đó có nghĩa là, trước hết, Thủy quân lục chiến phải được đưa vào thay chân Sư đoàn 1 ở phía nam đường 9, việc này làm chậm thêm quá trình tiến quân. Bộ chỉ huy QLVNCH quyết định đưa thêm đội 2 gồm Lữ đoàn 2 Dù, Trung đoàn 147 và 258 Lính thủy đánh bộ tham chiến.

Cuộc tấn công bắt đầu vào ngày 3 tháng 3, khi các đơn vị của Sư đoàn 1 Bộ binh được không vận tới 2 căn cứ hỏa lực (Lolo và Sophia) và bãi đổ bộ Liz, tất cả đều ở phía nam Đường 9. 11 chiến trực thăng đã bị bắn rơi và 44 chiến khác bị bắn hỏng khi chở 1 tiểu đoàn tới căn cứ Lolo.[41] Ba ngày sau, 276 trực thăng UH-1 được bảo vệ bởi các máy bay Cobra mang súng và máy bay tiêm kích đã đưa các tiểu đoàn 2 và 3 của Trung đoàn 2 từ Khe Sanh tới Xê-pôn. Đây là cuộc đổ quân bằng trực thăng lớn nhất trong Chiến tranh Việt Nam.[42] Chỉ có 1 trực thăng bị hỏa lực phòng không bắn rơi khi quân đổ xuống bãi đổ bộ Hope, cách Xê-pôn 4 km về phía đông bắc.[43] Trong hai ngày, các đội trinh sát của hai tiểu đoàn này lùng soát Xê-pôn và khu vực xung quanh nhưng không đến gần vùng đồi núi ở phía Tây thị trấn. Họ không tìm thấy gì ngoài xác những người lính QĐNDVN bị chết bom. QĐNDVN đã phản ứng bằng cách tăng cường bắn phá hàng ngày vào các cứ điểm, đặc biệt là Lolo và Hope.

Trong khi đó, phối hợp với lực lượng tại Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị ở hướng đông, từ ngày 5 đến 10 tháng 3, QĐNDVN trên hướng chủ yếu liên tục đánh các lực lượng tiếp viện của QLVNCH đến giải tỏa cho Bản Đông, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 1 (Sư đoàn 1 Bộ binh VNCH), chia cắt đội hình QLVNCH ở Đường 9 - Bản Đông và các đơn vị bảo vệ hướng nam.

Rút lui[sửa | sửa mã nguồn]

Mục tiêu tại Lào có vẻ như đã đạt được, Tổng thống Thiệu và tướng Lâm ra lệnh rút quân, cuộc rút lui bắt đầu ngày 9 tháng 3 và sẽ kéo dài cho đến hết tháng, phá hủy Căn cứ 604 và các kho hàng gặp trên đường. Tướng Abrams khuyên Nguyễn Văn Thiệu nên tăng cường quân tại Lào để họ tiếp tục gây rối khu vực cho đến khi mùa mưa bắt đầu.[44] Tuy nhiên, chiến trận đã chuyển sang hướng có lợi cho QĐNDVN. Hỏa lực phòng không vẫn có sức hủy diệt mạnh, và QĐNDVN không gặp khó khăn trong việc hậu cần và tiếp viện cho các đơn vị tham gia chiến đấu.

Ngay khi thấy dấu hiệu rằng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã bắt đầu rút lui, QĐNDVN tăng cường nỗ lực nhằm tiêu diệt lực lượng này trước khi nó có thể về đến Nam Việt Nam. Hỏa lực phòng không được tăng cường để chặn đứng hoặc làm chậm các nỗ lực hậu cần và sơ tán của trực thăng, các căn cứ hỏa lực thiếu người bị tấn công, và các đơn vị trên bộ của QLVNCH phải đi qua một chuỗi đầy các ổ phục kích suốt dọc Đường 9.

QĐNDVN chiếm được căn cứ Lolo

Sáng 16/3, Sư đoàn 2 do Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn chỉ huy, được tăng cường Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320) thực hiện mệnh lệnh của Tư lệnh chiến dịch tiêu diệt Trung đoàn 1 bộ binh thuộc Sư đoàn 1 VNCH đang bỏ điểm cao 723 chạy về hướng Đông Bắc và lọt vào khu vực phục kích, đội hình đang rối loạn. Sau hai ngày tiến công, Sư đoàn 2 đã tiêu diệt và bắt sống 1.750 lính, diệt gọn Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 1 VNCH, bắn rơi 50 máy bay các loại, thu hàng trăm súng, pháo, súng cối hạng nặng.

Trên đà thắng, từ ngày 12 đến 17 tháng 3, các Trung đoàn 36 (Sư đoàn 308), 64 (Sư đoàn 320), 66 (Sư đoàn 304) và các đơn vị hỏa lực xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ của Quân giải phóng đã tiến công dồn dập tập đoàn cứ điểm Bản Đông do lữ đoàn 1 dù và 2 thiết đoàn đóng giữ. Trước sức tiến công mãnh liệt của QĐNDVN, ngày 18 tháng 3, do đã bị thiệt hại quá nặng, QLVNCH bắt đầu rút khỏi Bản Đông. Đến 20 tháng 3, cứ điểm Bản Đông bị tiêu diệt, QĐNDVN tuyên bố đã diệt 1.762 quân VNCH, bắt sống 107 lính, thu và phá hủy 113 xe quân sự, 24 khẩu pháo, bắn rơi 52 máy bay trực thăng. Trận đánh còn được gọi: Đại phá Bản Đông, mấu chốt chiến dịch, theo lời đề tựa của một bức ảnh của phóng viên Đoàn Công Tính.

Chỉ có một quân đội kỉ luật cao và hiệp đồng tốt mới có thể thực hiện được một cuộc lui quân có trật tự khi phải đối mặt với một đối phương quyết chiến, nhưng QLVNCH không có đặc điểm nào trong hai điều trên. Cuộc rút quân nhanh chóng biến thành một sự thảm bại hỗn loạn.[45] Những giờ phút bi thảm nhất của đạo quân chủ lực tinh nhuệ, thực hiện cuộc hành quân Lam Sơn - 719 đã diễn ra.

Ngày 19-3-1971, tiểu đoàn 3, Trung đoàn 27 QĐNDVN được lệnh cơ động phục kích ở động Na, Kế Sách, Ba Lào. Chờ xe tăng và thiết giáp lọt vào đội hình phục kích, tiểu đoàn đánh thẳng vào giữa đoàn xe. Sau 1 giờ chiến đấu, tiểu đoàn diệt gọn 28 xe tăng, thiết giáp, vận tải và tiêu diệt gần 100 lính. Hàng trăm binh lính QLVNCH vứt bỏ súng đạn, chạy cắt rừng hòng thoát thân đã bị bắt làm tù binh.

Ngày 20 tháng 3, QLVNCH đã hoàn toàn rút khỏi khu vực Bản Đông - nơi đã được chọn làm khu vực đánh trận then chốt. Từng cứ điểm đơn độc bị QĐNDVN tiêu diệt hoặc đánh bại, và mỗi chuyến rút quân đều phải trả giá đắt. Ngày 21 tháng 3 Thủy quân lục chiến tại cứ điểm Delta phía nam Đường 9 bị tấn công dữ dội bằng pháo binh và bộ binh. Trong một cố gắng rút quân không thành, 7 trực thăng bị bắn rơi và 50 chiếc khác bị trúng đạn.[46] Cuối cùng, lực lượng Thủy quân lục chiến tại đây đã liều phá vây và di chuyển đến nơi an toàn tại cứ điểm Hotel rồi cũng nhanh chóng rời bỏ cứ điểm này. Trong khi rút Trung đoàn 2 QLVNCH, 28 trong số 40 trực thăng tham gia đã bị bắn rơi hoặc hư hại.[47]

Đặc công QĐNDVN phá nổ kho đạn tại Khe Sanh, 23 tháng 3 năm 1971

Trên Đường 9 - Nam Lào, đoạn từ Bản Đông về Lao Bảo, hơn 100 xe tăng, xe thiết giáp QLVNCH bị chặn đánh. Lực lượng tăng thiết giáp này đã mất 60% số xe tăng và một nửa số xe bọc thép (APC), bỏ lại 54 khẩu lựu pháo 105mm và 28 khẩu 155mm.[48] Máy bay Mỹ lại phải phá hủy số xe pháo này để tránh bị đối phương chiếm và tái sử dụng. Nhiệm vụ bọc hậu trên Đường 9 trước được giao cho Sư đoàn Dù VNCH nay thuộc về Lữ đoàn 1 Thiết giáp. Khi được tù binh báo rằng trước mặt có 2 trung đoàn QĐNDVN đang mai phục, chỉ huy lữ đoàn, Đại tá Nguyễn Trọng Luật báo cáo cho Tướng Đống. Tư lệnh quân Dù đã điều lực lượng giải tỏa được đoạn đường nhưng lại không báo lại cho Đại tá Luật.[49] Để tránh bị tiêu diệt trên Đường 9, Đại tá Luật đã lệnh cho đội hình bỏ đường chính khi chỉ còn cách biên giới 5 km để đi vào đường mòn trong rừng. Tuy nhiên, con đường mòn lại dẫn đến ngõ cụt bên bờ dốc của sông Xê-pôn, đội hình bị tắc lại ở đây, trong khi QĐNDVN áp sát và tấn công dữ dội từ phía sau. Cuối cùng, hai xe ủi đất phải được trực thăng cẩu vào để QLVNCH tạo một đoạn sông cạn để lội qua.

Những binh lính sống sót về được Việt Nam vào ngày 23 tháng 3.[50] Đến ngày 25, 45 ngày kể từ khi bắt đầu chiến dịch, lực lượng còn sống sót của QLVNCH đã rút hết về được đến Việt Nam. Căn cứ tiền phương tại Khe Sanh cũng bị tấn công ngày càng mạnh bởi pháo và đặc công. Ngày 23-3-1971, phối hợp với lực lượng Đường 9 Nam Lào, bộ đội Đặc công B5 đã tập kích quân Mỹ ở Tà Cơn, tiêu diệt 100 phi công trực thăng và nhân viên kỹ thuật, phá hủy hoặc gây hư hại 42 máy bay lên thẳng, 6 xe tăng. Một bộ phận lực lượng QĐNDVN phát triển đánh vào khu vực Hướng Hóa, Khe Sanh làm quân Mỹ náo loạn[2] Ngày 6 tháng 4 đến lượt căn cứ này bị bỏ lại, các lực lượng của VNCH và Mỹ rút hết, Chiến dịch Lam Sơn 719 kết thúc.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy một đợt tấn công bằng trực thăng đã chiếm được được một phần Xê-pôn, nhưng đó là một kết quả phải trả bằng giá đắt, vì QLVNCH chỉ giữ thị trấn trong một thời gian ngắn ngủi trước khi phải rút lui do các cuộc tấn công vào đội hình chính. Mục tiêu chiến lược là cắt tuyến tiếp vận trên đường mòn Hồ Chí Minh đã không thực hiện được. Thiệt hại của QLVNCH là rất lớn, ví dụ, riêng Liên đoàn thiết giáp 1 đã tổn thất 21 chiến xa M-41, 26 xe thiết giáp các loại, 2 xe làm đường và 51 quân xa đủ loại, chiếm một nửa số xe ban đầu. Trong quá trình rút lui, 60% số xe tăng và một nửa số xe bọc thép chở quân (APC), cùng với 54 khẩu lựu pháo 105mm và 28 khẩu 155mm đã bị phá hủy hoặc bị chiếm mất.[48]

Theo QĐNDVN, chiến dịch phản công của họ kết thúc thắng lợi sau 45 ngày chiến đấu. QĐNDVN tuyên bố diệt 2 lữ đoàn (lữ đoàn dù 3 và lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến), 1 trung đoàn bộ binh (trung đoàn 1 Sư l) và 5 tiểu đoàn khác (tiểu đoàn 39 biệt động quân, tiểu đoàn 8 - lữ 1 dù, tiểu đoàn 2 của trung đoàn 3, tiểu đoàn 2 và 4 của trung đoàn 2 - Sư đoàn l), 4 thiết đoàn (4, 7, 11 và 17), 8 tiểu đoàn pháo (3 tiểu đoàn pháo của Sư đoàn 1, 2 tiểu đoàn pháo của Sư đoàn dù, 1 tiểu đoàn pháo của lữ 147, 1 tiểu đoàn pháo của biệt động quân và 1 tiểu đoàn pháo của lữ đoàn kỵ binh không vận), đánh thiệt hại nặng Sư đoàn dù, Sư đoàn 1 bộ binh, Sư đoàn thủy quân lục chiến. Bắn rơi, phá hủy hoặc thu giữ 556 máy bay (có 505 máy bay trực thăng), 43 tàu, xà lan, 1.138 xe quân sự (có 528 xe tăngxe bọc thép), 112 khẩu pháo và súng cối cỡ lớn[14].

Đây là cuộc hành quân thiệt hại nặng nề nhất đối với QLVNCH. Nếu xét phương diện một thử nghiệm của Việt Nam hóa chiến tranh, Lam Sơn 719 đã là một thất bại nặng nề. Hơn nửa lực lượng xâm lấn đã bị thương vong.[51] Lực lượng tinh nhuệ Biệt động quân và quân dù đã bị thiệt hại nặng, đây là các đơn vị dự bị chiến lược tốt nhất của Việt Nam Cộng hòa. Một tướng Mỹ sang giám sát tình hình đã nhận xét: "Chiến dịch Lam Sơn đã phá hủy mất phần tinh nhuệ nhất của QLVNCH và trở nên nghiêm trọng, bất lợi hơn nhiều so với điều mà người ta tưởng lúc đó. Việc điều khiển chiến dịch của chúng ta rất tồi. Toàn bộ vai trò và chỉ đạo yểm trợ của Mỹ không hoàn tất được vì sự quan liêu của Lầu Năm góc... Đây là một thử thách thực sự của chương trình "Việt Nam hóa". Lầu Năm góc đã từ chối không để người Mỹ tham gia vào chiến dịch. Sự yểm trợ mà Nam Việt Nam đã quá quen thuộc và đang mong đợi được tiếp tục, đến đây đã bị cắt đứt...". Tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ đã đánh giá: Đem một đội quân quen "lệ thuộc phần lớn vào quân đội khác về chỉ huy, về vũ khí và ngay cả chiến lược" để nhào nặn thành "mới" và tách ra độc lập tác chiến như kiểu Lam Sơn 719 rất khó mà địch nổi đối phương"[52]

Nếu xét về phương diện phá hoại hậu cần, chiến dịch này đã phá hủy được một số kho tàng và cơ sở vật chất của QĐNDVN. Theo đánh giá của Mỹ, chiến dịch này làm kế hoạch tấn công các tỉnh phía Nam giới tuyến của QĐNDVN bị chậm lại một năm. Nhưng về cơ bản, hệ thống tiếp tế của QĐNDVN đã không bị hư hại, số chuyến xe vận tải tăng lên ngay sau khi chiến dịch kết thúc[53]. Đầu năm 1972, lực lượng QĐNDVN đã tích lũy đủ đạn dược và lại tung ra một trận tổng tiến công nữa - Chiến dịch Xuân hè 1972.

Với kỹ thuật quân sự thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây, chiến thuật "trực thăng vận" đã tỏ nhược điểm, nhưng đến nay nhược điểm thể hiện trong trận đánh lớn danh tiếng. Lúc này đang có mâu thuẫn về xu hướng hiện đại hóa kỹ thuật quân sự, người ta đang tranh cãi xe tăng hay trực thăng vũ trang sẽ là bà chúa chiến trường. Chiến dịch đường 9 Nam Lào được giới khoa học quân sự nghiên cứu kỹ càng, chứng minh vị trí của trực thăng vũ trang. Tờ Người quan sát mới (Pháp) ngày 29/3/1971 bình luận: "Ý nghĩa sâu sắc của cuộc hành quân Lam Sơn 719 là chỉ ra thất bại lớn đầu tiên của loại máy móc từ trước đến nay vẫn được giới quân sự Mỹ dương dương tự đắc trong cuộc chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam – đó là máy bay lên thẳng".[54]

Ngày nay, trực thăng vũ trang chỉ được sử dụng ở tiền tuyến là kiểu máy bay chở ít người, bọc giáp tốt, chống tăng tốt, gọi là "trực thăng tấn công". Những loại có vỏ giáp mỏng và vũ trang yếu được lùi về tuyến sau để tham gia vận tải là chính. Ngày nay trực thăng không còn được sử dụng như xe bọc thép chở quân đến tiền tuyến (IFV).

Cũng như vậy, chiến dịch làm nổi nên vấn đề tồn tại từ lâu trong nghệ thuật pháo binh, pháo 175 mm tự hành nòng dài tầm xa (M107). Pháo được sơn dòng chữ "vua chiến trường" trên nòng do tầm bắn xa và uy lực rất mạnh, nhưng không bọc thép khi chiến đấu, cồng kềnh không tiện cho cơ động-trú ẩn, tốc độ bắn chậm, kém chính xác do tính toán và định vị ngày đó yếu. Do vậy khi đấu pháo, M107 không chống lại được kiểu pháo xe kéo M-46 130mm dù có tầm bắn xa và sức công phá của đạn mạnh hơn. Ngày nay pháo này không còn được Hoa Kỳ sử dụng, được coi như phát triển chưa hoàn chỉnh.

Tổn thất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quân lực Việt Nam Cộng Hòa: một tài liệu của VNCH thống kê con số thương vong là 1.529 chết, 5.483 bị thương và 625 mất tích, ngaòi ra còn có 1.142 bị bắt. Tuy nhiên theo tài liệu của Quân đoàn XXIV Hoa Kỳ (đơn vị tham gia hỗ trợ chiến dịch) thì con số thương vong của VNCH còn cao hơn nhiều, lên tới 8.483 chết, 12.420 bị thương, 691 mất tích.[55]
  • Quân đội Mỹ: 215 chết, 1.149 bị thương, 38 mất tích. Về trang bị, có 168 trực thăng bị bắn rơi và 618 chiếc khác bị bắn hỏng.[56]
  • Quân giải phóng: Theo số liệu của QĐNDVN, thương vong là 2.163 chết, 6.176 bị thương. Còn theo số liệu ước đoán của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa là 13.636 chết và bị thương.[cần dẫn nguồn]

Nguyên nhân thất bại của liên quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc hành quân này đã thất bại vì những lý do sau:

  • Cuộc hành quân không bảo đảm tính bất ngờ chiến lược, đã bị đối phương dự đoán và chuẩn bị từ lâu để chặn đánh.[14]
  • Các căn cứ của QGP là những nơi họ đã lâu năm thông thuộc địa bàn và có bố phòng. Ngay quân đội Hoa Kỳ với sức mạnh tổng lực như thế đã không thể làm gì nổi. Trong thời kỳ tìm-diệt, các Chiến dịch AttleboroJunction City đều đã thất bại. Hơn nữa, vùng Hạ Lào là nơi tập trung rất nhiều binh lực hiện đại của quân Giải phóng, còn mạnh hơn rất nhiều các khu căn cứ khác mà Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn chưa có đủ sức mạnh, kinh nghiệm và bản lĩnh để đương đầu. Trong chiến dịch, QLVNCH đã có những thiếu sót nghiêm trọng "từ việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, cho tới tinh thần và kỹ năng chiến đấu".[57]
  • Khi hoạch định kế hoạch, người ta chú ý nhiều đến khía cạnh phô trương sức mạnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đánh được vào "đất thánh Cộng sản" chứ ý nghĩa quân sự thì ít. ("Chỉ cốt sao đến được Xê-pôn rồi về" – Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) Chính vì để phô trương nên ban đầu khi gặp khó khăn rất lớn đã không chấm dứt chiến dịch mà cố gắng tiến khó nhọc đến Xê-pôn để rồi bị bao vây, phải cố sức mở đường máu quay về với thiệt hại lớn mới thoát dù chỉ cách biên giới vài chục km.[58]
  • Sự phối hợp của quân Mỹ và quân lực Việt Nam Cộng hòa không tốt. Không quân Mỹ chỉ ném bom B-52 dọn đường theo yêu cầu, còn nhiệm vụ phối hợp hoả lực chiến thuật cho bộ binh tác chiến thực hiện không hiệu quả.[59]
  • Lực lượng máy bay trực thăng vào khu vực đậm đặc phòng không đã chờ sẵn của đường mòn Hồ Chí Minh đã bị thiệt hại quá nặng nên không thể hoàn thành nhiệm vụ.[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ William Nolan, Into Laos. Novato CA: Presidio Press, 1986, tr. 358 Còn theo 1 số tài liệu khácVNCH: 8.483 chết
    12.420 bị thương
    691 mất tích
    Mỹ: 211 chết
    1.942 bị thương
    42 mất tích là các con số từ tài liệu Quân đoàn XXIV Hoa Kỳ. David Fulgham & Terrence Maitland, South Vietnam on Trial. Boston: Boston Publishing Compnay, 1984, tr. 90. So với 1.500 chết, 5.500 bị thương và 600 mất tích, Nguyen Duy Hinh, Lam Son 719. Washington DC: U.S. Army Center of Military History, 1979, tr. 129. William Nolan đưa ra các con số 1.529 chết, 5.483 bị thương và 625 mất tích, William Nolan, Into Laos. Novato CA: Presidio Press, 1986, tr. 358.
  2. ^ a ă http://baotanglichsu.vn/portal/vi/Tin-tuc/Theo-dong-lich-su/2014/02/3A923D7E/
  3. ^ http://www.history.army.mil/books/AMH-V2/AMH%20V2/chapter11.htm
  4. ^ a ă http://www.vhpa.org/KIA/incident/71032437KIA.HTM
  5. ^ Viện Sử học, Lịch sử Việt Nam 1965-1975, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội - 2002.
  6. ^ [1]
  7. ^ For a description of the air interdiction campaigns see Jacob Van Staaveren Interdiction in Southern Laos. Washington DC: Center of Air Force History, 1993. Xem thêm Bernard C. Nalty, The War Against Trucks. Washington DC: Air Force History and Museums Program, 2005. Về các hoạt động quân sự bí mật chống phá đường, xem John L. Plaster, Secret Commandos. New York: Simon & Schuster, 2004.
  8. ^ Fulghum & Maitland, tr. 65.
  9. ^ Arnold Isaacs, Gordon Hardy, & MacAlister Brown, Pawns of War. Boston: Boston Publishing Company, 1987, tr. 89.
  10. ^ Shelby L. Stanton, The Rise and Fall of An American Army. New York: Dell, 1985, tr. 333.
  11. ^ Dave R. Palmer, Summons of the Trumpet. Novato CA: Presidio Press, 1978, tr. 303.
  12. ^ Nolan, tr. 14.
  13. ^ Nolan, tr. 15.
  14. ^ a ă â http://www.nhandan.org.vn/mobile/_mobile_ndct/_mobile_thoisuchinhtri/item/15414102.html
  15. ^ Palmer, tr. 304.
  16. ^ Trước đó, các tham mưu Mỹ đã ước tính rằng một chiến dịch như vậy sẽ cần đến 4 sư đoàn Mỹ (60.000 quân), trong khi Sài Gòn chỉ sử dụng một lực lượng bằng nửa con số đó. Stanley Karnow, Vietnam. New York, Viking, 1983, tr. 629.
  17. ^ Tài liệu đầy đủ nhất về cuộc tiến công này là cuốn Lam Son 719 của đại tướng Nguyễn Duy Hinh. Washington DC: US Army Center of Military History, 1979. Xem thêm John Prados, The Blood Road, New York: John Wiley and Sons, 1998, tr. 317-361.
  18. ^ Keith W. Nolan, Into Laos, Novato CA: Presidio Press, 1986.
  19. ^ Fulghum & Maitland, tr. 66.
  20. ^ Sorely, tr. 235, 236.
  21. ^ Fulghum & Maitland, tr. 72.
  22. ^ Sorely, tr. 241. when the text of an intercepted radio message read "It has been determined that the enemy may strike into our cargo carrier system in order to cut it off...Prepare to mobilize and strike the enemy hard. Be vigilant."
  23. ^ Hinh, tr. 8-12.
  24. ^ Nalty, Air War, tr. 256.
  25. ^ Hinh, p. 38.
  26. ^ Hinh, tr. 43.
  27. ^ "Indochina: Tough Times on the Trail"', Time Magazine, 8 tháng 3 năm 1971.
  28. ^ Prados, tr. 338.
  29. ^ Fulgham & Maitland, p. 76.
  30. ^ Nalty, Air War, tr. 262.
  31. ^ Hinh, tr. 63.
  32. ^ "Indochina: The Soft Sell Invasion", Time Magazine, 22 tháng 2 năm 1971.
  33. ^ Prados, tr. 339.
  34. ^ Hinh, p. 64.
  35. ^ Nolan, tr. 144-145.
  36. ^ Fulghum & Maitland, tr. 85.
  37. ^ Hinh, pgs. 66-67.
  38. ^ Fulghum & Maitland, tr. 85. Xem thêm Prados, tr. 341.
  39. ^ Gloria Emerson, "Spirit of Saigon's Army Shaken in Laos," The New York Times, 28 March, 1973. William D. Morrow, Jr., một cố vấn của Sư đoàn Dù QLVNCH trong cuộc tấn công, đã ca ngợi các lực lượng của QĐNDVN một cách ngắn gọn - "họ có thể đánh bại bất cứ quân đội nào thực hiện cuộc xâm lấn này." Prados, tr. 361.
  40. ^ Hinh, tr. 100, 103
  41. ^ Stanton, tr. 336.
  42. ^ Sorley, tr. 253.
  43. ^ Các căn cứ được đặt tên theo các nữ nghệ sĩ quen thuộc đối với các các phi công Mỹ: Gina Lolobrigida, Sophia Loren, Elizabeth Taylor, và Hope Lang.
  44. ^ Đến thời điểm này, toàn bộ lực lượng dự bị của QLVNCH chỉ còn một lữ đoàn Thủy quân lục chiến. Nguyễn Văn Thiệu trả lời bằng cách đề nghị sử dụng quân Mỹ tại Lào, biến rằng lựa chọn này là không thể được. Sorley, tr. 255.
  45. ^ Karnow, tr. 630.
  46. ^ Nalty, tr. 269.
  47. ^ Stanton, tr. 336-337.
  48. ^ a ă Nalty, tr. 271.
  49. ^ Nolan, tr. 313.
  50. ^ Prados, tr. 355.
  51. ^ Nolan, p. 359.
  52. ^ Thất bại của "Việt Nam hóa" chiến tranh
  53. ^ Truck sightings in the Route 9 area reached 2,500 per month post the offensive, numbers usually seen only during peak periods. Prados, p. 361
  54. ^ http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Buoc-dot-pha-chien-luoc-ky-cuoi/201111/180740.datviet
  55. ^ William Nolan, Into Laos. Novato CA: Presidio Press, 1986, tr. 358
  56. ^ Nolan, Keith W. Into Laos: The Story of Dewey Canyon II/Lam Son 719, Vietnam 1971. Novato CA: Presidio Press, 1986. p. 358.
  57. ^ Stanton, Shelby L. (1985). The Rise and Fall of an American Army: U.S. Ground Forces in Vietnam, 1965–1973. New York: Dell. ISBN 0-89141-232-8. P 337
  58. ^ Stanley Karnow, Vietnam. New York, Viking, 1983, tr. 629.
  59. ^ Tilford, Earl H. Setup: What the Air Force Did in Vietnam and Why. Maxwell Air Force Base AL: Air University Press, 1991. P 200-201

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào Đại tá Trần Tiến Hoạt (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)
  • Bowman John S. The Vietnam War Day by Day New York: Mallard Books, 1989.
  • Fulgham, David, Terrence Maitland, et al. South Vietnam On Trial: Mid-1970 to 1972. Boston: Boston Publishing Company, 1984.
  • Major General Nguyen Duy Hinh, Operation Lam Sơn 719. Washington DC: U.S. Army Center of Military History, 1979. toàn văn bằng tiếng Anh
  • Nalty, Bernard C. Air War Over South Vietnam: 1968-1975. Washington DC: Air Force History and Museums Program, 2000.
  • Nolan William K. Into Laos: The Story of Dewey Canyon II/Lam Son 719. Novato CA: Presidio Press, 1986.
  • Tilford, Earl H. Setup: What the Air Force Did in Vietnam and Why. Maxwell Air Force Base AL: Air University Press, 1991.
  • Van Stolkweg, South Vietnam Takes the Offensive-Lam Son 719. The Hague, Netherlands: Interdoc, 1991.
  • “Indochina: The Soft-Sell Invasion”. Time. 22 tháng 2 năm 1971. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2004. 
  • “Indochina: Tough Days on the Trail”. Time. 8 tháng 3 năm 1971. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2004. 
  • “Showdown in Laos”. Time. 15 tháng 3 năm 1971. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2004. 
  • “Was It Worth It?”. Time. 9 tháng 3 năm 1971. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2004. 
  • “The Invasion Ends”. Time. 5 tháng 4 năm 1971. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2004. 
  • “The Wan Edge of an Abyss”. Time. 12 tháng 4 năm 1971. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2004. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh: