Lê Đức Anh
| Lê Đức Anh | |
| Chủ tịch nước Việt Nam | |
|---|---|
| Nhiệm kỳ | 23 tháng 9, 1992 – 24 tháng 9, 1997 5 năm, 1 ngày |
| Tiền nhiệm | Võ Chí Công |
| Kế nhiệm | Trần Đức Lương |
| Bộ trưởng Bộ Quốc phòng | |
| Nhiệm kỳ | 16 tháng 2, 1987 – 10 tháng 8, 1991 |
| Tiền nhiệm | Văn Tiến Dũng |
| Kế nhiệm | Đoàn Khuê |
| Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam | |
| Nhiệm kỳ | tháng 12, 1986 – tháng 2, 1987 |
| Tiền nhiệm | Lê Trọng Tấn |
| Kế nhiệm | Đoàn Khuê |
| Đảng | Đảng Cộng sản Việt Nam |
| Sinh | 1 tháng 12, 1920 Phú Lộc, Thừa Thiên-Huế |
Lê Đức Anh (sinh 1 tháng 12 năm 1920) là Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1992 đến tháng 12 năm 1997. Ông cũng từng là một tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1986-1987), bộ trưởng bộ Quốc phòng Việt Nam, mang quân hàm Đại tướng.
Mục lục |
Quá trình công tác [sửa]
| Tiểu sử | |
|---|---|
| Biệt danh | Sáu Nam |
| Quốc tịch | |
| Binh nghiệp | |
| Thuộc | |
| Năm tại ngũ | 1945-1992 |
| Cấp bậc | |
| Chỉ huy | |
| Tham chiến | Chiến dịch Mậu Thân 1968 Chiến dịch Hồ Chí Minh Chiến tranh biên giới Tây Nam |
| Khen thưởng | Huân chương Sao vàng Huân chương Hồ Chí Minh Huân chương Quân công hạng nhất Huân chương Chiến thắng hạng nhất ... |
| Công việc khác | Chủ tịch nước |
Lê Đức Anh quê tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Năm 1944, ông tổ chức và Phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh.
Tháng 8 năm 1945, ông tham gia quân đội, giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính trị viên Tiểu đoàn, chi đội 1 và Trung đoàn 301. Từ tháng 10 năm 1948 đến năm 1950, ông là tham mưu trưởng các Quân khu 7, Quân khu 8 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Từ năm 1951 đến 1954, giữ chức tham mưu phó, quyền tham mưu trưởng bộ tư lệnh Nam Bộ.
Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc. Tháng 5 năm 1955, ông được cử giữ chức Cục phó Cục Tác chiến, rồi Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu; hàm Đại tá (1958). Từ tháng 8 năm 1963, ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 2 năm 1964, ông được điều vào Nam với bí danh Sáu Nam, giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Miền Nam. Năm 1969, được điều về làm Tư lệnh Quân khu 9.
Cuối năm 1974, ông được điều trở lại chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam và được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng. Năm 1975, ông được cử giữ chức Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm Tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn.
Từ tháng 5 năm 1976, ông là Tư lệnh Quân khu 9. Đến tháng 6 năm 1978, là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, chỉ huy trưởng cơ quan tiền phương Bộ Quốc phòng ở mặt trận Tây Nam; được phong Thượng tướng năm 1980. Năm 1981, khi đang giữ chức Tư lệnh Quân khu 7, ông được phân công kiêm chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Phó trưởng ban, rồi Trưởng ban lãnh đạo chuyên gia Việt Nam tại Campuchia. Năm 1984, ông được phong hàm Đại tướng.
Tháng 12 năm 1986, ông được cử giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ ngày 16 tháng 2 năm 1987[1] đến 10 tháng 8 năm 1991, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, phó bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương.
Năm 1991 là Thường trực Bộ chính trị. Năm 1992, ông được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bầu vào chức vụ Chủ tịch nước.
Ông cũng là Ủy viên Bộ Chính trị khóa V-VIII, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, IX.
Từ tháng 9 năm 1997, ông nghỉ chức vụ Chủ tịch nước, sau đó trở thành Cố vấn Trung ương Đảng. Đến năm đến tháng 4 năm 2001, ông chính thức nghỉ hưu.
Phong tặng [sửa]
Đại tướng Lê Đức Anh được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất,...
Năm 2008, ông được Đảng Cộng sản Việt Nam tặng Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng.
Gia đình [sửa]
Phu nhân là bà Võ Thị Lê. Con trai là Lê Mạnh Hà, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Con trai là Lê Sỹ Hiệp, Vụ trưởng, Thư ký Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
Câu nói [sửa]
Bộ đội, thì nhiệm vụ trước tiên, hàng đầu của anh là chống giặc ngoại xâm, thứ hai mới là giúp dân và thứ ba là tham gia sản xuất. Đây anh lại không bảo vệ cho dân làm ăn lại tham gia cưỡng chế dân. Đây là một sai lầm mà trong lịch sử đất nước ta chưa từng có[2]. Trích phát biểu trong Vụ án cưỡng chế đất ở Tiên Lãng
Tham khảo [sửa]
- ^ Nghị quyết 782/ NQ/HĐNN7 năm 1987.
- ^ http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Dai-tuong-Le-Duc-Anh-Su-dung-bo-doi-de-cuong-che-la-tuyet-doi-sai/20122/190714.datviet
Liên kết ngoài [sửa]
- Những kỷ niệm nhỏ về đồng chí Lê Đức Anh của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt trên Việt Nam Net ngày 1 tháng 12 năm 2006.
- Đại tướng Lê Đức Anh: "Sử dụng bộ đội để cưỡng chế là tuyệt đối sai"
- Đại tướng Lê Đức Anh: "Phải xử lý nghiêm cán bộ làm sai vụ cưỡng chế"
- Đại tướng Lê Đức Anh:"Xử lý không nghiêm, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng"
- Tiểu sử Lê Đức Anh
|
||||||||
|
|||||
|
|||||
|
|||||
|
|||||||||||||
|
||||||||||
|
||||||||||
|
|||||||||||||
- Sơ khai tiểu sử
- Sinh 1920
- Nhân vật còn sống
- Chủ tịch nước Việt Nam
- Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
- Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
- Đại biểu Quốc hội Việt Nam
- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam
- Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam
- Người Thừa Thiên-Huế
- Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam
- Huân chương Sao Vàng
- Huân chương Hồ Chí Minh
- Huân chương Quân công
- Huân chương Chiến thắng
- Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng Cộng sản Việt Nam
- Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam
- Danh hiệu Việt Nam
- Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam