Chiến dịch Junction City

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Operation Junction City
Một phần của Chiến tranh Việt Nam
CFJC-map.jpg
Cedar Falls/Junction City area of operations
.
Thời gian 22 tháng 2 - 14 tháng 5 năm 1967
Địa điểm Chiến khu C, Tây Ninh, Việt Nam Cộng hòa
Kết quả Thất bại về chiến lược của Mỹ - VNCH
Tham chiến
Flag of the United States.svg Hoa Kỳ
Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
FNL Flag.svg Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
Flag of Vietnam.svg Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Chỉ huy
Flag of the United States.svg William Westmoreland
Flag of the United States.svg Jonathan Seaman
Flag of South Vietnam.svg Cao Văn Viên
FNL Flag.svg Lê Đức Anh
Lực lượng
45.000 10.000
Tổn thất
Flag of the United States.svg 282 chết 1.023 bị thương
Flag of South Vietnam.svg Không rõ
Theo quân Giải phóng: ~11.000 chết và bị thương
900 xe quân sự (700 xe tăng M41M113
Hơn 100 pháo
143 máy bay [1]
FNL Flag.svg Theo Hoa Kỳ: 2.728 chết
.

Junction City (thường phiên âm thành Gian-xơn Xi-ty) là một chiến dịch kéo dài 53 ngày của Quân đội MỹQuân lực Việt Nam Cộng hòa nhắm vào các căn cứ của lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt NamChiến khu C, tức vùng Lò Gò - Xa Mát ngày nay (phía Việt Nam Cộng hòa gọi là Vùng 3 chiến thuật) vào đầu năm 1967. Đây là cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam - huy động 35.000 quân Mỹ và Việt Nam Cộng hoà và kéo dài từ 22 tháng 2 đến 15 tháng 4 năm 1967 - để đánh vào vùng kiểm soát của Việt Cộng nhưng đã thất bại.

Chiến dịch bắt đầu bằng một trong những cuộc đột kích bằng trực thăng qui mô nhất, 240 chiếc trên bầu trời tỉnh Tây Ninh. Mục đích của Chiến dịch Junction City là phá hủy các căn cứ Việt Cộng và các cơ quan đầu não lãnh đạo đấu tranh ở Nam Việt Nam ở vùng Chiến khu C phía bắc Sài Gòn. Quân đội Mỹ huy động 30.000 lính cho chiến dịch phối hợp với 5.000 binh sĩ Việt Nam Cộng hòa. Sau 53 ngày chiến dịch, quân Mỹ thu được một lượng đáng kể vũ khí, đạn dược, lương thực..., nhưng không kiếm được một trận đánh lớn nào với lực lượng Việt Cộng.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Tương quan lực lượng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Về phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa: Tổng số quân và thiết bị quân sự tham chiến là 35.000 quân; 300 máy bay lên thẳng; 3 phi đoàn máy bay vận tải... do tướng 3 sao Jonathan Seaman, Tư lệnh Dã chiến II trực tiếp chỉ huy.
  • Về phía Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam: Tổng lực lượng bao gồm chủ lực, địa phương quân, du kích các cơ quan là 10.000 bộ đội, được phân chia theo từng tổ chiến đấu, ấp chiến đấu, xã chiến đấu... tinh thần là bám trụ bảo vệ từng cơ quan và địa bàn, sẵn sàng đánh trả khi có điều kiện. Lực lượng chủ lực được chia làm hai bộ phận, một bộ phận phân tán mỏng cùng với du kích các cơ quan lo bảo vệ các căn cứ, kho tàng; một bộ phận được ẩn giấu chờ đối phương sơ hở sẽ tổ chức phản công. Chỉ huy lực lượng chống càn do Lê Đức Anh, Tham mưu trưởng Quân Giải phóng miền Nam đảm trách.

Giai đoạn I[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn này (từ ngày 22 tháng 2 đến ngày 15 tháng 3 năm 1967) hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch là phía Bắc tỉnh Tây Ninh, mũi tập trung chính yếu nhắm vào khu vực nằm về phía Đông quốc lộ số 22, phía Tây tỉnh lộ số 4 (Tây Ninh đi Cà Tum), áp sát lên biên giới Campuchia. Vùng Tà Đạt là hợp điểm của cuộc hành quân.

Trước đó, từ ngày 2 tháng 2 đến ngày 21 tháng 2 năm 1967, Lữ đoàn 1 Sư 25 Mỹ đánh vào mạn phía Tây đường số 22, áp lên biên giới Campuchia, mục đích của cuộc hành quân này là quét dọn vùng sông Vàm Cỏ Đông, lùa đối phương về hướng trung tâm (phía Đông lộ 22), hình thành bức tường phía Tây bởi các chốt chặn Cần Đăng, Tà Xia, Lò Gò, chuẩn bị thế tiến công và bao vây sẵn cho cuộc hành quân Junction City.

Ngày 22 tháng 2 năm 1967, mở màn cho chiến dịch là những trận tập kích bằng phi pháo vô cùng ác liệt, ngay sau đó máy bay C-130 chở Lữ đoàn Không vận 173, nhảy xuống Cà Tum nằm trên tỉnh lộ số 4, nơi có ngả rẽ qua Bổ Túc, gần biên giới Campuchia (đây cũng là trận nhảy dù quy mô nhất trong Chiến tranh Việt Nam). Tiếp theo là 250 lần chiếc trực thăng chở Lữ đoàn 1 và Lữ đoàn 2 Sư đoàn 1 "Anh cả đỏ" đổ bộ xuống Sóc Mới-Rùm Đuôn-An Khắc, nhằm khóa chặt biên giới Bắc Tây Ninh. Trong lúc đó Lữ đoàn 2 Sư đoàn 25 cùng với Trung đoàn Thiết giáp số 11 của Mỹ từ Tây Ninh, theo đường số 4 tiến lên Đồng Pan, hợp với Lữ 173 tại Cà Tum, bức tường phía Đông đã hình thành.

Sau hơn 10 ngày hành quân của chiến dịch, các tướng lĩnh chỉ huy đã phải thốt lên: Không tìm thấy chủ lực của Việt Cộng ở đâu[cần dẫn nguồn], không bắt được một thành viên lãnh đạo nào của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam... cuộc hành quân chỉ gặp phải toàn cạm bẫy như chông, mìn, lựu đạn gài. Du kích thì lúc ẩn lúc hiện không sao tiêu diệt được, những căn cứ mà binh sĩ Mỹ vào được thì trống rỗng, chỉ tịch thu được những thứ mà đối phương không kịp mang đi. Những khi dừng chân thì bị bắn tỉa, bị ném lựu đạn, bị phóng rocket... bệnh tật cũng bắt đầu hoành hành. Thương vong do cạm bẫy, quấy nhiễu của du kích và bệnh tật của rừng nhiệt đới làm cho lính Mỹ thiệt hại ngày càng tăng, trở nên lo sợ, không còn hăng hái lùng sục nữa. Các kế hoạch tác chiến ban đầu không thực hiện được tốt, việc hợp quân trên vùng trung tâm căn cứ Việt Cộng không thành công.

Hiểu rõ tình thế những mặt mạnh yếu trong những ngày chiến dịch Junction City phát huy cao độ sức mạnh của nó, lực lượng chủ lực Quân Giải phóng miền Nam (Sư đoàn 9), đã tập trung lại, luồn sâu vào vùng hậu cứ của cuộc hành quân để tổ chức phản công, cụ thể:

  • Đêm 6 tháng 3, pháo binh Quân Giải phóng bắn phá dữ dội vào cụm đóng quân Tà Xia và Truông Bình Linh.
  • Đêm 10 tháng 3, tập kích vào hai cụm đóng quân Đồng Pan và Bào Cỏ.

Ngoài ra còn có nhiều trận phản công nhỏ lẻ và đặt mìn, phục kích trên các trục tiếp tế quan trọng, làm cho chiến dịch từ chủ động Tìm Diệt sang bị động đối phó và đi đến kết thúc giai đoạn I vào ngày 15 tháng 3 năm 1967, với một thành tích hoàn toàn không được khích lệ và vị tướng 3 sao Jonathan Seaman bị mất quyền chỉ huy.

Giai đoạn II[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn II (từ 18 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 năm 1967), hướng tấn công chủ yếu của Chiến dịch Junction City là mạn Đông tỉnh lộ số 4, được giới hạn bởi sông Sài Gòn, trọng tâm của chiến dịch nhằm về tuyến biên giới phía Đông Bắc Cà Tum và tuyến thượng nguồn sông Sài Gòn, được B-52 rải thảm không hạn chế.

Tỉnh lộ 4 Tây Ninh đi Cà Tum, bây giờ là bức tường phía Tây của chiến dịch, các căn cứ Quản Lợi (Bình Long), Minh Thạnh (Núi Cát), Dầu Tiếng, Suối Đá (Tây Ninh); con đường số 13 huyết mạch kết hợp với các con đường 19, 22, 26 mới được sửa chữa, tạo thế tiến công từ phía Đông sang Tây. Lực lượng thiện chiến của các Sư đoàn 1, Sư đoàn 25, Sư 4, Sư 9... thì do máy bay trực thăng đổ bộ, hình thành các cụm căn cứ lớn khống chế biên giới Campuchia như Sóc Con Trăng, Đồng Rùm, Ba Vũng...

Khu vực này, trên thực tế là địa bàn xung yếu nằm trong hệ thống huyết mạch chính của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, nơi đây vừa là đầu cầu tiếp nhận viện trợ từ miền Bắc, vừa là nơi cất dấu hậu cần, khí tài, quân bị. Nơi đây còn là bàn đạp, để từ đó Quân Giải phóng tiếp cận các chiến trường Nam Tây Nguyên và Đông Nam bộ.

Bước vào giai đoạn này, sức mạnh quân sự của Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa không hề suy giảm, thậm chí có phần gia tăng hơn, nhưng ý chí chiến thắng đối phương không còn như đợt ra quân ban đầu nữa. Trong khi đó về phía Quân Giải phóng miền Nam, việc kết thúc giai đoạn I của chiến dịch diễn ra gần đúng với dự kiến ban đầu: bảo đảm tuyệt đối an toàn cho Trung ương Cục miền Nam, Bộ Tư lệnh Miền, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và các ban ngành, đoàn thể..., đặc biệt điều quan trọng bậc nhất là bảo toàn được lực lượng chủ lực của mình, do biết cất giấu kỹ. Do vượt qua được cột mốc thử thách trước sức mạnh Mỹ cộng với kinh nghiệm va chạm thực tiễn trong giai đoạn I, Quân giải phóng miền Nam bước vào giai đoạn II với khí thế tự tin hơn và bản lĩnh hơn.

Một số trận phản công đáng ghi nhận trong giai đoạn này:

  • Mở màn là trận tập kích cứ điểm Đồng Rùm ngay đêm 20 tháng 3, sau 2 ngày khi Mỹ đổ quân chiếm đóng.
  • Đêm 19 tháng 3, tại Bàu Bàng khi Lữ đoàn 1 Sư đoàn 9 Mỹ vừa tập kết chuẩn bị tham gia chiến dịch giai đoạn II, đã bị tấn công tại căn cứ.
  • Đêm 31 tháng 3, tập kích căn cứ Ba Vũng.

Ngoài ra, cụm căn cứ Sóc Con Trăng bị bao vây uy hiếp, làm hạn chế sức đánh phá của căn cứ này. Các vùng hậu cứ của Chiến dịch Junction City cũng bị pháo binh bắn phá như: Quản Lợi, Đồng Dù, Suối Đá. Chỉ huy sở của cuộc hành quân trú đóng tại Dầu Tiếng cũng bị pháo kích. Trên toàn mặt trận, sự kháng cự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỏ ra ngày càng mãnh liệt.

Từ 1 tháng 4, quân Mỹ bắt đầu triệt thoái từng bước, đến 15 tháng 4 năm 1967, quân đội Mỹ và Việt Nam Công hòa kết thúc chiến dịch với 53 ngày đêm.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Việt Nam- Những sự kiện Lịch sử 1945-1975 NXB GD tr 316

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]