Chiến dịch Igloo White

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến dịch Igloo White
Một phần của Chiến tranh Việt Nam
Khe Sanh Operation Niagara Sensor drop.jpg
"Cây nhiệt đới" chuẩn bị được thả xuống Trường Sơn từ máy bay
.
Thời gian 1968–1973
Địa điểm Việt NamLào
Kết quả Thất bại về chiến lược của Hoa Kỳ
Tham chiến
Flag of the United States.svg Hoa Kỳ Flag of Vietnam.svg Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
.

Chiến dịch Igloo White là một kế hoạch của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam nhằm thiết lập một hệ thống thám báo tự động ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc qua đường mòn Hồ Chí Minh. Chiến dịch được triển khai từ năm 1968

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968, Hàng rào điện tử McNamara đã chứng tỏ sự vô hiệu của nó trong việc ngăn chặn sự tiếp viện của Bắc Việt qua Trường Sơn. Chứng kiến sự thiếu hiệu quả của một tuyến hàng rào cố định, giới quân sự Mỹ chuyển sang dùng một hệ thống ngăn chặn linh hoạt dựa trên kỹ thuật viễn thông quân sự hiện đại. Tổng thống Nixon coi phương sách mới này là có hiệu quả hơn trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ C. Cliford liền huy động các quân chủng tham gia Chương trình ngăn chặn mới. Chương trình này gồm 2 hệ thống phối hợp với nhau: hệ thống thám báo tự động (Igloo White) và hệ thống đánh phá tự động (Commando Hunt).

Igloo White[sửa | sửa mã nguồn]

Igloo White có nghĩa đen là “mái lều tròn tuyết trắng”, một loại lều của thổ dân EsquimoBắc Cực. Trung tâm chỉ huy của Igloo White được đặt tại Nakhon Phanom, Thái Lan. Với 2 máy tính khổng lồ IBM 360/65, trung tâm này quán xuyến toàn bộ những thiết bị điện tử được rải xuống khắp 40.000 km² trên Trường Sơn. Chúng kiểm soát từng vùng theo mã số, đánh hơi người, bắt âm thanh theo các tần số, phát hiện những vật di động, xác định thời gian và địa điểm… rồi thông báo tức thì cho loại máy bay Night Hawk đến đánh phá. Chi phí cho toàn bộ hệ thống thám báo tự động này là 1,7 tỷ USD.[1]

Các thiết bị điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay QU-22B Pave Eagle sử dụng trong Chiến dịch Igloo White

Những thiết bị điện tử gồm khoảng gần 100 loại khác nhau được rải xuống Trường Sơn, được mệnh danh là những “thám tử giấu mặt”, những “kẻ gác đường”. Có những máy radar nhỏ rải rác khắp các nẻo đường để phát hiện tiếng động hoặc tía hồng ngoại do các xe cơ giới phát ra, báo về trung tâm chỉ huy. Có những máy đánh hơi được mùi amoniac trong mồ hôi để gọi máy bay oanh tạc tới. Trong số các loại thiết bị này, có thể kể đến một số loại phổ biến:

  • SPIKE BUOY: Cảm ứng âm thanh do máy bay thả xuống đất, lẫn màu cây cỏ, lặng lẽ phát hiện các tiếng động: chân đi, xe chạy, người nói, chó sủa, gà gáy… được truyền tất cả về trung tâm.
  • ACOU BUOY: Loại máy cảm ứng có dù do máy bay thả xuống các khu rừng, treo bám trên cành cây, lẫn vào lá, rất khó phát hiện, làm nhiệm vụ tương tự loại trên.
  • ADSID: Cảm ứng địa chấn có tần số nhỏ nhất ròi báo tín hiệu về cho trung tâm, được thả xuống từ máy bay. Thường được lực lượng bộ đội gọi là “cây nhiệt đới”.
  • ACOUSID: Máy cảm ứng địa chấn và âm thanh tương tự ADSID, nhưng có thêm chức năng truyền âm thanh.

Để phòng khi sóng bị nhiễu (do đối phương phá sóng, do ảnh hưởng vật lý…), giới kỹ thuật Mỹ còn chế tạo một số phương tiện hỗ trợ như máy chuyển tiếp, đặt trên phi cơ không người lái QU-22B bay ở độ cao lớn, đi được vào vùng có hoả lực phòng không dày đặc, nhận tín hiệu từ mặt đất rồi chuyển về trung tâm. Sau đó, họ còn chế tạo thêm trạm chuyển tiếp tự động (DART), hay chương trình bảo trợ Commando Bolt, tức hệ thống điều hành toàn bộ hệ thống trinh sát điện tử để có thể chỉ huy tự động, đảm bảo cho không quân Mỹ không kích chính xác trong mọi hoàn cảnh thời tiết.[2]

Sự đối phó của Bắc Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy Hoa Kỳ đã sử dụng trong chiến dịch này những phương tiện kỹ thuật tối tân nhất, nhưng họ đã nhanh chóng gặp phải những giải pháp chống đỡ khôn ngoan của lực lượng bộ đội Trường Sơn. Ở các binh trạm thường thành lập các nhóm chuyên trách săn tìm các thiết bị do thám, là nhưng người rất thông thạo trong việc định vị và tháo dỡ chúng. Theo Đại tá Hồ Minh Trí, nguyên là Tư lệnh Sư đoàn 473, các thiết bị này rất khó phát hiện và chỉ có thể sử dụng mắt thường để tìm. Các máy cảm ứng thường có cấu tạo thêm một bộ phận tự huỷ để chống tháo gỡ. Trước tiên phải làm liệt chi tiết này, và các thao tác đã được nghiên cứu, học tập và phổ biến ngay. Với loại có dù treo cao trên ngọn cây, nếu cao quá thì bắn huỷ, nếu thấp thì hạ xuống rồi vô hiệu hoá. Với các loại "cây nhiệt đới" (ADSID, ACOUSID) thì cắt ngay cần ăng ten. Đối với những loại khó tháo gỡ thì đơn giản nhất là áp 200g thuốc nổ vào (gói theo kiểu bộc phá) rồi cho nổ cắt đôi khí tài là xong. Đánh lừa các thiết bị này cũng là một giải pháp được sử dụng phổ biến. Những máy phát hiện nhiệt năng của động vật bị đánh lừa, khi thay cho những đoàn quân đi lại là những đoàn súc vật. Những máy phát hiện mùi mồ hôi cũng bị đánh lừa bằng những lọ nước tiểu của người và gia súc được treo trong những tuyến đường "không trọng điểm", làm cho phía Mỹ luôn bị báo động rằng đang có hàng sư đoàn địch đi qua, khi máy bay tới dội bom cũng là lúc những đoàn quân đã di chuyển qua những con đường khác.[2][3] Về vấn đề này, Tư lệnh bộ đội Trường Sơn Đồng Sĩ Nguyên cho biết:

Tương tự Hàng rào điện tử McNamara, những thiết bị do thám thả xuống trông giống như cây rừng. Chúng được thả trong một khu vực có chiều rộng tới 100 cây số, bao trùm một mạng lưới giao thông của chúng tôi. Phải mất bảy ngày để tìm ra giải pháp. Rồi chúng tôi đưa xe tới gần chỗ có thiết bị đó và cho chạy đi chạy lại (để lừa phía Mỹ). Trong vòng vài tháng sau đó, người Mỹ tiếp tục thả máy do thám xuống trước khi ngưng hẳn. Phương cách này khiến chúng tôi mất một số xe khi máy bay Mỹ tấn công khu vực mà chúng tôi cố ý cho xe tải chạy để đánh lừa. Khi người Mỹ bị dụ tới một địa điểm khác, các đoàn xe của chúng tôi hoạt động an toàn hơn[3]

Không chỉ dừng lại ở đó, những kỹ sư, công binh kỹ thuật giỏi còn có thê tận dụng được các linh kiện của các thiết bị điện tử Mỹ. Có trường hợp họ còn dùng chính phương tiện của Mỹ để lừa máy bay và sở chỉ huy Mỹ, làm chúng lạc đích, thậm chí đánh vào nhau, như trường hợp binh trạm trưởng Nguyễn Khang của Binh trạm 34 đã từng dùng các sensor của Mỹ kết hợp với âm thanh trong đài cassette để khiến cho các căn cứ Mỹ bị giội bom. Chính biện pháp này đã gây hiểu nhầm cho phía Mỹ rằng tình báo Bắc Việt đã thâm nhập các hệ thống thông tin của đối phương, và điều khiển pháo binh và không quân tấn công vào các đơn vị của Hoa Kỳ, như trong một số tài liệu mật của phía Mỹ mới được giải mật hồi tháng 1 năm 2008.[2]

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 2 năm, Chiến dịch Igloo White nói riêng và Chương trình ngăn chặn mới nói chung đã không thể thu được kết quả như mong muốn. Đến năm 1970, các thông tin của cơ quan tình báo chiến trường Mỹ đã khiến người ta phải sửng sốt. Theo đó, từ năm 1969 cho đến năm 1970, mức thâm nhập qua Trường Sơn lên tới 348 đoàn, trong đó có 46 tiểu đoàn trang bị mạnh, 24.530 tấn vũ khĩ, có 335 chuyến bay các loại bí mật thả vũ khí xuống các hành lang ở Lào.[2] John McConnell, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ thừa nhận:

Không quân Mỹ đang phải gánh chịu những tổn thất to lớn trong cuộc chiến kỳ lạ để giành lấy những thắng lợi nhỏ nhoi… Tôi chưa bao giờ thất vọng như lúc này[4]

Sau khi Hàng rào McNamara bị chọc thủng, đến lượt kế hoạch Igloo White bị phá sản. Từ sau năm 1970, kỹ thuật quân sự Mỹ bế tắc, không tìm ra lời giải mới nào khả quan hơn[5] Tuy nhiên, kế hoạch này vẫn tiếp tục được kéo dài cho đến năm 1973, khi Hiệp định Paris được ký kết.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 5 đường mòn Hồ Chí Minh, Đặng Phong, NXB Tri Thức (trích theo The Vietnam War, Comprehensive and Illustrated History of the Conflict in Southeast Asia, London, p.26)
  2. ^ a ă â b 5 đường mòn Hồ Chí Minh, Đặng Phong, NXB Tri Thức
  3. ^ a ă Chân trần, chí thép (Bare Feet, Iron Will), James G. Zumwalt, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
  4. ^ 5 đường mòn Hồ Chí Minh, Đặng Phong, NXB Tri Thức (trích theo Nguyễn Việt Phương, Trường Sơn đường Hồ Chí Minh huyền thoại, sđd, tập 1, tr.334)
  5. ^ 5 đường mòn Hồ Chí Minh, Đặng Phong, NXB Tri Thức (theo Nguyễn Việt Phương, sđd, tập 1 tr.327-322)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]