Trận Khâm Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Khâm Đức
Một phần của Chiến tranh Việt Nam
Kham Duc Evacuation during Vietnam War May 12th 1968.jpg
Căn cứ Khâm Đức bị bắn phá
.
Thời gian 10 tháng 5 - 12 tháng 5 năm 1968
Địa điểm Khâm Đức, tỉnh Quảng Tín (nay là tỉnh Quảng Nam), Nam Việt Nam
15°44′12″B 107°79′33″Đ / 15,73667°B 108,32583°Đ / 15.73667; 108.32583 (Kham Duc) Tọa độ: kinh phút >= 60
Tọa độ: 15°44′12″B 107°79′33″Đ / 15,73667°B 108,32583°Đ / 15.73667; 108.32583 (Kham Duc) Tọa độ: kinh phút >= 60
Kết quả Quân Giải phóng chiến thắng
Tham chiến
Flag of Vietnam.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
FNL Flag.svg Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
Flag of the United States.svg Hoa Kỳ
Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Flag of Australia.svg Úc
Chỉ huy
Chu Huy Mân
Giáp Văn Cường[1]
William Westmoreland
Robert B. Nelson
Chris Silva
Burl W. McLaughlin[2]
Lực lượng
2,500[3] Hoa Kỳ: 900[4]
Úc: 3 cố vấn
Việt Nam Cộng hòa: Khoảng 500 dân vệ, và 272 dân thường.[5]
Tổn thất
Không rõ (theo Hoa Kỳ: 345 chết)[6] Hoa Kỳ: 40 chết, 117 bị thương, 2 bị bắt và 64 mất tích. 9 máy bay bị bắn rơi.[7][8]
Việt Nam Cộng hòa: Vài trăm binh sĩ tử thương, 102 bị bắt, khoảng 150 dân thường chết.[8]
.

Trận Khâm Đức là một trận đánh trong Chiến tranh Việt Nam, diễn ra từ ngày 10 tháng 5 đến ngày 12 tháng 5 năm 1968 trên khu vực phía Tây tỉnh Quảng Tín (nay là khu vực thị trấn Khâm Đức, huyện Phước Sơn, Quảng Nam. Trận chiến này kết thúc với chiến thắng của Quân đội Nhân dân Việt NamQuân Giải phóng miền Nam, cùng sự rút lui của Quân đội Hoa Kỳ và đồng minh khỏi sân bay Khâm Đức và các cứ điểm lân cận.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ đầu những năm 1960, được sự tư vấn của cố vấn Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm quyết định xây dựng Khâm Đức thành cứ điểm quan trọng trong việc cơ động ứng cứu cho nhau giữa các cứ điểm đóng quân ở vùng tây Quảng Nam và Hạ Lào. Đồng thời, ý tưởng đó không nằm ngoài mục tiêu ngăn chặn hành lang đi lại của Quân Giải phóng từ trên núi xuống đồng bằng.

Tại khu vực cách trụ sở UBND huyện Phước Sơn không xa, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã thiết lập một đại bản doanh của trường biệt kích toàn miền Nam do Mỹ trực tiếp huấn luyện. Đặc biệt nhất là sân bay Khâm Đức, căn cứ Ngok Ta Vak (xã Phước Mỹ) - căn cứ này nằm giữa Chavane (Lào) và thung lũng Khâm Đức, là nơi chuyển quân và hàng hóa vào Vùng 2 chiến thuật và Tây Nguyên của Mỹ và VNCH. Khâm Đức được xây dựng thành 3 phân khu chính: trên đỉnh là khu trung tâm gồm có nhà bộ chỉ huy và trận địa pháo được bao bọc bởi hệ thống hàng rào thép gai, phía đông nam là khu cư trú của lực lượng liên quân, phía tây cứ điểm là khu sân bay trực thăng dã chiến. Sân bay Khâm Đức được đầu tư xây dựng với tổng số tiền 30 triệu đồng, khởi công vào tháng 8 năm 1961 đến tháng 12 năm 1963 thì hoàn tất. Song song với việc thi công sân bay Khâm Đức, cuối năm 1962, phía VNCH tăng quân chủ lực lên 3 trung đoàn bộ binh, 5 tiểu đoàn đặc nhiệm, 18 tiểu đoàn Bảo an, 75 tổng đoàn nghĩa quân, 12 đại đội dân vệ để triển khai đóng giữ các cụm cứ điểm chiến lược quan trọng từ tây bắc Hòa Vang - Hà Tân - Thượng Đức - Hiệp Đức - Khâm Đức - An Lâu - Trà My... tạo thành tuyến phòng thủ suốt dọc theo ranh núi từ tây bắc Hòa Vang đến tây nam Tam Kỳ, nhằm chặn Việt Cộng từ căn cứ miền núi hoạt động xuống đồng bằng.

Từ sau khi Diệm bị sát hại, Mỹ và VNCH không ngừng tăng cường xây dựng, củng cố căn cứ quân sự và sân bay Khâm Đức, xem đây là một trong những cứ điểm “bất khả xâm phạm” ở miền tây Quảng Nam. Tuy nhiên, đối với Quân Giải phóng, cứ điểm Khâm Đức không thể không bị tiêu diệt, nếu họ muốn tấn công địch tại Tây Nguyên và vùng Hạ Lào. Theo ông Hồ Văn Điều, nguyên Bí thư Huyện ủy Phước Sơn thì "Trong năm 1968, ta chủ trương giải phóng Khâm Đức nhằm giành thế chủ động cho tuyến đường mòn Hồ Chí Minh qua Phước Sơn và kết nối với các căn cứ cách mạng khác từ đồng bằng lên Tây Nguyên."[9]

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 9 tháng 5 đến 12 tháng 5 năm 1968, Sư đoàn 2 QĐNDVN tiến công tiêu diệt Chi khu quận lỵ Khâm Đức và mở đầu bằng trận đánh tiêu diệt cứ điểm tiền tiêu Ngok Ta Vak, cách Khâm Đức 7 km về phía tây nam.[9] Khoảng 3 giờ 45 phút sáng, cuộc tấn công vào Ngok Ta Vak bắt đầu. Căn cứ này được bảo vệ bởi 1 đại đội dân vệ, 1 trung đội pháo với 33 quân nhân thuộc Pháo đội D, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 12 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ được chỉ huy bởi 8 cố vấn Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ và 3 cố vấn Úc.

Đến 5 giờ sáng, QĐNDVN tấn công vào hướng đông, lực lượng liên quân gọi trực thăng vũ trang tới oanh kích sát ngay tuyến phòng thủ bên trong, bất chấp khả năng bắn vào quân nhà. Đến khi trời sáng, cuộc tấn công bị đẩy lùi. VNCH cho điều thêm 45 dân vệ đổ bộ xuống tiếp viện. Trong lúc đổ bộ, 1 chiếc trực thăng bị bắn rơi, 1 chiếc khác một trực thăng trúng đạn nơi thùng xăng phải đáp khẩn cấp. Xung quanh Ngok Ta Vak, QĐNDVN vẫn tiếp tục pháo kích vào căn cứ.

Xác 1 chiếc CH-47 đang bốc cháy

Đêm 11 rạng sáng 12 tháng 5 năm 1968, Đại đội đặc công và Tiểu đoàn 11 Trung đoàn 21 QĐNDVN phối hợp với lực lượng vũ trang huyện Phước Sơn đã tiêu diệt các cứ điểm ngoại vi. Trước tình hình nguy ngập của Khâm Đức, phía Mỹ điều Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 196 thuộc Sư đoàn Americal (tức Sư đoàn bộ binh 23) của Mỹ xuống Khâm Đức, nhưng vẫn không dám tung lực lượng ra cứu Ngok Ta Vak.

Ngok Ta Vak đánh điện yêu cầu được rút lui nhưng ban đầu không được chấp thuận. Sau đó Đại tướng Westmoreland cho rằng trại LLĐB Khân Đức không đủ sức chống lại trước áp lực của QĐNDVN và không muốn căn cứ bị tràn ngập nên ra lệnh di tản khỏi căn cứ bắt đầu từ buổi sáng. Đến trưa, quân phòng thủ bắt đầu đốt tiêu hủy súng ống, khí tài không mang theo được. Qua buổi chiều tướng Westmoreland thông báo cho Không Lực của Hạm đội 7 Hoa Kỳ bắt đầu cuộc di tản bằng vận tải cơ cỡ lớn C-130. Quân Mỹ và VNCH rút lui vội vã khỏi Ngok Ta Vak, phải bỏ lại cả xác đồng đội.[10]

Buổi sáng hôm đó, một vận tải cơ C-130 thuộc Phi đoàn 21 Không vận chiến thuật do Trung tá Darel D. Cole cùng với phi hành đoàn bay lên trại, tiếp tế một kiện hàng lớn. Chiếc máy bay vừa ngừng trên phi đạo, hỏa lực QĐNDVN bắn tới và chiếc máy bay trúng đạn nhiều chỗ, một bánh bị trúng đạn xẹp, làm chiếc phi cơ không cất cánh được, phải lết vào chỗ đậu.

1 chiếc C-130 bị phá hủy

Chiếc C-130 đầu tiên đáp xuống trại để tổ chức di tản do Thiếu tá Bernard Bucher thuộc Phi đoàn 774 Không vận chiến thuật. Thiếu tá Bucher đem được lên phi cơ hơn 200 người rồi vội vã cất cánh bay lên. Chiếc C-130B bị trúng đạn từ hai khẩu đại liên 12,7mm bắn lên, lảo đảo rơi xuống một khoảng vườn, nổ tung. Chiếc C-130E do Trung tá Bill Boyd đáp xuống tiếp theo. Khi cất cánh ông ta chọn chiều ngược lại và bay thoát. Chiếc C-130 thứ ba đáp xuống, cũng thuộc Phi đoàn 21 do Trung tá John Delmore lái. Chiếc này khi đáp xuống đã trúng đạn đại liên, bay mất phần trên (mái, nóc) của buồng lái, hư hại bộ phận điều khiển động cơ máy bay. Trung tá Delmore, cố gắng lái chiếc máy bay bất kiển dụng đáp xuống phi đạo, rồi tách ra ngoài để khỏi làm trở ngại các phi cơ khác lên xuống phi đạo.

Cuối cùng Hoa Kì cũng đã di tản xong với số tổn thất hai vận tải cơ C-130, 6 phi cơ khác bao gồm trực thăng, phi cơ thám thính, tất cả 9 chiếc bị bắn rơi, gồm 2 trực thăng CH-47 Chinook (AC-475, 469), 2 trực thăng CH-46, 2 vận tải cơ C-130 của Không Quân, 2 trực thăng UH-1 Lục Quân, và 1 máy bay trinh sát O-2. Nhưng trên thực tế, chỉ độ 500 trong số 1400 quân nhân, dân sự chiến đấu trong trại được các phi cơ vận tải Hoa Kỳ di tản.

Đến 6 giờ sáng ngày 12 tháng 5 năm 1968, vòng vây của QĐNDVN càng siết chặt, hỏa lực bắn phá dữ dội vào sân bay Khâm Đức, và đồng loạt tiến công tiêu diệt Chi khu quận lỵ. Bị tấn công mãnh liệt, số quân Mỹ còn lại phải xuyên rừng tháo chạy, đến 12 giờ trưa ngày 12 tháng 5 năm 1968, cụm cứ điểm Khâm Đức bị QĐNDVN đánh chiếm hoàn toàn. Số lính kẹt lại đã phải phân tán ra thành nhiều toán nhỏ, lẩn tránh trong rừng, thoát ra khỏi vòng vây của đối phương. Trong số đó, chỉ một số ít người may mắn được trực thăng tìm thấy “bốc” đem về.

QĐNDVN tuyên bố diệt hơn 300 quân đối phương, bắt giữ 104 người khác trong đó có 2 cố vấn Mỹ."[9]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bowers, Ray (1983). The United States Air Force in Southeast Asia: Tactical Airlift. Washington D.C.: Air Force Historical Studies Office. ISBN 160676983 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  • Davies, Bruce (2008). The Battle at Ngok Tavak: A Bloody Defeat in South Vietnam, 1968. Sydney: Allen & Unwin. ISBN 978741750645 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  • Gropman, Alan Gropman (1985). Airpower and Airlift Evacuation of Kham Duc. Washington D.C.: Office of Air History. ISBN 012799307 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  • Willbanks, James H. (2009). Vietnam War Almanac. New York: Infobase Publishing. ISBN 9780816071929 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Davies p. 6
  2. ^ Gropman, p. 9
  3. ^ Davies, p. 106
  4. ^ Bowers, 342
  5. ^ Gropman, p. 4
  6. ^ Willbanks, p. 261
  7. ^ Gropman, p. 8
  8. ^ a ă Gropman, p. 15
  9. ^ a ă â Hé mở tài liệu về sân bay Khâm Đức, Quảng Nam Online
  10. ^ http://xaydunghouston.com/TuyBut/682trailldbkhamduc.htm