Chữ Quốc ngữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trang đầu Phép giảng tám ngày (Catechismus) in năm 1651 của Giám mục Đắc Lộ. Bên trái là chữ Latinh, bên phải là chữ Quốc ngữ

Chữ Quốc ngữ là hệ thống chữ viết chính thức hiện nay của tiếng Việt. Hệ thống này được xây dựng dựa trên chữ cái Latinh (cụ thể là trực tiếp từ chữ cái Bồ Đào Nha) thêm các chữ ghép và chín dấu phụ — bốn dấu tạo ra các âm mới, và năm dấu còn lại dành cho thể hiện thanh điệu của từ. Hai loại dấu phụ có thể được viết cùng trên một chữ cái nguyên âm.

Bảng chữ cái chữ quốc ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ quốc ngữ có 29 chữ cái là:

A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y
a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y

Mỗi chữ cái đều có hai hình thức viết lớn và viết nhỏ. Kiểu viết lớn gọi là "chữ hoa", khi dùng ở dạng viết tay còn được gọi là "chữ viết hoa", khi dùng ở dạng chữ in còn được gọi là "chữ in hoa". Kiểu viết nhỏ gọi là "chữ thường", khi dùng ở viết tay còn được gọi là "chữ viết thường", khi dùng ở dạng chữ in còn được gọi là "chữ in thường". Cả hai hình thức "chữ hoa" và "chữ thường" của mỗi chữ cái đều có cùng tên gọi, âm vị mà chúng biểu thị cũng giống nhau. Hình thức chữ hoa của một chữ cái sẽ được gọi bằng công thức: "chữ" + tên gọi của chữ cái đó + "hoa". Còn hình thức chữ thường sẽ được gọi bằng công thức: "chữ" + tên gọi của chữ cái đó + "thường". Ví dụ: "B" và "b" đều được gọi là "bê" hoặc "bờ", khi cần phân biệt thì "B" được gọi là "chữ bê hoa", "b" được gọi là "chữ bê thường". Chữ hoa được dùng để biểu thị danh từ riêng (tên người, địa danh, tên gọi của các đoàn thể, tổ chức vân vân), điểm bắt đầu của một đoạn văn, nhấn mạnh một đoạn văn người đọc cần chú ý.

Trừ ba chữ cái "đ" (đờ), "k" (ca) và "q" (quy, cu, quờ) ra thì tất cả các chữ cái quốc ngữ biểu thị phụ âm khác đều có hai kiểu tên gọi: kiểu thứ nhất là bắt nguồn từ tên gọi của nó trong tiếng Pháp, kiểu thứ hai là ghép phụ âm mà nó biểu thị với nguyên âm "ơ" và thanh huyền. Ví dụ như chữ "c" có hai tên gọi là "xê" và "cờ", trong đó "xê" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "c" trong tiếng Pháp là "cé" [se]. Khi đánh vần từ tiếng Việt người ta sẽ dùng kiểu tên gọi thứ hai, không dùng kiểu tên gọi thứ nhất, ví dụ như từ "cá" được đánh vần là "cờ a cá sắc cá", không được đánh vần là "xê a ca sắc cá". Hiện nay trừ trường hợp đánh vần tiếng Việt đã nêu ở trên ra và ba chữ cái "d", "k", "q" thì người ta thường gọi tên các chữ cái biểu thị phụ âm bằng kiểu thứ nhất, ví dụ như "VAT" (tên gọi tắt theo tiếng Anh của thuế giá trị gia tăng) được đọc là "vê a tê", không gọi là "vờ a tờ".

Dưới đây danh sách 29 chữ cái chữ quốc ngữ cùng tên gọi của chúng:

Chữ cái Tên gọi Chú thích
A/a a đọc theo {IPA[a:]}.
Ă/ă á đọc theo {IPA[a],[ʌ]}.
Â/â đọc theo {IPA[ə]}.
B/b bê, bê bò, bờ Tại một số nơi âm tắc đôi môi thanh [p] (chữ quốc ngữ biểu thị bằng chữ cái "p") không bao giờ là phụ âm đầu, những từ bắt đầu bằng chữ cái "p" khi nói sẽ có có phụ âm đầu là âm nội bộc đôi môi trọc [ɓ], để phân biệt chữ cái "b" với chữ cái "p" người ta gọi chữ "b" là "bê bò", p là "bê phở" (p).
C/c xê, cờ Tên gọi "xê" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "c" trong tiếng Pháp là "cé" [se].
D/d dê, đê, dờ Tên gọi "đê" và "dê" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "d" trong tiếng Pháp là "dé" [de]. Lưu ý chữ cái "đ" cũng hay được gọi là "đê".
Đ/đ đê, đờ Tên gọi "đê" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "d" trong tiếng Pháp là "dé" [de]. Lưu ý chữ cái "d" cũng hay được gọi là "đê".
E/e e đọc theo {IPA[e],[ɛ]}.
Ê/ê ê đọc theo {IPA[ei]}.
G/g gờ, giê Tên gọi "giê" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "g" trong tiếng Pháp là "gé" [ʒe]. Người Việt ở miền Bắc thường không gọi chữ cái "g" là "giê" mà gọi là "gờ" vì "dê" (đồng âm với "giê") đã dùng để gọi chữ cái "d" rồi.
H/h hắt, hát, hờ Tên gọi "hắt" và "hát" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "h" trong tiếng Pháp là "ache" [aʃ].
I/i i, i ngắn Gọi là "i ngắn" là để phân biệt với chữ "i dài" (y).
K/k ca Tên gọi "ca" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "k" trong tiếng Pháp là "ka" [kɑ].
L/l e-lờ, lờ cao, lờ Tên gọi "e-lờ" và "en-lờ" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "l" trong tiếng Pháp là "elle" [ɛl]. Phương ngôn tiếng Việt miền Bắc có hiện tượng nói lẫn lộn hai phụ âm đầu "l" và "n" nên phải gọi chữ "l" là chữ "lờ cao" để phân biệt với chữ "nờ thấp" (n).
M/m e-mờ, em-mờ, mờ Tên gọi "e-mờ" và "em-mờ" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "m" trong tiếng Pháp là "emme" [ɛm].
N/n e-nờ, en-nờ, nờ thấp, nờ Tên gọi "e-nờ" và "en-nờ" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "n" trong tiếng Pháp là "enne" [ɛn]. Phương ngôn tiếng Việt miền Bắc có hiện tượng nói lẫn lộn hai phụ âm đầu "l" và "n" nên phải gọi chữ "n" là chữ "nờ thấp" để phân biệt với chữ "lờ cao" (l).
O/o o Trong các từ viết tắt chữ cái "o" hay được gọi là "ô", ví dụ như "WHO" (tên gọi tắt của Tổ chức Y tế Thế giới được đọc là "vê kép hắt ô". Tên gọi "ô" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "o" trong tiếng Pháp là "o" [o]. "VOV", tên gọi tắt của Đài Tiếng nói Việt Nam, ngoài kiểu đọc "vê ô vê" cũng thường được đọc là "vê o vê".
Ô/ô ô đọc theo {IPA[ou]}.
Ơ/ơ ơ đọc theo {IPA[ə:]}.
P/p pê, bê phở, pờ Tên gọi "pê" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "p" trong tiếng Pháp là "pé" [pe]. Tại một số nơi âm tắc đôi môi thanh {{IPA|[p]} (chữ quốc ngữ biểu thị bằng chữ cái "p") không bao giờ là phụ âm đầu, những từ bắt đầu bằng chữ cái "p" khi nói sẽ có có phụ âm đầu là âm nội bộc đôi môi trọc [ɓ], để phân biệt chữ cái "b" với chữ cái "p" người ta gọi chữ "b" là "bê bò", p là "bê phở" (p).
Q/q cu, quy, quờ Tên gọi "quy" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "q" trong tiếng Pháp là "qu" [ky].
R/r e-rờ, rờ Tên gọi "e-rờ" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "r" trong tiếng Pháp là "erre" [ɛʁ].
S/s ét, ét-xì, sờ nặng, sờ Tên gọi "ét" và "ét-xì" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "s" trong tiếng Pháp là "esse" [ɛs]. Trong phương ngôn tiếng Việt miền Bắc những từ bắt đầu bằng chữ "s" khi nói có cùng phụ âm đầu với những từ bắt đầu bằng chữ cái "x" (đều là âm sát răng lợi [s]) nên phải gọi chữ cái "s" là "sờ nặng" để phân biệt với chữ "xờ nhẹ" (x).
T/t tê, tờ Tên gọi "tê" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "t" trong tiếng Pháp là "té" [te].
U/u u đọc theo {IPA[u]}.
Ư/ư ư đọc theo {IPA[ɨ]}.
V/v vê, vờ Tên gọi "vê" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "v" trong tiếng Pháp là "vé" [ve].
X/x ích, ích xì, xờ nhẹ, xờ Tên gọi "ích" và "ích xì" bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái "x" trong tiếng Pháp là "ixe" [iks]. Trong phương ngôn tiếng Việt miền Bắc những từ bắt đầu bằng chữ "s" khi nói có cùng phụ âm đầu với những từ bắt đầu bằng chữ cái "x" (đều là âm sát răng lợi [s]) nên phải gọi chữ cái "x" là "xờ nhẹ" để phân biệt với chữ "sờ nặng" (s).
Y/y i dài, i gờ-rét Gọi là "i dài" là để phân biệt với chữ "i ngắn" (i). Tên gọi "i gờ-rét" bắt nguồn từ tên gọi của chữ "y" trong tiếng Pháp là "i grec" [iɡʁɛk], có nghĩa là "i Hi Lạp", nay ít dùng.

Trong chữ quốc ngữ không phải chữ cái nào cũng biểu thị một âm vị duy nhất và cũng không phải âm vị nào cũng được biểu thị bằng một cách duy nhất. Có một số âm vị của tiếng Việt được ghi lại bằng nhiều cách khác nhau. Lại cũng có những chữ cái biểu thị nhiều âm vị khác nhau của tiếng Việt.

Chữ quốc ngữ có 11 chữ cái ghép do hai hay ba chữ cái tạo thành dùng để ghi lại các phụ âm của tiếng Việt: 11 chữ cái ghép của chữ quốc ngữ bao gồm.

Bốn chữ cái "f", "j", "w" và "z" không được dùng để ghi lại âm vị nào của tiếng Việt, nhưng chúng có thể xuất hiện khi biểu hiện nguyên mẫu danh từ riêng chỉ tên người và danh từ chung chỉ địa danh của tiếng dân tộc khác không phải dân tộc Kinh (kể cả tiếng nước ngoài) và tên viết tắt từ tiếng nước ngoài. Trong tiếng Việt bốn chữ cái này có tên gọi như sau:

  • F: ép,ép-phờ. Bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái này trong tiếng Pháp là "effe" [ɛf].
  • J: gi. Bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái này trong tiếng Pháp là "ji" [ʒi].
  • W: vê kép, vê đúp. Bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái này trong tiếng Pháp là "double vé" [dubləve].
  • Z: dét. Bắt nguồn từ tên gọi của chữ cái này trong tiếng Pháp là "zède" [zɛd]

Hiện đang có ý kiến cho rằng, cần bổ sung thêm bốn chữ cái "f", "j", "w" và "z" vào bảng chữ cái quốc ngữ để hợp thức hóa cách sử dụng để đáp ứng sự phát triển của tiếng Việt hiện đại.[1]

Nguyên âm[sửa | sửa mã nguồn]

Có sáu nguyên âm đơn chính: A, E, I, O, U, Y nhưng chỉ tính là năm (I và Y phát âm gần giống nhau và có thể thay thế nhau trong một số trường hợp) và sáu nguyên âm biến thể do được thêm dấu là Ă, Â, Ê, Ô, Ơ và Ư. Như vậy, có 11 nguyên âm đơn.

Ngoài các nguyên âm đơn, trong tiếng Việt còn có: 32 nguyên âm đôi, còn gọi là trùng nhị âm (AI, AO, AU, ÂU, AY, ÂY, EO, ÊU, IA, IÊ/YÊ, IU, OA, OĂ, OE, OI, ÔI, ƠI,OO,ÔÔ, ƠU,UA, UĂ, UÂ, ƯA, UÊ, UI, ƯI, UÔ, UƠ, ƯƠ, ƯU, UY) và 19 nguyên âm ba hay trùng tam âm (IÊU/YÊU, OAI, OAO, OAY, OEO, UAI, UAO, UAU, UÂU, UAY, UÂY, UEO, UÊU, UÔI, ƯƠI, ƯƠU, UYA,UYÊ, UYU).

Có 12 nguyên âm: Ă, Â, IÊ, OĂ,OO,ÔÔ, UÂ, UĂ, UÔ, ƯƠ, UYÊ, YÊ bắt buộc phải thêm phần âm cuối.Được chia theo quy tắc đối lập bổ sung như sau:

  • Có thể thêm nguyên âm cuối, hoặc phụ âm cuối: Â, IÊ,UÂ,UÔ,ƯƠ,YÊ.
  • Chỉ có thể thêm phụ âm cuối: Ă,OĂ,ƯA,OO,ÔÔ,UYÊ.

Có 4 nguyên âm ghép có thể đứng tự do một mình hoặc thêm âm đầu, cuối, hoặc cả đầu lẫn cuối: OA, OE, UÊ, UY.

Như vậy ta chỉ có 37 nguyên âm ghép không thêm được phần âm cuối là: AI, AO, AU, ÂU, AY, ÂY, EO, ÊU, IA, IÊU, IU, OI, ÔI, ƠI, ƠU, OAI, OAO, OAY, OEO, ƯA, UI, ƯI, ƯU, UƠ, UAI, UAO, UAU, UÂU, UAY, UÂY, UEO, UÊU, UÔI, ƯƠI, ƯƠU, UYA và UYU. Trong phát âm và viết thành chữ Quốc ngữ thì việc lên xuống, kéo dài âm từ để biểu hiện từ tượng thanh, tượng hình và lớn, nhỏ... luôn là việc cần thiết.

Có mối liên hệ phức tạp giữa nguyên âm và cách phát âm của chúng. Một nguyên âm có thể biểu thị cho vài cách phát âm khác nhau, tùy theo nó nằm trong nguyên âm đơn, đôi hay ba; và nhiều khi các cách viết nguyên âm khác nhau tượng trưng cho cùng một cách phát âm.

Ví dụ yi có thể dùng thay cho nhau trong nhiều trường hợp. Đã có quyết định của Bộ Giáo dục Việt Nam vào năm 1984, quy định dùng i thay cho y. Quy chuẩn này không áp dụng cho các nguyên âm đôi và nguyên âm ba, cũng như ngoại trừ tên riêng; nhưng vẫn có hạn chế trong việc thực thi trong cuộc sống. Trường hợp các từ có phụ âm đầu là qu, sử dụng vần y thì sẽ đúng hơn.

Bảng sau cho biết các cách phát âm (theo Bảng mẫu tự phiên âm quốc tế) có thể tương ứng với từng cách viết nguyên âm:

Cách viết Phát âm Cách viết Phát âm
a  /ɐː/, /ɐ/, /ɜ/, /a:/ o  /ɔ/, /ɐw/, /w/
ă  /ɐ/,/ʌ/ ô  /o/, /ɜw/, /ɜ/,/ou/
â  /ɜ/,/ə/ ơ  /əː/, /ɜ/
e  /ɛ/,/e/,/æ/ u  /u/, /w/
ê  /e/, /ɜ/, /ei/ ư  /ɨ/,[ɫ]
i  /i/, /j/ y  /i/, /j/, /i:/

Hiện nay các nhà ngôn ngữ học chưa có sự thống nhất hoàn toàn về số lượng nguyên âm trong tiếng Việt[2]. Tuy nhiên, quan điểm phổ biến cho rằng tiếng Việt có 13 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi và không có nguyên âm ba[3], gồm: /i, e, ε, ɤ, ɤˇ, a, ɯ, ă, u, o, ɔ, ɔˇ, εˇ, ie, ɯɤ, uo/.

Bảng sau cho biết các cách viết có thể tương ứng với từng cách phát âm nguyên âm đơn:

Nguyên âm đơn
/i/
  • i (ngắn) i: /si/ = cây si, tính.
    1. phân biệt với y khi tả âm, tượng hình như: hi hi thay vì hy hy. ti hí, hủ hỉ.
  • y (dài) y: /mi/ = Mỹ (là từ Hán-Việt), kỹ thuật.
  • sẽ là y nếu
    1. bắt đầu một từ: /iɜw/ = yêu. (không áp dụng cho nguyên âm đôi, nguyên âm ba)
    2. dùng cho danh từ có phụ âm đơn đứng trước,
    3. đứng riêng độc lập về âm không kèm phụ âm: y tế
  • (Chú ý là cả iy đều cũng có thể dùng biểu thị cho /j/.)
/e/,/ei/
  • ê
/ɛ/,/æ/
  • e
/ɨ/,/ɫ/
  • ư
/əː/
  • ơ
/ɜ/
  • /ɜ/
/ɐː/,/a:/
  • a
/ɐ/
/u/
  • u
/o/,/ou/
  • ô
/ɔ/
  • o
 

Bảng sau cho biết các cách viết có thể tương ứng với từng cách phát âm nguyên âm đôi và ba:

Nguyên âm đôi & ba
Phát âm Cách viết Phát âm Cách viết
Nguyên âm đôi
/uj/ ui * /iw/ iu **
/oj/ ôi * /ew/ êu **
/ɔj/ oi * /ɛw/ eo ***
/əːj/ ơi * /əːw/ ơu **
/ɜj/ ây, ê * /ɜw/ âu, ô **
/ɐːj/ ai * /ɐːw/ ao ***
/ɐj/ ay, a * /ɐw/ au, o **
/ɨj/ ưi * /ɨw/ ưu **
/iɜ/ ia, ya, iê, yê /uɜ/ ua, uô
/ɨɜ/ ưa, ươ    
Nguyên âm ba
/iɜw/ iêu, yêu ** /uɜj/ uôi *
/ɨɜj/ ươi * /ɨɜw/ ươu **
* Nhiều khi không được công nhận là nguyên âm mà là vần, gồm nguyên âm chính và âm cuối (bán nguyên âm) i.
** Nhiều khi không được công nhận là nguyên âm mà là vần, gồm nguyên âm chính và âm cuối (bán nguyên âm) u.
*** Nhiều khi không được công nhận là nguyên âm mà là vần, gồm nguyên âm chính và âm cuối (bán nguyên âm) o.
/iɜ/
  • ia nếu không có phụ âm nằm sau /miɜ/ = mía
  • nếu có phụ âm nằm sau /miɜŋ/ = miếng
  • thay i bằng y tại đầu từ hoặc sau một chữ cái nguyên âm:
    • ya: /xwiɜ/ = khuya
    • : /xwiɜn/ = khuyên; /iɜn/ = yên

/uɜ/

  • ua nếu không có phụ âm nằm sau /muɜ/ = mua
  • nếu có phụ âm nằm sau /muɜn/ = muôn

/ɨɜ/

  • ưa nếu không có phụ âm nằm sau /mɨɜ/ = mưa
  • ươ nếu có phụ âm nằm sau /mɨɜŋ/ = mương
 

Phụ âm[sửa | sửa mã nguồn]

Có 17 chữ cái là phụ âm đơn và 11 chữ ghép do hai hoặc ba chữ cái ghép thành là phụ âm ghép:

  • 17 chữ cái là phụ âm đơn : B,C,D,Đ,G,H,K,L,M,N,P,Q,R,S,T,V,X
  • 11 chữ cái ghép là phụ âm ghép : CH,GH,Gi,KH,NG,NGH,NH,PH,QU,TH,TR

Khi chữ quốc ngữ ra đời thứ tiếng Việt mà nó ghi lại là tiếng Việt trung đại, không giống với tiếng Việt hiện đại đang được sử dụng ở Việt Nam hiện nay, do đó một từ được viết giống với ngày nay chưa chắc đã được phát âm giống nhau. Tiếng Việt trung đại khi đó có ba phụ âm kép là "tl" [tl], "bl" [ɓl], "ml" [ml]. Phụ âm kép [ml] về sau biến đổi thành phụ âm kép "mnh" [mɲ]. Tiếng Việt hiện đại không có phụ âm kép nào ngoài phụ âm kép [tʂ] được một số người miền Nam sử dụng (chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ kép "tr"). Tiếng Việt trung đại có âm sát đôi môi trọc [β]. Chữ quốc ngữ ghi lại bằng chữ cái Latin small letter B with flourish.svg (dạng chữ hoa của nó là Latin capital letter B with flourish.svg). Tiếng Việt hiện đại không còn phụ âm [β].

Dưới đây là các chữ cái và chữ ghép biểu thị phụ âm trong chữ quốc ngữ hiện đang được sử dụng cùng phụ âm mà chúng biểu thị.

Trong tiếng Việt nguyên âm thường không thể làm âm đầu của một âm tiết hoặc đứng một mình tạo thành một âm tiết. Khi không có phụ âm nào khác làm phụ âm đầu của một âm tiết thì âm tắc thanh môn [ʔ] sẽ được chèn vào làm âm đầu. Chữ quốc ngữ không có chữ cái nào ghi lại phụ âm [ʔ]. Ví dụ [ʔaːj] chữ quốc ngữ viết là "ai", chỉ có nguyên âm đôi [aːj] được ghi lại, phụ âm đầu [ʔ] bị bỏ qua.

Các phụ âm sau đây của tiếng Việt trong chữ quốc ngữ được ghi lại bằng nhiều cách khác nhau:

  • Phụ âm [k]: được ghi bằng "c", "k" và "q".
  • Phụ âm [ŋ]: được ghi lại bằng "ng", "ngh", "nh".
  • Phụ âm [ɣ]: được ghi lại bằng "g" và "gh".
  • Phụ âm đầu [z]: được ghi lại bằng "d" và "gi".
  • Phụ âm đầu [j]: Phụ âm đầu [j] có trong phương ngôn tiếng Việt miền Nam, phương ngôn tiếng Việt miền Bắc không có phụ âm đầu này. Trong chữ quốc ngữ phụ âm đầu [j] được ghi lại bằng ba chữ cái "d", "v" và "gi".

Thanh điệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Việt là ngôn ngữ thanh điệu, mọi âm tiết của tiếng Việt đều luôn mang một thanh điệu nào đó. Phương ngôn tiếng Việt miền Bắc có sáu thanh điệu, phương ngôn tiếng Việt miền Trung và miền Nam có năm thanh điệu.

So sánh điệu trị thanh điệu các phương ngôn tiếng Việt
Thanh điệu Bắc Bộ Bắc Trung Bộ Trung Bộ Nam Bộ
 Vinh  Thanh
Chương
Hà Tĩnh
ngang ˧ 33 ˧˥ 35 ˧˥ 35 ˧˥ 35, ˧˥˧ 353 ˧˥ 35 ˧ 33
huyền ˨˩̤ 21̤ ˧ 33 ˧ 33 ˧ 33 ˧ 33 ˨˩ 21
sắc ˧˥ 35 ˩ 11 ˩ 11, ˩˧̰ 13̰ ˩˧̰ 13̰ ˩˧̰ 13̰ ˧˥ 35
hỏi ˧˩˧̰ 31̰3 ˧˩ 31 ˧˩ 31 ˧˩̰ʔ 31̰ʔ ˧˩˨ 312 ˨˩˦ 214
ngã ˧ʔ˥ 3ʔ5 ˩˧̰ 13̰ ˨̰ 22̰
nặng ˨˩̰ʔ 21̰ʔ ˨ 22 ˨̰ 22̰ ˨̰ 22̰ ˨˩˨ 212

Trừ thanh ngang không có phù hiệu riêng để biểu thị (vì vậy mà một số người gọi nó là "thanh không dấu"), chữ quốc ngữ dùng sáu phù hiệu gọi là "dấu thanh" hoặc "dấu", để biểu thị thanh điệu của tiếng Việt.

Thanh điệu Dấu phụ Nguyên âm mang dấu phụ, gọi là dấu âm.
Ngang Không có A/a Ă/ă Â/â E/e Ê/ê I/i O/o Ô/ô Ơ/ơ U/u Ư/ư Y/y
Huyền Dấu huyền À/à Ằ/ằ Ầ/ầ È/è Ề/ề Ì/ì Ò/ò Ồ/ồ Ờ/ờ Ù/ù Ừ/ừ Ỳ/ỳ
Sắc Dấu sắc Á/á Ắ/ắ Ấ/ấ É/é Ế/ế Í/í Ó/ó Ố/ố Ớ/ớ Ú/ú Ứ/ứ Ý/ý
Hỏi Dấu hỏi Ả/ả Ẳ/ẳ Ẩ/ẩ Ẻ/ẻ Ể/ể Ỉ/ỉ Ỏ/ỏ Ổ/ổ Ở/ở Ủ/ủ Ử/ử Ỷ/ỷ
Ngã Dấu ngã Ã/ã Ẵ/ẵ Ẫ/ẫ Ẽ/ẽ Ễ/ễ Ĩ/ĩ Õ/õ Ỗ/ỗ Ỡ/ỡ Ũ/ũ Ữ/ữ Ỹ/ỹ
Nặng Dấu nặng Ạ/ạ Ặ/ặ Ậ/ậ Ẹ/ẹ Ệ/ệ Ị/ị Ọ/ọ Ộ/ộ Ợ/ợ Ụ/ụ Ự/ự Ỵ/ỵ

Trong các nguyên âm đôi và ba có ít nhất hai cách đặt dấu phụ lên chúng, trong đó một cách ("cách mới") dựa trên lý thuyết ngôn ngữ học.

Trong xếp thứ tự chữ cái, các chữ cái được ưu tiên, tiếp sau là dấu âm, dấu thanh điệu, và sau cùng là chữ hoa/chữ thường. Quá trình ưu tiên này được thực hiện lần lượt trên các âm tiết. Ví dụ một từ điển sẽ xếp "tuân thủ" trước "tuần chay".

Dấu câu[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là các dấu câu được dùng trong chữ quốc ngữ:

  • Dấu chấm, còn gọi là dấu chấm câu:.
  • Dấu phẩy", còn gọi "dấu phết":,
  • Dấu hỏi, còn gọi là dấu chấm hỏi, dấu hỏi chấm: ?
  • Dấu chấm than, còn gọi là dấu cảm thán: !
  • Dấu chấm lửng, còn gọi là dấu ba chấm, dấu tỉnh lược: có hai dạng là "…" và "..."
  • Dấu dẫn: có hai loại là
    • Dấu dẫn đơn: có hai dạng là dấu dẫn đơn kiểu Anh Mỹ (' '), còn gọi là dấu nháy đơn, và dấu dẫn đơn kiểu Pháp Nga (‹ ›), còn gọi là dấu ngoặc nhọn. Dấu dẫn đơn chủ yếu xuất hiện trong một số văn bản được đánh bằng máy vi tính và trên sách báo, ít dùng trong chữ viết tay. Dấu dẫn đơn kiểu Anh Mỹ hay được dùng hơn dấu dẫn đơn kiểu Pháp Nga. Ngoài chỉ dấu dẫn đơn kiểu Pháp Nga, tên gọi "dấu ngoặc nhọn" còn được cũng được dùng để chỉ phù hiệu "⟨ ⟩" và "< >".
    • Dấu dẫn kép, còn gọi là dấu ngoặc kép: có hai dạng là dấu dẫn kép kiểu Anh Mỹ (" "), còn gọi là dấu nháy kép, và dấu dẫn kép kiểu Pháp Nga (« »). Dấu dẫn kép kiểu Pháp Nga nay ít dùng. Chữ viết tay thường dùng dấu dẫn kép kiểu Anh Mỹ.
  • Dấu chấm phẩy,còn gọi là" chấm phết :;
  • Dấu hai chấm::
  • Dấu ngoặc, còn gọi là dấu ngoặc ôm: có ba loại là
    • Dấu ngoặc tròn, còn gọi là dấu ngoặc đơn: ()
    • Dấu ngoặc vuông: [ ]
    • Dấu ngoặc xoắn: { }
  • Dấu gạch ngang: có ba loại là
    • Dấu liên tự: -
    • Dấu liên tiếp: –
    • Dấu phá chiết: —

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tự điển in năm 1651 bằng ba thứ tiếng Việt-Bồ-La của giáo sĩ Đắc Lộ

Thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Quốc ngữ được phổ biến sâu rộng và định chế vào khoảng thế kỷ 1920 nhưng đã xuất hiện phôi thai từ lâu vào thế kỷ 16 năm 1533 khi giáo sỹ phương Tây tên là I-nê-khu (?) đi từ đường biển vào truyền đạo Thiên chúa ở huyện Nam trực,và huyện Giao thủy,tỉnh Nam định. Các giáo sĩ Tây phương đầu tiên đến Việt Nam và giao tiếp với người Việt rồi vì nhu cầu học hỏi ngôn ngữ Việt (lúc đó còn dùng chữ Hán và chữ Nôm) để giao tiếp với người bản xứ mà bắt đầu ghi lại bằng cách phiên âm tiếng Việt dưới dạng chữ La tinh. Trước tiên là giáo sĩ Bồ Đào Nha dòng Phanxicô; kế đến là giáo sĩ Tây Ban Nha dòng Đa Minh[4] rồi dòng Tên. Sang thế kỷ 17 thì số văn tịch ghi lại dấu vết loại chữ này càng nhiều, kèm theo những biến đổi hoàn chỉnh với ký hiệu thanh giọng thêm chính xác. Tên tuổi những giáo sĩ đã tiên phong góp công trong việc hoàn chỉnh lối chữ này gồm có Gaspar do Amaral, Antonio BarbosaFrancisco de Pina.[5]

Giáo sĩ Đắc Lộ (tức Alexandre de Rhodes) người Pháp được coi là người có công nhiều trong việc định chế chữ quốc ngữ qua cuốn tự điển phiên âm Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum mà ông soạn và in ra năm 1651. Tuy là người Pháp nhưng ông lại dùng tiếng Bồ Đào Nha trong cuốn tự điển cùng những đóng góp của tiếng Ýtiếng Pháp. Soạn giả còn ghi rõ ông mượn dấu sắc, huyền, ngã từ tiếng Cổ Hy Lạp mà vẫn không đủ nên phải thêm iota subscriptum (dấu nặng) và dấu hỏi để biểu lộ thanh giọng của tiếng Việt.[6].

So sánh ký hiệu thì âm nh theo tiếng Bồ; gi theo tiếng Ý; còn ph theo tiếng Cổ Hy Lạp.

Các văn bản Công giáo thời kỳ này là tài liệu ghi chép quan trọng về cách phát âm của tiếng Việt cổ. Trong những tài liệu còn lưu trữ được là bản thảo "Manescrito, em que se Prou a, que a forma do Bauptisma Pronunciada em Lingoa Annamica he Verdadeira" do giáo sĩ Giovanni Filippo de Marini (1608-1682)[7] người Ý thuộc dòng Tên, sang đến Đàng Ngoài giảng đạo năm khoảng thập niên 1650, thì lối viết chữ Quốc ngữ ở giai đoạn đó như sau:[8]

Tau rửa mầi nhân danh Cha, ủa Con, ủa Spirite Santo. Tau lấy tên Chúa, tốt tên, tốt danh, tốt tiếng, vô danh, cắt ma, cắt xác, Blai có ba hồn bảy uía, Chúa Bloy Ba Ngôy nhẩn danh...

Thế kỷ 19[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên dùng chữ Quốc ngữ, ra mắt năm 1865

Một mốc quan trọng của chữ Quốc ngữ là cuốn tự điển của giáo sĩ Jean-Louis Taberd, in năm 1838, căn cứ vào những sửa chữa của Giám mục Bá Đa Lộc.[9]

Cuốn tự điển của Bá Đa Lộc được soạn từ năm 1773 đến 1815 thì hoàn thành, mang tên Dictionarium Annamatico-latinum nhưng chưa được in ra (bản viết tay nay còn giữ ở Văn khố Hội Truyền giáo Paris). Trong khi đó tự điển của Taberd mang tên Nam Việt Dương hiệp Tự vị (tựa tiếng Latinh cũng giống như cuốn của Bá Đa Lộc là Dictionarium Annamatico-latinum) được in ở Serampore, Ấn Độ. Nó phản ảnh một biến chuyển quan trọng của tiếng Việt trong khoảng thời gian giữa thế kỷ 17 và thế kỷ 19. So sánh tự điển của Taberd và De Rhodes thì âm "ȸ" biến mất, thay thế bằng âm "v" hoặc "b". Những âm "bl", "ml", "pl", "sl", và "tl" cũng biến mất, thay thế bằng "tr", "nh", "l", "s". Dạng chính tả của chữ Quốc ngữ ở thời điểm này không khác mấy cách viết ngày nay.

Cuốn tự điển có phần phụ lục tựa là "Lời Chúa Tàu và Người Annam vấn đáp cùng nhau" (Dialogus Inter Unum Navis Praevectum et Unum Cocincinensem), trong đó có đoạn như sau:[10]

- Ông đi viếng Quan lớn thì được song thói nước nầy chẳng cho phép thăm đờn bà.

- Tôi cam lòng chìu theo quốc pháp, tôi chẳng có ý làm đều gì nghịch cùng thói phép đất nầy, có tục ngữ rằng: nhập giang tùy khúc nhập gia tùy tục.

Đọc qua, ngoài một số chữ khác biệt cách viết nhưng ý đã rõ, không là trở ngại cho độc giả thế kỷ 21. Tuy nhiên vào thời điểm này phạm vi dùng chữ Quốc ngữ vẫn hạn chế trong việc ghi chép của cộng đồng Công giáo. Ngoài ra đại chúng người Việt không dùng lối chữ này.

Địa vị chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Đơn khai sinh năm 1938Bắc Kỳ có bốn dạng chữ: chữ Quốc ngữ lẫn chữ Nôm cùng dấu triện bằng tiếng Pháp và vài chữ Nho

Chữ Quốc ngữ trên chặng đường hơn 300 năm vẫn không được công nhận là văn tự chính thức cho tới khi người Pháp xâm lăng, chiếm lấy Nam Kỳ vào cuối thế kỷ 19. Ngày 22 tháng 2 năm 1869 Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn.[11]

Ngày 1 Tháng Giêng năm 1879 thì lại có lệnh đòi các văn kiện chính thức phải dùng chữ Quốc ngữ. Cũng năm đó chính quyền Pháp đưa chữ Quốc ngữ vào ngành giáo dục, bắt đầu ở các thôn xã Nam Kỳ phải dạy lối chữ này.[11]

Khi Gia Định Báo phát hành, tờ báo đầu tiên bằng tiếng Việt, thì câu văn đã thêm phần mạch lạc, chính tả không mấy khác ngữ văn ngày nay ví dụ như bản thông báo ngày 22 tháng 12 năm 1888 sau đây:[12]

Sở Thuế Chánh Ngạch. Các người thiếu thuế... đặng hay: các sổ phụ trong tháng Octobre 1888 thuế đất, thuế sanh ý, thuế ghe biển, thuế ghe sông, cùng thuế thân đã lập theo phép để trong tay quan Kho Bạc Sài Gòn và Chợ Lớn hay về việc thâu thuế. Bởi đó sức cho các người ấy phải y theo hạn trong luật dạy mà đóng các món thuế biên trong sổ ấy, bằng không thì phải cứ phép mà bắt buộc...

Thế kỷ 20[sửa | sửa mã nguồn]

Khái Hưng một thành phần cột trụ trong nhóm Tự Lực Văn đoàn, giúp phát triển văn chương chữ Quốc ngữ vào đầu thế kỷ 20

Sang thế kỷ 20 thì chính phủ Đông Pháp mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ, giao cho Nha Học chính giảng dạy ở Bắc Kỳ từ năm 1910.[13] Năm 1915 thì kỳ thi Hương cuối cùng diễn ra ở Bắc Kỳ mặc cho sự chống đối của giới sĩ phu. Ở Trung Kỳ thì đạo dụ của vua Khải Định ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ (tức ngày 28 tháng 12, 1918) chính thức bãi bỏ khoa cử và năm 1919 là năm cuối mở khoa thi ở Huế.[14] Chữ Quốc ngữ từ đó trở thành phương tiện diễn đạt duy nhất của người Việt trong khi địa vị Chữ Nhochữ Nôm càng mờ nhạt tuy chưa mất hẳn nhưng lui dần vào quá khứ.

Trong khi đó cũng có thành phần theo Nho học nhưng hiểu được giá trị của chữ Quốc ngữ và cổ động việc thâu nhận chữ Quốc ngữ như là một cách nâng cao trình độ kiến thức đại chúng, canh tân xã hội, thức tỉnh tinh thần yêu nước và huy động động lực phản kháng của người Việt trước quyền lực của thực dân Pháp. Trong đó có nhóm Đông Kinh nghĩa thục.[15] Việc theo học chữ Quốc ngữ theo đó thì không chỉ là phương tiện đọc và viết mà còn hàm ý vận động chính trị và vận mệnh dân tộc.[16]

Chữ Quốc ngữ qua những tác phẩm biên khảo, phóng sự, bình luận, du ký của những Nam Phong Tạp chí, Đông Dương Tạp chí, cùng một loạt tiểu thuyếtthơ mới của nhóm Tự lực Văn đoàn với tư tưởng mới, phong cách mới cũng và nhiều tác giả khác đã chứng minh chức năng toàn diện của chữ Quốc ngữ làm văn tự của người Việt để rồi sau năm 1945 các chính quyền kế thừa đều công nhận lối chữ này.

Chính tả[sửa | sửa mã nguồn]

Là quy định xã hội thống nhất bắt buộc mọi người phải tuân theo. Ý thức viết đúng chính tả là: Ý thức văn hóa.

Những quy tắc chính tả dưới đây đã được tham khảo rất nhiều qua những thảo luận về chính tả tiếng Việt, thậm chí đã quay ngược lại lịch sử từ năm 1902 khi Hội nghị Khảo cứu Viễn Đông được tổ chức tại đây, vấn đề về chữ Quốc ngữ đã được Ủy ban Cải cách chữ Quốc ngữ đề nghị lên chính phủ Toàn quyền lúc bấy giờ. Từ đó tới nay, đã có rất nhiều thảo luận được tổ chức nên đã giúp quy tắc chính tả tiếng Việt dần được điển chế hoá tới một mức độ khả quan hơn. Song song đó, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự chuẩn hoá của mã chữ Unicode đã mang tính quyết định trong việc hệ thống hoá những quy tắc về chính tả tiếng Việt.

Đặt dấu thanh[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều quan điểm khác nhau về việc vị trí đặt dấu thanh, một trong các quan điểm đó như sau:

  1. Với các âm tiết [-tròn môi] (âm đệm /Ø/) có âm chính là nguyên âm đơn: Đặt dấu thanh điệu vào vị trí của chữ cái biểu diễn cho âm chính đó. Ví dụ: á, tã, nhà, nhãn, gánh, ngáng...
  2. Với các âm tiết [+tròn môi] (âm đệm /w/, được biểu diễn bằng "o, u") có âm chính là nguyên âm đơn thì cũng bỏ dấu thanh điệu vào vị trí chữ cái biểu diễn cho âm chính. Ví dụ: hoà, hoè, quỳ, quà, quờ, thuỷ, nguỵ, hoàn, quét, quát, quỵt, suýt...
  3. Với các âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi:
    • Nếu là âm tiết [-khép] (nguyên âm được viết là: "iê, yê, uô, ươ"; âm cuối được viết bằng: "p, t, c, ch, m, n, ng, nh, o, u, i") thì bỏ dấu lên chữ cái thứ hai trong tổ hợp hai chữ cái biểu diễn cho âm chính. Ví dụ: yếu, uốn, ườn, tiến, chuyến, muốn, mượn, thiện, thuộm, người, viếng, muống, cường...
    • Nếu là âm tiết [+khép] (nguyên âm được viết là: "ia, ya, ua, ưa") thì nhất loạt bỏ dấu vào vị trí chữ cái thứ nhất trong tổ hợp hai chữ cái biểu diễn cho âm chính. Ví dụ: ỉa, tủa, cứa, thùa, khứa...
  4. Phân biệt vị trí đặt dấu thanh điệu ở tổ hợp "ua" và "ia":
    • Với "ia" thì thì phân biệt bằng sự xuất hiện hay vắng mặt của chữ cái "g" ở đầu âm tiết. Có "g" thì đặt vào "a" (già, giá, giả...), không có "g" thì đặt vào "i" (bịa, chìa, tía...). Trường hợp đặc biệt: "gịa" (có trong từ "giặt giạ" và đọc là "dạ" /za:/, viết "gịa" /ziə/,/ja:/ đọc là "dịa", xưa kia ở Nam Bộ còn viết là" gỵa ").[cần dẫn nguồn]
    • Với "ua" thì phân biệt bằng sự xuất hiện hay vắng mặt của chữ cái "q". Có "q" thì đặt vào "a" (quán, quà, quạ...), không có "q" thì đặt vào "u" (túa, múa, chùa...). Hoặc để giản tiện cho việc làm bộ gõ, có thể coi "qu" như là một tổ hợp phụ âm đầu tương tự như "gi, nh, ng, ph, th"... Khi đó, sẽ coi "quán, quà, quạ"... như là những âm tiết có âm đệm /Ø/.

Trong đời sống, hiện vẫn tồn tại hai cách đặt dấu thanh trong tiếng Việt, vẫn xuất hiện trên cùng một văn bản, làm cho văn bản đẹp hơn, vẫn không sai. Ví dụ "hòa" là một cách đặt dấu thanh khác cho "hoà", trong đó "hòa" còn gọi là cách đặt dấu thanh "cũ". Bảng sau liệt kê các trường hợp mà hai cách đặt dấu thanh khác nhau:

Mới
òa, óa, ỏa, õa, ọa oà, oá, oả, oã, oạ
òe, óe, ỏe, õe, ọe oè, oé, oẻ, oẽ, oẹ
ùy, úy, ủy, ũy, ụy uỳ, uý, uỷ, uỹ, uỵ

Quy tắc sử dụng iy[sửa | sửa mã nguồn]

Theo quy tắc chính tả của toàn dân, được thống nhất như sau: - Y đứng một mình, không phải từ láy và từ bình dân. - Y chỉ đứng sát sau các phụ âm: h,k,l,m,s,t,v. Để tạo thành một tiếng (chữ). - Y tạo thành các nguyên âm ghép: ay,ây,uy,yê,uay,uây,uya,uyê,uyu.

  • Phân biệt ai/ay,ui/uy,iê/yê,uai/uay.

Quy tắc sử dụng iy trong sách giáo khoa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên âm trong các âm tiết mở, viết i ngắn: kĩ (thuật), lí (thuyết), mĩ (thuật), hi (vọng), (nghệ) sĩ,...
  • Nguyên âm đứng một mình (âm tiết độc lập) thì sẽ viết i ngắn nếu là từ thuần Việt: ỉ (eo), ì (à) ì (ạch), (béo) ị, (ầm) ĩ,... và y dài, nếu là từ Hán Việt: ý (kiến), (lưu) ý, y (sĩ), (chuẩn) y...
  • Nguyên âm đứng đầu âm tiết, có tổ hợp nguyên âm hoặc nguyên âm đôi, viết y dài: yêu (quý), yểu (điệu), yến (tiệc), yêng (hùng), huỳnh huỵch...
  • Trong các âm tiết nửa mở, nếu là tổ hợp nguyên âm [wi], như trong các từ quy (tắc), (thâm) thúy, (ma) túy, (xương) tủy, quỵ lụy... thì viết y dài. Nếu là tổ hợp nguyên âm [uj], như trong các từ cúi (đầu), túi (quần), tủi (hổ), xúi (bẩy), (tàn) lụi... thì viết i ngắn.

Kiểu mới[sửa | sửa mã nguồn]

Trừ tên riêng, đề xuất tương đối hợp lí[17] cách dùng hai chữ i-ngắny-dài hiện nay như sau:

  • Đối với các âm tiết có phụ âm đầu /ʔ/, âm đệm /Ø/, âm chính /i/ và âm cuối /Ø/, thì có hai cách viết:
    1. Dùng "i" trong các trường hợp từ thuần Việt, cụ thể là: i - i tờ; ì - ì, ì ạch, ì à ì ạch, ì ầm, ì oạp; ỉ - lợn ỉ, ỉ eo, ỉ ôi; í - í a í ới, í oắng, í ới; ị - ị, béo ị
    2. Dùng "y" trong các trường hợp còn lại (thường là từ Hán-Việt), ví dụ: y - y tế, y nguyên, y phục; ỷ - ỷ lại; ý - ý nghĩa, ý kiến...
  • Đối với các âm tiết có âm đệm /Ø/ và âm chính /iə/ thì dùng "i". Ví dụ: chịa, đĩa, tía... kiến, miền, thiến... Trừ trường hợp có âm đầu /ʔ/ và âm cuối không /Ø/ thì dùng "y": yếm, yến, yêng, yêu...
  • Đối với các âm tiết có âm đệm /w/, âm chính là /i/ hoặc /iə/ thì dùng "y". Ví dụ: huy, quý, quýt... khuya, tuya, xuya... quyến, chuyền, tuyết, thuyết...
  • Việc biểu diễn nguyên âm /i/ trong các trường hợp còn lại (âm đệm /Ø/) thì dùng "i". Ví dụ: inh, ích, ít... bi, chi, hi, kì, khi, lí, mì, phi, ti, si, vi... bình, chính, hít, kim, lịm, mỉm, nín, phình, tính, sinh, vinh...
  • Việc biểu diễn âm cuối /-j/ không có gì thay đổi, vẫn dùng "y" trong các trường hợp có nguyên âm chính ngắn: (bàn) tay, (thợ) may, tây, sấy... và dùng "i" trong các trường hợp còn lại: (lỗ) tai, (ngày) mai, cơi, coi, côi...
  • Dùng "i" trong trường hợp các tiếng có phụ âm đầu + vần "i" (ví dụ: lí, mĩ, kĩ, thi, sĩ...) đều thống nhất viết bằng "i" (i ngắn). Ví dụ: lí luận, lí tưởng, thi sĩ, nước Mĩ, Hoa Kì, bánh mì, vua Lí Thái Tông, Lí Bí, kỉ niệm, v.v... mà không viết "y" (y dài) như trước đây. Đây là quy định của Bộ Giáo duc Việt Nam từ năm 1963 [cần dẫn nguồn] (Có lẽ tác giả đoạn này lầm lẫn 1983 - 1984 thành 1963 ?). Hiện nay Nhà xuất bản Giáo dục vẫn thực hiện nghiêm chỉnh quy định này trong việc in Sách giáo khoa các loại.
    • Theo quy định của Bộ giáo dục (1984) có quy định cách viết " I " như sau:

- Nếu không có sự thay đổi về âm và nghĩa, trừ trường hợp " Y " đứng sau " QU ", hầu hết các từ có âm " I " ở cuối đều được viết thống nhất bằng " I ". Thí dụ: Hi sinh, kỉ niệm, lí luận, thẩm mĩ,... - Nếu "I" hoặc "Y" đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, ta viết theo thói quen cũ. Thí dụ: Ý nghĩa,y tế,yêu thương,Nguyễn Khuyến,...

Kiểu cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Cách dùng "i" hoặc "y" kiểu cũ thì thường căn cứ vào Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh (1931).[18] Theo đó thì "y" được dùng thay "i" với những từ gốc Hán Việt nếu đứng sau các phụ âm h, k, l, m, t, và q (qu). Vì vậy nên có "ngựa ", " tay" (gốc Nôm) nhưng "song hỷ", "tỵ nạn" (gốc Hán Việt). Những phụ âm khác thì vẫn dùng "i" như "tăng ni" chứ không có ny. Người Việt ở hải ngoại dạy tiếng Việt cho trẻ em dùng mẹo để nhớ sáu phụ âm trên bằng câu "học mau lên kẻo ta quên".

Vấn đề phiên âm[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nguyên tắc dùng Quốc ngữ để phiên âm tất cả các từ không phải quốc ngữ (nghĩa là tiếng dân tộc khác với dân tộc Kinh - kể cả tiếng nước ngoài), nếu từ đa âm tiết thì dùng gạch nối, phiên âm phải theo cách phát âm của người địa phương mang từ đó. Danh từ của Trung Quốc thì phiên âm Hán Việt đối với danh từ riêng chỉ lãnh tụ và danh từ chung chỉ địa danh.Cách viết giống tên riêng Việt Nam. Thí dụ: Cơ-ho, Nơ Trang Long, Mat-xcơ-va, Bắc Kinh, Pa-ri, Niu-tơn, Lu-i Pa-xtơ, Luân Đôn, Thích Ca Mâu Ni,...

Phiên âm hay còn gọi là dịch âm tức là đọc và ghi lại các từ ngữ không phải là tiếng Việt bằng các âm tiết có sẵn trong tiếng Việt, có cách phát âm tương tự hoặc gần tương tự. Cho đến hiện nay vẫn tồn tại tranh cãi quanh vấn đề khi nào cần phiên âm từ ngữ không phải là tiếng Việt sang tiếng Việt, khi nào không cần, nếu phiên âm thì sẽ thực hiện như thế nào, viết bằng chữ quốc ngữ ra sao.

Hiện tại có các tranh cãi chủ yếu như sau về phương pháp phiên âm và cách ghi lại bằng chữ quốc ngữ các từ được phiên âm:

  • Có nhất thiết phải căn cứ theo cách đọc trong ngôn ngữ gốc của từ được phiên âm để phiên âm sang tiếng Việt không? Nếu không thể tìm ra được cách đọc trong ngôn ngữ gốc mà chỉ biết được một số cách đọc khác nhau trong một số ngôn ngữ thì nên dựa theo cách đọc của ngôn ngữ nào?
  • Nên viết liền hay viết tách rời có dấu cách hay viết tách rời không có dấu cách các âm tiết của một từ có nhiều âm tiết? Ví dụ như: nên viết là "phốt-pho", "phốtpho" hay "phốt pho"? Nếu viết liền thì làm thế nào để phân biệt các âm tiết, không bị đọc sai. Ví dụ như: "Xuphanuvông" đọc là "Xu-pha-nu-vông" hay "Xu-phan-u-vông"?
  • Với địa danh không phải ở Trung Quốc nhưng lâu nay được mọi người quen gọi bằng tên gọi Hán Việt có cần dịch lại cho sát hơn với tên gọi trong ngôn ngữ gốc không? Ví dụ như Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Đức...
  • Với những từ gốc Hán thì trường hợp nào nên phiên âm theo âm Hán Việt, trường hợp nào nên phiên âm theo cách đọc trong tiếng Trung Quốc? Nếu phiên âm theo âm Hán Việt nhưng không thể biết được từ cần phiên âm có âm Hán Việt là gì thì sẽ phải dịch như thế nào?
  • Nếu từ cần phiên âm mang một thanh điệu mà tiếng Việt không có thì từ này khi phiên âm sang tiếng Việt nên cho nó mang thanh điệu gì?
  • Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu. Một từ trong tiếng Việt luôn luôn phải mang một thanh điệu nào đó, không có từ không có thanh điệu. Nếu từ được phiên âm không mang thanh điệu thì khi phiên âm sang tiếng Việt có thể cấp phát thanh điệu tùy ý cho chúng được không? Nếu không thì nên mang thanh điệu gì?

Hỗ trợ trên máy tính[sửa | sửa mã nguồn]

Các phông chữ Unicode chứa các chữ cái tiếng Việt; nằm rải rác trong phần "Latin Cơ bản", "Latin-1 Thêm", "Latin Mở rộng-A", "Latin Mở rộng-B", và Latin Mở rộng Thêm.

Chữ quốc ngữ có thể được biểu thị trong ASCII dựa trên quy ước như VIQR. Trước khi Unicode được dùng rộng rãi, các phông chữ TCVN3, VNI, và VISCII cũng đã được dùng để biểu thị tiếng Việt. Ngày nay UTF-8 là mã hóa được dùng rộng rãi trên máy tính cho tiếng Việt.

Nhiều bàn phím máy tính không hỗ trợ việc nhập trực tiếp các ký tự tiếng Việt. Điều này dẫn đến sự ra đời của các phần mềm cho phép thực hiện các phương pháp nhập ký tự tiếng Việt theo quy ước như Telex, VIQR hay VNI.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bổ sung F, J, W, Z vào bảng chữ cái?.
  2. ^ [1]
  3. ^ Âm vị và các hệ thống âm vị tiếng Việt. Website ngonngu.net. Truy cập 7 tháng 11 năm 2011.
  4. ^ Vietnam's 400-year Catholic History
  5. ^ Portuguese Pioneers Of Vietnamese Linguistics
  6. ^ Hoàng Xuân Việt. Bạch thư chữ Quốc ngữ. San Jose, CA: Hội văn hóa Việt, 2006. tr 185-186
  7. ^ CSCA: SOAS Mission Collection on Malaysia, Singapore, Indonesia, Indochina and Myanmar
  8. ^ Hoàng Xuân Việt. Bạch thư chữ Quốc ngữ. San Jose, CA: Hội văn hóa Việt, 2006. tr 157
  9. ^ Hannas, W. C. Asia's orthographic dilemma. Honolulu, HI: University of Hawaii Press, 1997. tr 84-87
  10. ^ Taberd, Jean Louis. Dictionarium Latino-Anamiticum. Serampore, 1838. tr 78
  11. ^ a ă Hoàng Xuân Việt. Bạch thư chữ Quốc ngữ. San Jose, CA: Hội văn hóa Việt, 2006. tr 374-375
  12. ^ Hoàng Xuân Việt. Bạch thư chữ Quốc ngữ. San Jose, CA: Hội văn hóa Việt, 2006. tr 333
  13. ^ Franco-Vietnamese schools
  14. ^ Chương trình giáo dục ở nước ta những thập niên đầu thế kỷ XX và những ông nghè cuối cùng của nền khoa cử phong kiến
  15. ^ Đông Kinh nghĩa thục...
  16. ^ Đông Kinh Nghĩa thục
  17. ^ Theo Quan điểm của ngonngu.net đối với một số vấn đề về chính tả: 2. Về sử dụng “y/i”
  18. ^ Chữ y và i
Chữ "GỴA" là một chữ viết sai chính tả được thấy trong sách giáo khoa cấp 1 của Chính phủ CMLT Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, xuất bản 1975 -1976. Nay chữ này ít thấy xuất hiện trong thực tế.
  • Hiện nay, kể từ 1983 lại có một lối sai chính tả trong Quốc ngữ: "Không"[ko], 5000[5k],Đắc Lắc[Dak Lak, Đăk Lăk ] Thi[Thy],Thịn{Thỵn].Kin[Kil],Ken[Kel],Buôn[Buôl],Đa Cao[Đa Kao],Lào Cai[Lào Kai],Nậy[Nẹy],...

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(Tiếng Việt)

(Tiếng Anh)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chiung, Wi-vun T. (2003). Learning Efficiencies for Different Orthographies: A Comparative Study of Han Characters and Vietnamese Romanization. PhD dissertation: University of Texas at Arlington.
  • Gregerson, Kenneth J. (1969). A study of Middle Vietnamese phonology. Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises, 44, 135-193. (Published version of the author's MA thesis, University of Washington). (Reprinted 1981, Dallas: Summer Institute of Linguistics).
  • Haudricourt, André-Georges. (1949). Origine des particularités de l'alphabet vietnamien. Dân Việt-Nam, 3, 61-68.
  • Nguyen, Đang Liêm. (1970). Vietnamese pronunciation. PALI language texts: Southeast Asia. Honolulu: University of Hawaii Press. ISBN 0-87022-462-X
  • Nguyễn, Đình-Hoà. (1955). Quốc-ngữ: The modern writing system in Vietnam. Washington, D. C.: Author.
  • Nguyễn, Đình-Hoà. (1992). Vietnamese phonology and graphemic borrowings from Chinese: The Book of 3,000 Characters revisited. Mon-Khmer Studies, 20, 163-182.
  • Nguyễn, Đình-Hoà. (1996). Vietnamese. In P. T. Daniels, & W. Bright (Eds.), The world's writing systems, (pp. 691-699). New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-507993-0.
  • Nguyễn, Đình-Hoà. (1997). Vietnamese: Tiếng Việt không son phấn. Amsterdam: John Benjamins Publishing Company. ISBN 1-55619-733-0.
  • Pham, Andrea Hoa. (2003). Vietnamese tone: A new analysis. Outstanding dissertations in linguistics. New York: Routledge. (Published version of author's 2001 PhD dissertation, University of Florida: Hoa, Pham. Vietnamese tone: Tone is not pitch). ISBN 0-415-96762-7.
  • Thompson, Laurence E. (1991). A Vietnamese reference grammar. Seattle: University of Washington Press. Honolulu: University of Hawaii Press. ISBN 0-8248-1117-8. (Original work published 1965).
  • Vietnamese a complete course for beginners của DANA HEALY do NXB Tp.HỒ CHÍ MINH 2001.
  • Giáo trình tiếng Việt chủ biên Bùi Tất Tươm do NXBGD.
  • Từ điển tiêu chẩn Việt Anh của Lê Bá Khanh và Lê Bá Kông do NXB Mũi Cà Mau 1990.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]