Lê Đức Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Đức Anh
Chức vụ
Nhiệm kỳ 23 tháng 9, 1992 – 24 tháng 9, 1997
&0000000000000005.0000005 năm, &0000000000000001.0000001 ngày
Tiền nhiệm Võ Chí Công
Kế nhiệm Trần Đức Lương
Nhiệm kỳ 16 tháng 2, 1987 – 10 tháng 8, 1991
Tiền nhiệm Văn Tiến Dũng
Kế nhiệm Đoàn Khuê
Nhiệm kỳ tháng 12, 1986 – tháng 2, 1987
Tiền nhiệm Lê Trọng Tấn
Kế nhiệm Đoàn Khuê
Thông tin chung
Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh 1 tháng 12, 1920 (93 tuổi)
Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế
Binh nghiệp

Lê Đức Anh (sinh 1 tháng 12 năm 1920) là Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1992 đến tháng 12 năm 1997. Ông cũng từng là một tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1986-1987), bộ trưởng bộ Quốc phòng Việt Nam, mang quân hàm Đại tướng.

Quá trình công tác[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu sử
Biệt danh Sáu Nam
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1945-1992
Cấp bậc Vietnam People's Army General.jpgĐại tướng
Chỉ huy Flag of North Vietnam 1945-1955.svg Việt Minh
FNL Flag.svg Quân Giải phóng Miền Nam
Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Tham chiến Chiến dịch Mậu Thân 1968
Chiến dịch Hồ Chí Minh
Chiến tranh biên giới Tây Nam
Khen thưởng Huân chương Sao vàng
Huân chương Hồ Chí Minh
Huân chương Quân công hạng nhất
Huân chương Chiến thắng hạng nhất
...
Công việc khác Chủ tịch nước

Lê Đức Anh quê tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Năm 1944, ông tổ chức và Phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh.

Tháng 8 năm 1945, ông tham gia quân đội, giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính trị viên Tiểu đoàn, chi đội 1 và Trung đoàn 301. Từ tháng 10 năm 1948 đến năm 1950, ông là tham mưu trưởng các Quân khu 7, Quân khu 8 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Từ năm 1951 đến 1954, giữ chức tham mưu phó, quyền tham mưu trưởng bộ tư lệnh Nam Bộ.

Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc. Tháng 5 năm 1955, ông được cử giữ chức Cục phó Cục Tác chiến, rồi Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu; hàm Đại tá (1958). Từ tháng 8 năm 1963, ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tháng 2 năm 1964, ông được điều vào Nam với bí danh Sáu Nam, giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Miền Nam. Năm 1969, được điều về làm Tư lệnh Quân khu 9.

Cuối năm 1974, ông được điều trở lại chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam và được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng. Năm 1975, ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn.

Từ tháng 5 năm 1976, ông là Tư lệnh Quân khu 9. Đến tháng 6 năm 1978, là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, chỉ huy trưởng cơ quan tiền phương Bộ Quốc phòng ở mặt trận Tây Nam; được phong Thượng tướng năm 1980. Năm 1981, khi đang giữ chức Tư lệnh Quân khu 7, ông được phân công kiêm chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Phó trưởng ban, rồi Trưởng ban lãnh đạo chuyên gia Việt Nam tại Campuchia. Năm 1984, ông được phong hàm Đại tướng.

Tháng 12 năm 1986, ông được cử giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ ngày 16 tháng 2 năm 1987[1] đến 10 tháng 8 năm 1991, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, phó bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương.

Năm 1991 là Thường trực Bộ chính trị. Năm 1992, ông được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bầu vào chức vụ Chủ tịch nước.

Ông cũng là Ủy viên Bộ Chính trị khóa V-VIII, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, IX.

Từ tháng 9 năm 1997, ông nghỉ chức vụ Chủ tịch nước, sau đó trở thành Cố vấn Trung ương Đảng. Đến năm đến tháng 4 năm 2001, ông chính thức nghỉ hưu.

Lịch sử thụ phong quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm thụ phong 1958 1974 1974 1980 1984
Quân hàm Vietnam People's Army Senior Colonel.jpg Vietnam People's Army Major General.jpg Vietnam People's Army Lieutenant General.jpg Vietnam People's Army Colonel General.jpg Vietnam People's Army General.jpg
Cấp bậc Đại Tá Thiếu Tướng
(phong vượt cấp)
Trung Tướng Thượng Tướng Đại Tướng

Phong tặng[sửa | sửa mã nguồn]

Đại tướng Lê Đức Anh được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất,... Năm 2008, ông được Đảng Cộng sản Việt Nam tặng Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Năm 2013, ông được Đảng Cộng sản Việt Nam tặng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng.[2]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ là bà Võ Thị Lê. Con trai là Lê Mạnh Hà, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.[cần dẫn nguồn]

Câu nói[sửa | sửa mã nguồn]

Sử dụng cả hàng chục công an, bộ đội đến cưỡng chế với một gia đình làm ăn tử tế thì tôi thấy rất băn khoăn. Đây là một chuyện rất hiếm, tôi chưa nghe thấy chuyện này bao giờ. Nếu nơi nào mà làm việc đó thì tôi phản đối, sử dụng bộ đội để cưỡng chế với dân là tuyệt đối sai.

—Lê Đức Anh trả lời phỏng vấn báo Giáo dục Việt Nam về vụ cưỡng chế đất ở Tiên Lãng[3]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nghị quyết 782/ NQ/HĐNN7 năm 1987.
  2. ^ Trao tặng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho đồng chí Lê Đức Anh, Báo điện tử Chính phủ
  3. ^ Ngọc Quang (9 tháng 2 năm 2012), Đại tướng Lê Đức Anh: "Sử dụng bộ đội để cưỡng chế là tuyệt đối sai", Báo Giáo dục Việt Nam.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]