Trận Đồng Hới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Đồng Hới
Một phần của Chiến tranh Việt Nam
USS Oklahoma City (CLG-5) underway 1974.jpg
Chiến hạm USS Oklahoma City (Mã hiệu CLG-5) của Hải quân Hoa Kỳ
.
Thời gian 19 tháng 4, 1972
Địa điểm Vịnh Bắc Bộ
Kết quả Còn đang tranh cãi

[1]

Tham chiến
 Hoa Kỳ Việt Nam Bắc Việt Nam
Thành phần tham chiến
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ Hạm đội 7, Hải quân Hoa Kỳ
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ 1 phân đội máy bay chiến đấu A-4 Skyhawk.
Việt Nam Phân đội Radar 403 Quảng Bình,Trung đoàn 291
Việt Nam Trung đoàn tiêm kích 923
Lực lượng
1 Tàu tuần dương
2 Tàu khu trục
1 Tàu hộ vệ
2 MiG-17F
Tổn thất
4 thủy thủ bị thương
2 chiến hạm bị hư hại nặng
Không có thiệt hại
Theo Hoa Kỳ: 2 tàu phóng lôi bị bắn chìm, 1 MiG-17 bị bắn rơi
.

Trận Đồng Hới là 1 trận đánh quan trọng giữa Hạm đội 7 Hải quân Hoa Kỳ và các đơn vị pháo bờ biển, Trung đoàn radar 291 và phân đội 2 máy bay chiến đấu Mikoyan-Gurevich MiG-17F của Không quân Nhân dân Việt Nam (KQNDVN) vào ngày 19 tháng 4 năm 1972 tại bờ biển Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

Hoa Kỳ đã tuyên bố đã đánh chìm 2 tàu phóng lôi của Hải quân Nhân dân Việt Nam và bắn rơi 1 chiếc MiG-17.[2] Nhưng thực tế trong trận đánh này chỉ có 2 máy bay MiG-17 của Việt Nam xuất kích và theo phía Việt Nam thì cả 2 chiếc trở về an toàn. Hải quân Việt Nam cũng tuyên bố vài năm sau đó rằng vào năm 1972, Hải quân Nhân dân Việt Nam chỉ xuất trận tại vùng biển Cát Bà ngày 27 tháng 8.[cần dẫn nguồn]

Tình hình và diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc MiG-17F mã số 2047 do phi công Nguyễn Văn Bảy B điều khiển ngày 19 tháng 4 năm 1972 ném bom tuần dương hạm USS Oklahoma City (CLG-5) của Hải quân Hoa Kỳ

Năm 1972, Hải quân Hoa Kỳ tiến công Quảng Bình nhằm ngăn chặn con đường vận chuyển vũ khí Bắc - Nam trên cả tuyến Đường Trường SơnĐường Hồ Chí Minh trên biển. Khi đó chiến dịch xuân - hè 1972 đang diễn ra ác liệt. Quân đội Nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) chủ trương sử dụng không quân để tác chiến. Ba phi công Nguyễn Văn Lục, Lê Xuân DịNguyễn Văn Bảy (B) được lựa chọn để thực hiện nhiệm vụ này.

Để bảo vệ tuyến đường, Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN quyết định xây dựng sân bay Khe Gát nhằm đánh chặn, đẩy lùi máy bay, tàu chiến Mỹ, không cho đối phương có cơ hội chặt đứt tuyến đường Trường Sơn, tạo điều kiện cho các phương tiện cơ giới vận chuyển khí tài, vật lực vào chiến trường miền Nam. Sân bay được hoàn thành sau 7 tháng thi công và đây là 1 sân bay đất.[3]

Ngày 18 tháng 4 năm 1974, lúc 15 giờ 45 phút, Sở Chỉ huy Binh chủng Không quân QĐNDVN và Trung đoàn tiêm kích 923 tổ chức cho hai phi công Lê Hồng Điệp và Từ Để lái hai chiếc MiG-17F từ sân bay Kép về sân bay Gia Lâm sau đó bay vào sân bay Vinh. Từ Vinh, để bảo đảm bí mật, an toàn sở chỉ huy dẫn đường cho từng chiếc một bay vào Khe Gát. Chiếc thứ nhất hạ cánh, chiếc thứ hai mới được cất cánh. Chỉ một ngày sau, cả hai chiếc máy bay này được kĩ sư Trương Khánh Châu kiểm tra, cải tiến và ráp bom sẵn sàng xuất trận.

Trước đó phi công Dị và Bảy đã vào xem xét sân bay Gát rồi quyết định cất cánh theo kiểu song song - so le thay vì cất cánh trước - sau theo phương án của cấp chỉ huy. Vì đây là sân bay bằng đất, chiếc bay trước sẽ tạo ra một vùng bụi không lồ, chiếc bay sau sẽ không thể nhìn thấy đường và không quân địch dễ phát hiện.

Sáng 19 tháng 4 năm 1972, phía Việt Nam đã phát hiện thấy chiến hạm của Hạm đội 7 Hoa Kỳ nhưng ở xa bờ và thời tiết xấu. Đến 15 giờ 30 phút, máy bay Mỹ vào đánh phá sân bay Đồng Hới và tàu chiến Mỹ pháo kích cây đèn biển. Phân đội radar 403 Quảng Bình gồm đại đội trưởng Nguyễn Văn Nhàn, đài trưởng Phan Thanh Hài, trắc thủ số 1 Lương Anh Tiễn, trắc thủ số 2 Nguyễn Xuân Hoan được lệnh chiến đấu, tới 16 giờ 01 phút, trắc thủ số 1 phát hiện 6 chiếc tàu chiến Mỹ ở cự ly 15 km và 12 chiếc ở cự ly 25 km. Đài trưởng radar lệnh cho trắc thủ số 2 nâng ăng ten sục sạo địch trên không, chú ý hướng biển. Sở Chỉ huy tiền phương Quân chủng Phòng không - không quân QĐNDVN nhắc radar phải bám sát tàu địch liên tục. Đúng theo phương án đã định, trắc thủ số 2 liên tục thao tác ăng ten và thực hiện bám sát, còn trắc thủ số 1 thông báo phần tử, đài trưởng nhắc trắc thủ chú ý sục sạo và cảnh giới xung quanh biên đội máy bay. Biên đội MiG-17 do phi công Nguyễn Văn Bảy B (số 1) và Lê Xuân Dị (số 2) điều khiển cũng được lệnh cất cánh.

Phân đội tàu của Hải quân Mỹ gồm tàu tuần dương USS Oklahoma City (CLG-5), tàu hộ vệ tên lửa USS Sterett (DLG-31) và 2 tàu khu trục USS Lloyd Thomas (DD-764)USS Higbee (DD-806). Các tàu này đang thực hiện bắn phá bờ biển Quảng Bình - Vĩnh Yên. Các đơn vị pháo bờ biển chống trả quyết liệt.

Các trắc thủ Việt Nam tập trung thao tác và thông báo liên tục phần tử tàu của phía Mỹ và máy bay của phía Việt Nam. Khi ra đến biển, độ cao máy bay MiG-17 là 50 m, được lệnh công kích, vài phút sau, phân đội MiG-17 chỉ cách mặt biển có 10 m, đây là điều mà các máy bay MiG-17 không thể làm được và các phi công Liên Xô cũng chưa bao giờ làm. Trên màn hiện sóng tín hiệu MiG trùng lên tín hiệu của các tàu chiến Mỹ. Chiếc MiG-17F do phi công Lê Xuân Dị điều khiển đã ném một quả bom 250 kg (551 lb) trúng tháp pháo 127 mm trên tàu khu trục USS Higbee, còn phi công Nguyễn Văn Bảy (B) đánh trúng tuần dương hạm USS Oklahoma City. 17 phút sau, 2 chiếc MiG hạ cánh an toàn xuống sân bay Gát và được đưa vào điểm cất giấu.[4]

Nhưng mọi việc vẫn chưa kết thúc, ngay sau khi bị đánh bom, Hải quân Hoa Kỳ cho 1 phân đội máy bay cất cánh từ tàu sân bay tấn công vào bờ biển Đồng Hới. Đơn vị radar 403 phát hiện 2 tốp máy bay địch bay từ biển vào. Hai phút sau, 2 quả tên lửa bức xạ chống radar AGM-45 Shrike được phóng xuống gần trận địa radar. Các trắc thủ radar thao tác theo quy trình chống Shrike nên trận địa vẫn an toàn, 2 quả tên lửa nổ cách trận địa 1.500m.[5]

Hậu quả[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến thắng, Nguyễn Văn Bảy và Lê Xuân Dị được gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cấp trên sau đó có chủ trương giữ biên đội này chỉ để dành đánh trên biển. Nhưng do sự khốc liệt của chiến tranh, Nguyễn Văn Bảy vẫn tiếp tục xuất chiến không đối không.

Đây là lời hồi tưởng lại của K. Kilgore - thủy thủ kiểm soát hỏa lực của nòng pháo 127 mm bên phải trên chiếc USS Higbee: "Tôi là lính thủ súng pháo phải ở tháp pháo Mt 52 (127 mm) trên chiếc Higbee. Chúng tôi đã được lệnh ra khỏi tháp pháo để chuẩn bị để làm mát súng trái, nó đang khá nóng. Bỗng tôi nhìn lên và thấy một chiếc MiG, mà tôi vẫn còn nhớ, bởi vì tôi chưa bao giờ nhìn thấy một chiếc máy bay nào màu như thế. Thuyền trường hét lên "có MiG" và trái ngược với hầu hết các sự việc tương tự, chúng tôi đã chạy lại vào trong tháp pháo nhằm trốn bởi vì chúng tôi nghĩ nó có 1 tháp súng tốt. Ngay sau khi cái tháp pháo bị trúng bom (tôi vẫn còn nhớ những ký ức sống động của khói, lửa, và tiếng hét phát ra từ phía "Merry-Go-Round" ngay lúc đó), chúng tôi đã thoát cái tháp pháo. Tôi nhìn sang phía bên cạnh và thấy một tên lửa rời ống phóng trên chiếc Sterett. Chiếc MiG biến mất trong làn khói đen. Tôi hồi tưởng lại điều này trong giấc mơ của tôi gần 40 năm nay."

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Theo tường thuật của phía Hoa Kỳ thì chiếc MiG-17F của phi công Lê Xuân Dị đã bị bắn rơi bởi một tên lửa RIM-2 Terrier phóng từ chiếc USS Sterett. Tuy nhiên phi công Lê Xuân Dị cuối cùng cũng đã hạ cánh an toàn. Ngoài ra, phía Hải quân Hoa Kỳ cũng tuyên bố bắn chìm 2 chiếc tàu phóng lôi trong biên đội tàu phóng lôi của Hải quân Bắc Việt khi chúng cố gắng tấn công chiếc Higbee. Tuy nhiên, Hải quân Việt Nam lại tuyên bố không có tàu nào của lực lượng này xuất kích ngày 19-4-1972.[6]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]