Giáo hội Công giáo Rôma

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Loạt bài viết về
ConggiaoRoma2.png

Lịch sử

Biên niên sử · Mười hai Tông đồ
Phêrô · Phaolô
Đại Ly Giáo
Kháng Cách
Công đồng Vatican II

Đức tin

Một Thiên Chúa · Ba Ngôi
Sự chếtsự phục sinh
Sự trở lại của Chúa Giêsu
Đức Mẹ · Các Thánh

Kinh Thánh Giáo luật

Cựu Ước · Tân Ước
Bộ Giáo luật

Nghi lễ và Phụng vụ

Nghi lễ Latinh · Nghi lễ Rôma
Năm phụng vụ · Giờ phụng vụ
Bảy bí tích · Cầu nguyện

Tổ chức Giáo hội

"Duy nhất, Thánh thiện,
Công giáo và Tông truyền"

Tòa Thánh · Giáo hoàng
Giáo phận · Giám mục
Giáo xứ · Linh mục

Văn hóa và Nghệ thuật

Thánh ca · A cappella
Roman · Gothic
Phục Hưng · Baroque

Thành quốc Vatican

Giáo triều Rôma
Hiệp ước Latêranô
Giáo hoàng Biển Đức XVI
Emblem of the Papacy SE.svg Coat of arms of the Vatican City.svg

Chủ đề Công giáo
 x  t  s 

Giáo hội Công giáo (cụ thể hơn gọi là Giáo hội Công giáo Rôma hay Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã) là một giáo hội Kitô giáo hiệp thông hoàn toàn với vị giám mục Giáo phận Rôma, hiện nay là Giáo hoàng Biển Đức XVI. Giáo hội này hình thành trên cơ sở cộng đoàn Kitô hữu nguyên thủy được Chúa Giêsu quy tụ thông qua mười hai Thánh Tông đồ, đặc biệt là Thánh Phêrô[1].

Giáo hội Công giáo là giáo hội Kitô giáo lớn nhất, đại diện cho hơn một nửa Kitô hữu và cũng là tôn giáo được tổ chức lớn và chặt chẽ hơn bất kỳ tôn giáo nào trên thế giới [2][3]. Theo quyển Niên giám Tòa Thánh năm 2010 (Pontifical Yearbook of 2010), số lượng giáo dân của giáo hội trên khắp thế giới ở thời điểm cuối năm 2010 là khoảng 1.166.000.000 người, xấp xỉ 1/6 dân số thế giới [4]. Giáo hội Công giáo hoàn vũ được chia thành nhiều giáo phận ở nhiều quốc gia, thông thường là trên cơ sở lãnh thổ hành chính, đứng đầu mỗi giáo phận là một vị giám mục.

Dưới sự lãnh đạo của giáo hoàng, Giáo hội Công giáo xác định nhiệm vụ của mình là truyền bá Phúc Âm của Chúa Giêsu Kitô, cử hành các bí tích và thực hành bác ái. Giáo hội Công giáo là một trong những tổ chức lâu đời nhất trên thế giới và đã đóng một vai trò nổi bật trong lịch sử của nền văn minh Phương Tây.

Mục lục

Thuật ngữ

Bài chi tiết: Công giáo

Thuật ngữ Catholic - bắt nguồn từ chữ καθολικός (katholikos) trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa là "phổ quát" hoặc “công cộng” - lần đầu tiên được sử dụng để mô tả về một giáo hội Kitô giáo duy nhất từ những năm đầu Thế kỷ thứ 2. Chữ ‘’Katholikos’’ là biến thể từ chữ ‘’καθόλου’’ (katholou) do sự kết hợp giữa hai từ κατὰ ὅλου (kata holou) có nghĩa là tôn giáo mà “ai cũng theo được". Từ nguyên nói trên được dịch sang tiếng Việt là “Công giáo”. Như vậy tên gọi Giáo hội Công giáo có nghĩa là “Giáo hội phổ quát”.

Kể từ sau cuộc Ly giáo Đông - Tây năm 1054, một số giáo hội vẫn còn giữ lại sự hiệp thông với Tòa Rôma (gồm giáo phận Rôma và giám mục của giáo phận này là giáo hoàng, tức thượng phụ giáo chủ tối cao) và vẫn dùng danh xưng là "Công giáo". Trong khi đó, các giáo hội khác ở phía Đông bắt đầu từ chối thẩm quyền tối cao của giáo hoàng và họ coi giáo hội của mình mới là giáo hội "chính thống" kế thừa nguyên thủy từ thời Chúa Giêsu, vì vậy mới xuất hiện danh xưng "Chính Thống giáo Đông Phương". Sau cuộc Cải cách Kháng Cách hồi Thế kỷ 16, các giáo hội "hiệp thông với Giám Mục Rôma" vẫn tiếp tục để sử dụng từ "Công giáo" để chỉ chính mình, nhằm phân biệt với các giáo hội đã tách ra, mà thường được biết đến với tên gọi là Tin Lành.

Có không ít sự bất đồng về cách dùng từ không thực sự rõ nghĩa giữa “Giáo hội Công giáo Rôma” và “Giáo hội Công giáo”, nguyên nhân là do một vài nhánh Kitô giáo khác cũng tuyên bố họ là “Công giáo” (nghĩa là tôn giáo phổ quát). Đặc biệt, Chính thống giáo Đông phương thích áp dụng thuật ngữ “Giáo hội Công giáo Rôma” để chỉ rõ trung tâm giáo hội này ở Rôma, nhằm phân biệt với các giáo hội Đông phương có trung tâm ở Constantinopolis (nay là Istanbul).

Nhiều người Công giáo thích gọi ngắn gọn là "Công giáo" thay vì “Công giáo Rôma”[5], khi Giáo hội này đối thoại với các phái Kitô giáo khác, họ sẽ sử dụng thuật ngữ “Giáo hội Công giáo” để chỉ chính mình, nếu gặp sự phản đối của đối phương, thì dùng “Giáo hội Công giáo Rôma”, nhưng rất hạn chế[6].

Nguồn gốc và lịch sử

Giáo hội Công giáo gắn liền với Chúa Giêsu và Mười hai Thánh Tông đồ và coi các giám mục của Giáo hội là những người kế vị các tông đồ, giáo hoàng là người kế vị Thánh Phêrô, lãnh đạo Giáo hội [7]. “Giáo hội Công giáo” là thuật ngữ đầu tiên được sử dụng bởi Thánh Inhaxiô Antiôkhia (Ignatius Antioch) vào năm 107, [đại ý rằng]: nơi nào có Đấng Kitô ngự trị, nơi đó là Giáo hội Công giáo, như là sự tuyệt đối hóa vai trò của Giáo hội và Giáo hoàng[8]. Đồng thời, những văn sĩ Công giáo cũng liệt kê một số trích ngôn từ những thầy giảng sơ khai để củng cố luận cứ này theo ngụ ý của Tòa Thánh, trong khi các văn sĩ Chính Thống giáo lại không chấp nhận điều này vì cho rằng, vị giáo hoàng đầu tiên - Thánh Phêrô - chỉ là một chức vị đứng đầu mang tính danh dự. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc Đại Ly Giáo năm 1054, mặc dù giữa họ cũng mâu thuẫn về một số tín điều. Trung tâm học thuyết của Giáo hội Công giáo là sự kế vị liên tục các tông đồ mà giờ đây gọi là các giám mục. Giáo hội Công giáo tuyên bố tiếp tục chung thủy với sự dẫn dắt của các giám mục và bác bỏ hoàn toàn những lạc giáo.

Giáo hội Sơ khai trong bối cảnh đế quốc La Mã

Theo sử sách, các tông đồ đã đi truyền giảng ở Bắc Phi, Tiểu Á, Ả Rập, Hy Lạp và Rome để thành lập những cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, năm 100, đã có hơn 40 cộng đoàn. Ngay từ thời sơ khai này, các Kitô hữu bị bắt bớ, đàn áp và hành hạ, thậm chí bị giết chết như trường hợp của Stêphanô (Stephenus) (Sách Công vụ Tông đồ 7:59) và Giacôbê (Iacobus) (12:2) qua bàn tay quyền lực của Đế quốc La Mã. Năm 64, dưới sự đàn áp của Hoàng đế Nero, tông đồ PhêrôPhaolô tử đạo tại Rôma. Năm 96, Giáo hoàng Clêmentê I viết lá thư đầu tiên gửi giáo đoàn ở Côrintô (Corinthios), một năm sau cái chết của Thánh Gioan tại Êphêsô (Ephesios) – vị tông đồ cuối cùng, châm ngòi cho sự đàn áp Giáo hội qua tận chín đời hoàng đế La Mã gồm cả Domitian, DeciusDiocletian.

Từ năm 150, những thầy giảng bắt đầu rao giảng thần học Kitô để củng cố lòng tin trong tín hữu. Những người này đóng vai trò như những vị linh mục ngày nay. Đáng chú ý là Inhaxiô thành Antioch, Polycarp, Justin, Irenaeus, Tertullian, Clement thành Alexandria và Origen. Đạo Công giáo được hợp pháp hóa vào Thế kỷ thứ 4 khi Constantine I ban hành "Sắc lệnh Milano" năm 313. Constantine I là nhân vật có ảnh hưởng trong Công đồng Nicaea I vào năm 325, nhờ ông mà giáo hội hướng được mũi tên vào phái tà giáo Aria và Nicea, khiến cho đến tận ngày nay, vai ông vẫn có vai trò quan trọng trong Giáo hội Công giáo, Chính Thống giáo, Cộng đồng Anh giáo và các giáo hội Kháng Cách. Vào năm 326, Giáo hoàng Sylvester I cung hiến Đại giáo đường Thánh Phêrô do Constantine I xây dựng. Ngày 27 tháng 2 năm 380, Hoàng đế Theodosius I công nhận Công giáo là quốc giáo của Đế quốc La Mã[9]. Thời kỳ lịch này đánh dấu sự khởi đầu cho việc thiết lập nền tảng thần học và giáo luật của Giáo hội. Năm 386, Công đồng Rôma thiết lập Quy điển Thánh Kinh, ra danh sách những quyển sách được Giáo hội chấp nhận từ Cựu ƯớcTân Ước. Năm 431, Công đồng Êphêsô công khai tín điều, khẳng định Đức Giêsu mang hai bản thể: Con Thiên Chúa và con người, minh bạch hóa tín điều về Ba Ngôi.

Thời Trung Cổ

Sự suy yếu của La Mã đã tạo tiền đề thuận lợi cho Công giáo phát triển. Trong thời đại loạn lạc này, những hành động nhân đạo, cứu giúp kẻ khó khăn của các tu sĩ Công giáo nhanh chóng được nhân dân ủng hộ và đi theo. Đặc biệt, năm 452, Giáo hoàng Lêô Cả gặp gỡ Attila để khuyên can ý định tôn tính thành Roma. Năm 476, Romulus Augustus - hoàng đế La Mã cuối cùng - bị truất phế, kéo theo sau là sự sụp đổ của Đế quốc La Mã ở phương tây, Giáo hội bước vào thời kỳ truyền giáo lâu dài cho dân ngoại. Người Công giáo phát triển rồi hòa trộn vào trong cộng đồng người Đức (nhằm cạnh tranh với giáo phái Aria), người Celt, người Slav, người Viking, Scandinavia, Hungary, BalticPhần Lan. Sự xuất hiện của Hồi giáo năm 630 đã lấy đi những phần đất ở Bắc Phi vốn thuộc Tây Ban Nha ra khỏi sự kiểm soát của Công giáo. Năm 480, Thánh Biển Đức (Benedict) thiết lập hệ thống luật lệ cho việc ra đời các dòng tu. Sau đó, các dòng tu Công giáo phát triển mạnh mẽ ở châu Âu vào Thế kỷ thứ 9, nhất là ở Ireland, Scotland thời Phục Hưng. Thời Trung Cổ đã mang đến những biến đổi cơ bản bên trong Giáo hội. Giáo hoàng Grêgôriô I đã cải cách đáng kể cơ cấu quản trị của Giáo hội. Đầu Thế kỷ thứ 8, phong trào bài trừ thánh tượng là vấn đề gây ra sự chia rẽ giữa Giáo hội với chính quyền khi nó được hoàng đế Byzantine hậu thuẫn. Giáo hoàng thách thức sức mạnh của chính quyền đế quốc này khi tiếp tục công khai bảo vệ các thánh tượng.

Thượng Trung Cổ

Đầu thế kỷ thứ 10, các dòng tu phương tây lan rộng khắp nơi, dẫn đầu là Dòng Biển Đức. Đầu thế kỷ 11, các trường dòng phát triển thành các viện đại học như: Đại học Paris, Đại học Oxford, Đại học Bologna… trước đây chỉ dạy thần học, sau này dạy cả y học, luật pháp, triết học để rồi trở thành nền tảng cho giáo dục hiện đại của phương tây. Sự xuất hiện của Dòng Phanxicô và Dòng Đa Minh do Thánh Phanxicô và Thánh Đa Minh thành lập đã có những đóng góp hết sức quan trọng cho sự phát triển của các đại học lớn ở châu Âu. Thời kỳ này, các công trình kiến trúc của Giáo hội đạt đến những tầm cao mới, cực điểm là phong cách kiến trúc Roman, Gothic trong các đại giáo đường ở châu Âu.

Tại Công đồng Clermont, Giáo hoàng Urbanô II đưa ra những bước chuẩn bị cho cuộc Thập Tự Chinh đầu tiên nhằm giành lại các vùng đất mà Hồi giáo đã chiếm đóng. Từ năm 1095, thời Giáo hoàng Urbanô II, những cuộc Thập Tự Chinh bùng phát. Đó là hàng loạt chiến dịch quân sự tại khu vực Đất Thánh (Jerusalem) và những nơi khác như một nỗ lực chống lại sự bành trướng của quân Thổ Nhĩ Kỳ đại diện cho Hồi giáo. Bên cạnh lý do đó là một ẩn ý của tham vọng bành trướng ngược lại bằng cách xâm lăng đất đai của người Hồi giáo. Trong giai đoạn này, Kitô giáo đã bị các thế lực phong kiến và thậm chí là các giáo hoàng đương thời lợi dụng và diễn dịch theo nghĩa phục vụ cho cuộc chiến của họ. Điều đó đã trở thành một trong các nguyên nhân biến Thập Tự Chinh trở thành một trong những vết nhơ khủng khiếp nhất của lịch sử Kitô giáo.

Trong suốt những cuộc viễn chinh, những đoàn quân Thập Tự đã thẳng tay tàn sát, cướp bóc, thậm chí cá biệt có nơi còn ăn thịt người Hồi giáo, hoặc cổ động cả trẻ em vào cuộc chiến, dẫn đến việc hàng ngàn trẻ em bị bắt bán làm nô lệ. Cuối cùng, những cuộc Thập Tự Chinh cũng không bóp ngạt được sự xâm lăng của Hồi giáo mà thậm chí lại góp phần làm sụp đổ và chiếm đóng Constantine trong cuộc Thập Tư Chinh thứ tư. Bắt đầu khoảng năm 1184, là những cuộc giao chiến với tà giáo Cathar nhằm giữ an toàn cho sự đồng nhất trong học thuyết Công giáo, bài trừ dị giáo.

Đại Ly Giáo

Qua một thời kỳ từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 14, Giáo hội Công giáo nguyên thủy dần dần bị phân tách thành hai cực: Tây phương (Latinh), thường được gọi là Giáo hội Công giáo, và Đông phương (Hy Lạp), sau này trở thành Chính Thống giáo. Hai giáo hội này bất đồng quan điểm về cách tổ chức, nghi thức và những học thuyết mà đặc biệt là địa vị của giáo hoàng[10]. Công đồng Lyon II (1274) và Công đồng Firenze (1439) thử tìm cách hiệp thông lại hai giáo hội nhưng tất cả đều bị Chính Thống giáo khước từ. Vài giáo hội Đông phương sau này hiệp thông trở lại với Giáo hội Công giáo Rôma, tuyên bố không bao giờ thoát ly khỏi giáo hoàng. Tuy nhiên, hai nhánh giáo hội chủ chốt vẫn phân ly cho đến ngày nay mặc dù đã hóa giải việc rút phép thông công lẫn nhau giữa Rôma và Constantine vào năm 1965.

Cải cách Kháng Cách

Bài chi tiết: Cải cách Kháng Cách

Năm 1492, Christopher Columbus khám phá ra châu Mỹ dẫn đến làn sóng truyền giáo tích cực của Công giáo Rôma tại khắp lục địa này. Giáo hoàng Alexander VI trao “sứ mệnh” truyền giáo tại vùng đất mới khám phá cho Tây Ban NhaBồ Đào Nha. Thời kỳ Phục Hưng thế kỷ 15 có một sự kiện đáng quan tâm trong cổ điển học đó là sự xét lại về học thuyết và đức tin của Công giáo.

Ngày 31 tháng 10 năm 1517, Martin Luther đưa ra những bài luận văn mang nội dung bài trừ những học thuyết của Công giáo đương thời. Những bài tương tự được phát ra với những chi tiết căn bản thậm chí vượt bậc hơn cả những gì Công giáo thuyết giảng. Họ chĩa mũi nhọn vào Công đồng Trent, bản chất của Kháng Cách - như tên gọi của nó - là đòi hỏi khôi phục những học thuyết và cách thực hành Công giáo truyền thống. Công đồng Trent sàng lọc và định nghĩa lại các học thuyết, ban bố các giáo điều.

Cộng đồng Kháng Cách Tây Âu, Bắc Mỹ
Cải cách Kháng Cách (Thế kỷ 16)  
  Anh giáo Anh Quốc
 
Công giáo Giáo hội Công giáo Rôma Nam Âu, Mỹ Latinh
Hiệp thông Công giáo
Kitô giáo Tiên khởi Đại Ly giáo (Thế kỷ 11)   Công giáo Đông phương Đông Âu, Đông Á
Công đồng Êphêsô (431)   Công đồng Chalcedonia (451)    
    Chính Thống giáo Đông Âu, Bắc Á
   
  Các Giáo hội Đông phương cổ Ai Cập, Ethiopia
 
Giáo thuyết Nestorius Syria, Iraq, Iran

Năm 1534, Nghị viện Anh thông qua quyền tối cao của Vua nước Anh đối với Giáo hội tại Anh như là cách để tuyên bố ly khai khỏi Giáo hội Rôma. Từ năm 1536, nhiều nhà dòng Công giáo tại xứ Anh, xứ WalesIreland bị giải thể. Giáo hoàng Phaolô III rút phép thông công vua Henry III vào năm 1538, như vậy Anh giáo chính thức phân ly khỏi Công giáo. Sự lan rộng khắp thế giới của Công giáo song hành cùng chủ nghĩa thực dân châu Âu vươn đến châu Mỹ, châu Á, châu Phichâu Đại Dương.

Hậu kỳ Trung Cổ và Phục Hưng

Trong năm 1521, nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan thực hiện chuyến đi truyền giáo đầu tiên đến Philippines. Những năm sau, các giáo sĩ Dòng Anh em Hèn mọn đặt chân đến Mexico, xây dựng trường học, mô hình trang trại và các bệnh viện. Hơn 150 năm tiếp theo, sứ vụ được mở rộng sang tây nam Bắc Mỹ. Người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha theo nhà sáng lập Dòng TênPhanxicô Xaviê đến Ấn ĐộNhật Bản. Cuối thế kỷ 16, hàng chục ngàn người Nhật theo đạo Công giáo. Giáo hội tại Nhật Bản phát triển nhưng bị gián đoạn và đàn áp vào năm 1597, dưới thời Shogun (Tướng quân) Tokugawa Iemitsu. Iemitsu là vị tướng quân có nỗ lực cô lập Nhật Bản khỏi ảnh hưởng từ ngoại bang.

Baroque, Khai Sáng và Cải Cách

Công đồng Trent thời kỳ này đã tạo ra một sự hồi sinh trong đời sống Giáo hội và cổ võ lòng sùng kính Đức Mẹ Maria trong Giáo hội Công giáo Rôma. Trong thời Cải cách Kháng Cách, Giáo hội đã chống lại quan điểm của Tin Lành về Maria. Đồng thời, Công giáo đã tham gia vào những cuộc chiến tranh Ottoman đang diễn ra ở châu Âu để chống lại Thổ Nhĩ Kỳ. Họ đã chiến thắng và tin rằng có sự bảo trợ của Đức Trinh Nữ Maria. Đặc biệt, chiến thắng tại Trận Lepanto (1571) được coi là sự công nhận hồi sinh mạnh mẽ của lòng sùng kính Đức Mẹ. Giáo hoàng Phaolô VGiáo hoàng Grêgôriô XV cai trị năm 1617 và 1622 đã làm rõ hơn niềm tin về việc đồng trinh thụ thai của Đức Maria. Đến năm 1661, Giáo hoàng Alexander VII tuyên bố rằng Maria được ơn vô nhiễm nguyên tội từ khi sinh ra. Từ năm 1708, Giáo hoàng Clement XI đã ra sắc lệnh cử hành ngày Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội trong toàn thể giáo hội.

Chủ nghĩa Khai Sáng ra đời là một thách thức mới của giáo hội Công giáo. Không giống như cuộc Cải Cách Kháng Cách, những vấn đề về giáo lý Kitô giáo nói chung và Công giáo nói riêng đã được đưa ra bàn thảo dựa trên quan điểm khoa học.

Cuối thế kỷ 17, Giáo hoàng Innocent XI lo ngại những đợt tấn công gia tăng của quân Thổ Nhĩ Kỳ vào châu Âu là mối đe dọa lớn đối với giáo hội. Ông đã thiết lập nên liên minh Ba Lan - Áo và đã đánh bại Thổ Nhĩ Kỳ tại Vienna năm 1683.

Hiện đại

Thế kỷ 1819, Giáo hội phải đối mặt với làn sóng truyền giáo mạnh mẽ của Tin Lành, Chủ nghĩa Khai Sáng và Chủ nghĩa Canh Tân. Chủ nghĩa Vô thần và bài trừ tôn giáo được đẩy mạnh lan rộng khiến giáo hội phải tự vận động để thích nghi với hoàn cảnh và chức năng. Nhiều thành phần của giáo hội trên thế giới bị đàn áp, công tác mục vụ bị gây cản trở, giáo dục, y tế vốn có của giáo hội bị chính phủ kiểm soát.

Công đồng Vatican II

Bài chi tiết: Công đồng Vatican II

Thời Công đồng Vatican II (1962-1965) do Giáo hoàng Gioan XXIII triệu tập, Giáo hội Công giáo trải qua một quá trình cải cách toàn diện. Công đồng nhấn mạnh phải nhìn thấy rõ vai trò của Giáo hội Công giáo trong cộng đồng Kitô hữu tin Chúa Giêsu và trong các tôn giáo khác. Công đồng được coi là mở ra thời kỳ lịch sử của Giáo hội Công giáo hiện đại. Công đồng phát hành nhiều tài liệu về tình trạng Giáo hội, sứ mạng các hội đoàn và tự do tôn giáo. Ngoài ra còn ban hành những phương hướng thích nghi dành cho các nghi lễ, trong đó cho phép sử dụng tiếng bản xứ thay vì phải dùng tiếng Latin trong phụng vụ.

Đương đại

Với việc đăng quang vào năm 2005, Giáo hoàng Biển Đức XVI hiện tại phần lớn vẫn tiếp nối các chính sách của người tiền nhiệm là Gioan Phaolô II, tuy cũng có một số trường hợp ngoại lệ đáng chú ý: trong năm 2007, giáo hoàng Biển Đức XVI đã lập một kỷ lục trong Giáo hội khi phê chuẩn việc phong chân phước cho 498 vị tử đạo Tây Ban Nha. Gần đây, giáo hoàng này đã ban hành Tông hiến thiết lập các giáo hạt tòng nhân để đón nhận các tín hữu Anh giáo trở về Công giáo. Hiện tại, Giáo hội Công giáo vẫn nỗ lực cải thiện quan hệ đại kết với các Giáo hội Chính Thống giáo Đông Phương và mở các cuộc đối thoại lớn với Do Thái giáo.

Tổ chức và quản trị

Giáo huấn và Giáo Triều

Hệ thống phẩm trật của Giáo hội Công giáo đứng đầu là vị giám mục Giáo phận Rôma, chức danh là giáo hoàng. Đây là vị trí lãnh đạo tối cao của Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới (trong đó bao gồm cả giáo hội theo nghi lễ Latinh và những giáo hội Công giáo theo nghi lễ Đông phương nhưng hiệp thông trọn vẹn với Rôma). Thuật ngữ “Đông Phương” và “Tây Phương” mà Giáo hội Công giáo sử dụng không hàm ý chỉ về châu Á hay châu Âu nhưng chỉ về khu vực lãnh thổ của giáo hội trong lịch sử và văn hóa, với hai trung tâm là Rôma (Tây Phương) và Constantinopolis (Đông Phương).

Giáo hoàng hiện nay là Biển Đức XVI, người được bầu trong một cuộc Mật nghị Hồng y vào ngày 19 tháng 4 năm 2005. Thẩm quyền của giáo hoàng gọi là “giáo huấn” (Papacy), nghĩa là giảng dạy tín hữu. Cơ quan trung ương giáo huấn thường được gọi là "Tòa Thánh" (Sancta Sedes trong tiếng Latinh), hoặc “Tông Tòa” (Apostolic See) nghĩa là “ngai tòa của Thánh Phêrô Tông đồ”. Trực tiếp cộng tác với giáo hoàng là Giáo triều Rôma, tức cơ quan quản lý và điều hành hoạt động của Giáo hội Công giáo. Giáo hoàng cũng là người đứng đầu Thành Vatican, một quốc gia có chủ quyền đầy đủ trên một lãnh thổ nằm trong thành phố Rôma.

Sau khi một vị giáo hoàng qua đời hoặc từ chức, các thành viên dưới 80 tuổi trong Hồng y Đoàn họp tại Nhà nguyện Sistine ở Rôma để bầu ra giáo hoàng mới. Hồng y là một tước hiệu danh dự mà giáo hoàng ban cho một số giáo sĩ Công giáo, phần lớn là các vị lãnh đạo trong Giáo triều Rôma, các giám mục của các thành phố lớn và các nhà thần học lỗi lạc. Mặc dù cuộc bầu chọn này, thực tế chỉ dành riêng cho các hồng y bầu chọn cho nhau, nhưng về mặt lý thuyết, bất kỳ người Công giáo nam nào cũng có thể được chọn làm giáo hoàng. Kể từ 1389, chỉ có hồng y mới được nâng lên vị trí đó.

Các phương tự trị đặc biệt

Giáo hội Công giáo gồm có 23 phương tự trị đặc biệt (sui iuris), mỗi phương tự trị trong số đó dều chấp nhận thẩm quyền của vị giám mục giáo phận Rôma về các vấn đề giáo lý. Những lãnh thổ này sở dĩ gọi là “tự trị đặc biệt” là vì cộng đoàn Kitô hữu Công giáo ở đó có khác nhau về lịch sử, văn hóa, hình thức lễ nghi, thờ phượng chứ không khác biệt về giáo lý. Nói chung, đứng đầu mỗi phương tự trị thế này là một thượng phụ giáo chủ (patriarch) hay giám mục cao cấp, và họ được trao quyền quản trị đối với lãnh thổ của mình ở một mức độ tương đối về các nghi thức phụng vụ, lịch phụng vụ, và các khía cạnh thờ phượng khác.

Lớn nhất trong số này các phương tự trị này là Giáo hội Latinh, gồm hơn 1 tỷ giáo dân[11]. Vì thế, mỗi khi nhắc đến Giáo hội Công giáo, nhiều người thường nghĩ ngay về giáo hội này. Giáo hoàng thực tế là thượng phụ giáo chủ của phương tự trị Giáo hội Latinh, phát triển ở Tây Âu trước khi lan rộng khắp thế giới. Giáo Hội Latinh coi mình là nhánh lâu đời nhất và lớn nhất của Kitô giáo Tây Phương. Nhỏ bé hơn so với Giáo hội Latinh là 22 phương tự trị giáo hội ở Đông Phương với 17,3 triệu giáo dân, hợp thành tổng thể của Giáo hội Công giáo.

Các phương tự trị giáo hội Công giáo ở Đông Phương là những tín hữu vẫn theo các niềm tin và truyền thống của Kitô giáo Đông Phương nhưng vẫn luôn hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo; hoặc những tín hữu đã ly khai sau cuộc Ly giáo Đông - Tây nay trở về hiệp thông với Rôma. Thượng phụ giáo chủ của các phương tự trị Công giáo Đông Phương do thượng hội đồng giám mục (synod of the bishops) của giáo hội đó bầu lên, các chức vị khác lần lượt là: tổng giám mục miền, giám mục v.v.. Tuy nhiên, Giáo hội Latinh có Giáo triều Rôma được tổ chức cụ thể hơn, gồm có Thánh Bộ các Giáo hội Đông Phương, để duy trì mối quan hệ với họ.

Các giáo phận, giáo xứ và dòng tu

Giáo hội Công giáo tại từng quốc gia, khu vực, hoặc các thành phố lớn gọi là giáo hội địa phương, được tổ chức thành giáo phận (diocese hoặc eparchies, tùy văn cảnh là đông phương hay tây phương), mỗi giáo phận do một giám mục Công giáo lãnh đạo. Tính đến năm 2008, toàn Giáo hội Công giáo (cả Đông phương và Tây phương) gồm 2.795 giáo phận[12]. Các giám mục trong một quốc gia hoặc khu vực cụ thể thường được tổ chức thành một Hội đồng Giám mục, nhằm thống nhất về mặt phụng vụ và hợp tác điều hành các chương trình phúc lợi xã hội trong lãnh thổ chung của các giám mục thành viên.

Các giáo phận lại được phân thành rất nhiều cộng đoàn nhỏ được gọi là giáo xứ (hay xứ đạo, họ đạo), mỗi giáo xứ có một hoặc nhiều linh mục, phó tế lãnh đạo dưới quyền của giám mục. Giáo xứ là đơn vị có trách nhiệm trực tiếp cử hành thánh lễ, các bí tích và chăm sóc mục vụ cho giáo dân Công giáo.

Mọi giáo dân đều có thể gia nhập vào đời sống tu trì tại các dòng tu. Các giáo dân nam giới còn có quyền học tập để được thụ phong thành linh mục. Mọi tu sĩ Công giáo phải thực hiện theo ba lời khuyên trong Phúc Âm là: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Các dòng tu nổi tiếng là: Dòng Biển Đức, Dòng Cát Minh, Dòng Đa Minh, Dòng Phanxicô, Dòng Thừa Sai Bác Ái, Dòng Tên...

Hàng Giáo phẩm

Giáo hội Công giáo có tổ chức phân cấp, mỗi cấp có người trị sự được Giáo hội chỉ định với ba chức thánh sau: giám mục, linh mục và phó tế. Ngoài ra còn có các thừa tác viên.

  • Giám mục: là những người kế vị các thánh Tông đồ, các vị này có đầy đủ quyền năng và uy phong như nhau, kể cả giáo hoàng. Nhưng vì giáo hoàng là vị tông đồ "trưởng" - là vị thủ lãnh các tông đồ nên có quyền quyết định cao hơn mà thôi. Giám mục chính tòa là người lãnh đạo một giáo phận với lãnh thổ tương đương với cấp tỉnh, thành phố của một quốc gia. Các giám mục được quyền tấn phong một linh mục làm giám mục (khi được giáo hoàng ủy quyền), truyền chức linh mục cũng như phó tế và cử hành mọi bí tích.
  • Linh mục: là những người phụ tá cho giám mục trong việc phục vụ và quản trị giáo hội địa phương. Các linh mục phải được xác định thuộc thẩm quyền giám mục nào và tuân thủ nghiêm ngặt luật độc thân, khiết tịnh và khó nghèo. Linh mục Công giáo luôn luôn là nam giới, và chưa hề có tiền lệ là phụ nữ. Các linh mục được cử hành thánh lễ cũng như các bí tích khác khi có chuẩn y của giám mục. Nếu là linh mục triều thì thường cai quản một giáo xứ trong giáo phận, còn linh mục dòng thì sống trong nhà dòng hoặc làm công việc truyền giáo. Khi hội đủ những điều kiện cần và đủ thì một linh mục có thể được tấn phong làm giám mục.
  • Thừa tác viên: Từ Công đồng Vatican II, Giáo hội cho phép những người trưởng thành dù đã kết hôn được phong chức thừa tác viên vĩnh viễn với phương châm “phục vụ chứ không đợi được phục vụ”. Họ có thể đảm nhận vai trò đọc Phúc âm, dạy giáo lý, phụ tá rửa tội, dẫn dắt phụng vụ, làm chứng hôn phối, hướng dẫn nghi thức tang lễ.

Đức tin

Đức tin Công giáo được tóm lược trong Tín điều Nicea và thể hiện chi tiết trong từng việc phụng vụ. Các Tín điều Nicea là cơ sở đức tín của các giáo phái Kitô giáo khác. Chinh Thống giáo Đông phương cũng có niềm tin tương tự như Công giáo, chỉ khác nhau cơ bản về vị trí, vai trò của chức giáo hoàng và khái niệm "đồng trinh" của Maria. Các giáo hội Tin Lành cũng có những khác biệt về đức tin với Công giáo, nhưng nói chung sự khác biệt chủ yếu là: vấn đề giáo hoàng, giáo hội truyền thống, các Bí tích và các vấn đề liên quan đến sự cứu rỗi.

Thánh Kinh và Thánh Truyền

Bài chi tiết: Thánh Kinh Kitô giáo

Những lời giảng dạy của Giáo hội Công giáo là những điều được trích dẫn ra từ hai nguồn: Thánh KinhThánh Truyền. Cả hai đều được giải thích và điều khiển bởi Magisterium của Giáo hội. Danh sách và nội dung chính thức về các sách thánh kinh được Giáo hội Công giáo chấp nhận là những bản Thánh Kinh viết bằng tiếng Latin hồi thế kỷ thứ 4.

Năm 1943, trong bức thông điệp “Divino Afflante Spiritu” của ông, Giáo hoàng Piô XII đã khuyến khích những học giả Thánh Kinh hãy cần mẫn nghiên cứu về ngôn ngữ nguyên bản của các sách Thánh Kinh (tiếng Do Thái, Hy Lạp, Aram trong Cựu Ướctiếng Hy Lạp trong Tân Ước) và những ngôn ngữ chung nguồn gốc khác để hiểu biết sâu rộng và đầy đủ hơn về những văn bản này, và cho rằng: ”văn bản nguyên bản… được viết bằng ơn linh hứng của tác giả thì có thẩm quyền và giá trị hơn bất kỳ bản nào, thậm chí cả những bản đã được dịch rất hoàn hảo, dù đó là cổ xưa hay hiện đại”[13]. Thánh Truyền (hiểu sát nghĩa là những truyền thống thánh thiện) không giống như truyền thống của loài người nhưng được hiểu là cuộc sống của Giáo hội sơ khai được trải nghiệm qua lời dạy của Đấng Kitô. Nguồn gốc Thánh Truyền thì rất đa dạng và những giảng dạy của Giáo hội ngày nay thường là được truyền khẩu từ các tông đồ. Nhiều ghi chép của các cha đạo sơ khai đã phản ánh được Thánh Truyền.

Thiên Chúa

Bài chi tiết: Thiên ChúaBa Ngôi

Tín hữu Công giáo tin rằng Thiên Chúa là duy nhất, vĩnh hằng, thượng quyền, thông suốt tất cả, công chính hoàn toàn và hiện diện mọi nơi. Tín hữu Công giáo tin thuyết Ba Ngôi: Thiên Chúa là tự nhiên mà có, bản thể và hiện thân là một Chúa nhưng lại tồn tại trong ba ngôi vị (tam vị nhất thể), từng ngôi vị đồng nhất với bản thể, không ngôi vị nào hơn ngôi vị nào và chỉ phân biệt về quan hệ giữa ba ngôi vị: giữa Chúa ChaChúa Con, giữa hai ngôi vị này với Chúa Thánh Thần, thành một Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa hiện hữu từ trước khi ngài sáng tạo mọi vật mọi loài thụ tạo. Theo Tín điều Nicea, Thiên Chúa yêu thương và chăm sóc cho thụ tạo của mình, ngài trực tiếp tham gia vào thế giới và cuộc sống của con người, mong muốn con người kính thờ ngài và yêu thương đồng loại. Công giáo còn tin rằng, con người là loài thụ tạo có thân xác (hữu hình) và linh hồn (vô hình) gắn bó mật thiết với nhau. Bên cạnh đó, còn có thụ tạo vô hình khác là thiên thần, làm nhiệm vụ tôn thờ và phục vụ Thiên Chúa. Một số thiên thần đã chọn chống lại Thiên Chúa, trở thành ma quỷ, và tìm cách gây hại cho nhân loại. Trong số đó, lãnh đạo thiên thần nổi loạn gọi là "Lucifer" hay "Satan".

Cuộc sống của nhân loại phụ thuộc ở nơi ngài, nhưng vẫn có mối liên hệ mật thiết với công trình sáng tạo của ngài[14]. Công đồng Vatican I dạy rằng, ngay trong buổi bình minh của tự nhiên, lý trí con người đã có thể nhận biết công việc của Thiên Chúa sáng tạo, từ lúc khởi nguyên đến tận cùng cũng vậy. “Thưở xưa, nhiều lần và nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt người làm đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài.” (Thư gửi tín hữu Do Thái 1:1-2)

Giáo hội Công giáo tin rằng Thiên Chúa chỉ hé mở với loài người về ngài qua người con duy nhất: “Không ai biết Con ngoài Cha, cũng như không ai biết Cha ngoài Con và những người mà Con chọn để mặc khải cho” [15] và người con duy nhất đó của ngài là hiện thân của Đấng Giêsu Kitô, người được sinh ra bởi Trinh nữ Maria, vừa mang bản tính Thiên Chúa vừa mang bản tính loài người. Bằng cuộc đời và tiếng nói của mình, Giêsu đã dạy mọi người cung cách sống, giới thiệu về Tình yêu Thiên Chúa và ban tặng hồng ân và vinh quang cho những ai tin mình. Sau cuộc tử nạn và phục sinh của Giêsu, đi đầu là các tông đồ, những người theo và tin Giêsu đã loan truyền đức tin của họ cách mạnh mẽ trong sự hiện diện của Chúa Thánh Thần qua lời nhắn nhủ của Giêsu.

Theo Công giáo, “mầu nhiệm” là những điều huyền bí về Thiên Chúa mà tài trí con người không thể hiểu và giải thích được nhưng tin đó là chân lý. Tóm lại, tín hữu Công giáo có thể tuyên xưng đức tin qua câu nói: “Có ba mầu nhiệm chính trong Đạo: Thứ nhất là Mầu nhiệm Thiên Chúa Ban Ngôi, thứ hai là Mầu nhiệm Ngôi Hai xuống thế làm người, thứ ba là Mầu nhiệm Ngôi Hai cứu chuộc”.

Tội nguyên tổ

Bài chi tiết: Tội nguyên tổ

Trong đức tin của người Công giáo, loài người trước đây được Thiên Chúa sáng tạo ra để hiệp thông với ngài nhưng vì không vâng lời Thiên Chúa khi ăn trái của "cây biết điều thiện điều ác" (trái cấm), Adam và Eve - tổ tiên loài người – đã làm mối quan hệ đó bị đổ vỡ khiến tội lỗi và sự chết lan tràn khắp thế giới[16]. Vấp ngã này của con người được gọi là tội nguyên tổ (hay tội tổ tông). Từ đây, con người đánh mất đi tình trạng nguyên thủy của mình là được hiệp thông với Thiên Chúa, bị đưa vào tình trạng của sự chết nhưng qua ý tưởng con người có một linh hồn bất tử. Khi Giêsu đến với thế giới, giữa Thiên Chúa và loài người đã có sự hòa giải qua hiến tế bằng cái chết và sự sống lại của Giêsu, một lần nữa con người lấy lại được sự hiệp thông và dự phần vào vinh quang Thiên Chúa.

Giáo hội

Giáo hội là “thân thể Chúa Kitô” [17] mà ngài là “đầu” và Công giáo dạy rằng đó là một thân thể được hiệp nhất bởi những người tin Chúa cả trên thiên đàng và trên địa cầu này.

Cứu rỗi

Giáo hội dạy rằng Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người sự cứu rỗi để hướng tới một cuộc sống vĩnh hằng và ngài coi đó như là một hồng ân, một vinh quang qua sự hiến tế của Đấng Kitô. “Với những nỗ lực để tỏ tường về Thiên Chúa, chẳng có câu trả lời chính xác nào hay tài trí nào của con người làm được. Giữa Thiên Chúa và chúng ta có một sự khác biệt vô tận khiến chúng ta phải thừa nhận về ngài, Thiên Chúa chúng ta”[18]. Thiên Chúa là đấng bào chữa, là đấng giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi. Hoặc là chúng ta đón nhận hồng ân này Thiên Chúa ban cho ta thông qua đức tin vào Giêsu Kitô và phép rửa tội[19] hoặc là khước từ nó. “Đức tin không hành động là đức tin chết”.

Giáo hội còn dạy rằng con người cần phải được thánh tẩy ngay từ lúc này, ngay trong thực tại này (tức cuộc sống trần thế) vì khi chết đi không thể làm gì hơn được nữa. Thánh tẩy là khi nhận Phép rửa và nó bị mất đi khi linh hồn phạm tội chết (tội trọng). Tội trọng là sự cố ý vượt quá giới luật của Thiên Chúa cách nghiêm trọng. Nhưng con người có thể lại được sự thánh tẩy khi người ấy thành thật thú nhận trong Bí tích Hòa giải. Nếu ai đó biết sám hối tội lỗi của họ trước khi chết mà không thể thông qua Bí tích Hòa giải được vì lí do khách quan nào đó thì với lời khẩn cầu, tội của họ cũng tự nhiên được tha thứ.

Qua hiến tế của Giêsu bằng cái chết trên thập giá, sự cứu rỗi thậm chí còn được ban ra bên ngoài ranh giới của Giáo hội, nghĩa là phổ biến cho mọi người. Do đó, các Kitô hữu lẫn dân ngoại, nếu ai nhiệt thành đáp lại chân lý này thì Thiên Chúa sẽ bày tỏ lòng xót thương của ngài đối với họ. Điều này đôi khi là một trách nhiệm để trở thành thành viên của Giáo hội.

Phép rửa là một nghi thức quan trọng của người Kitô hữu, qua lăng kính của Giáo hội Công giáo, nó được nâng lên hàng bí tích. Phép rửa không chỉ làm thanh tẩy tội lỗi của một người nào đó, nó cũng làm cho họ trở thành “con cái Thiên Chúa và được dự phần với ngài”, trả lại cho con người trạng thái nguyên bản mà đã được hình thành giống như hình ảnh của Thiên Chúa. Phép rửa còn là cầu nối giữa người nào đó với đời sống cộng đoàn Giáo hội. Bởi vậy, khi chịu phép rửa trong Giáo hội, là thân thể Đức Kitô, người ta cũng sẻ chia cuộc khổ nạn và phục sinh với ngài. Sự cứu rỗi là phổ biến cho tất cả mà không loại trừ ai. Công giáo tin rằng Thiên Chúa không nỡ từ chối một khẩn cầu cứu rỗi của ai đó bên ngoài Giáo hội. Điều này là một trong những quan điểm bất đồng lớn giữa Công giáo và Kháng cách.

Đời sống Giáo hội

Người Công giáo phải nỗ lực để trở thành môn đồ thực sự của Giêsu. Họ mong đợi tìm kiếm được sự tha thứ cho những tội lỗi của mình qua tấm gương và lời giảng dạy của Giêsu. Họ tin rằng thông qua Giêsu, Thiên Chúa đã ban bảy phép bí tích cho mình như nhưng công cụ để trợ giúp họ thực hiện được điều này.

Nếu một ai đó chết mà không biết ăn năn về những trọng tội của mình, người đó đã đánh mất đi lời hứa cứu rỗi của Thiên Chúa dành cho họ và họ phải đi vào hỏa ngục. Tuy nhiên, nếu người ấy thành thật sám hối tội lỗi ngay thời điểm gần kề cái chết, thì họ chỉ phải trải qua tình trạng thanh luyện, gọi là luyện ngục, và dần dần được vào thiên đàng.

Người Công giáo tin rằng Thiên Chúa luôn luôn tác động giữa loài người trên thế giới này. Người Công giáo được “nên thánh” là nhờ các phép bí tích của Giáo hội và qua cả những lời cầu nguyện, những công việc phúc đức, hành hương và ăn chay hãm mình. Cầu nguyện cho người khác, thậm chí cho kẻ thù và những người ngược đãi mình là một nhiệm vụ của Kitô hữu [20]. Người Công giáo cho rằng có bốn mục đích cầu nguyện: tôn thờ, tạ ơn, ăn năn và khẩn cầu. Người Công giáo cũng có thể cầu nguyện với Thiên Chúa xin tha tội cho những ai đã chết (cầu cho các linh hồn), và đặc biệt là họ cũng có thể cầu nguyện với Trinh nữ Maria - mẹ Thiên Chúa - và các thánh nữa.

Cuộc sống con người

Giáo hội Công giáo khẳng định không một ai có quyền xâm phạm đến cuộc sống của mình hay của người khác với quan niệm về cái chết tự nhiên. Giáo hội tin rằng mỗi một người được dựng nên là “giống với hình ảnh của Thiên Chúa” và cuộc sống của con người là thánh thiện và cao đẹp, không thể đem so sánh với những giá trị nào khác. Bởi vậy, Giáo hội phản đối những hoạt động mà họ cho rằng làm huỷ hoại giá trị cuộc sống thiêng liêng kể cả việc phá thai, tránh thai, nhân bản người, bản án tử hình, gây chết êm dịu, giết người, tự tử, sinh sản vô tính, diệt chủngchiến tranh. Bản án tử hình, tuy không bị Giáo hội chính thức kết tội nhưng càng ngày nó càng bị các nhà thần học và lãnh đạo giáo hội chỉ trích. Theo Giáo hoàng Gioan Phaolô II, bản án tử hình không nên áp dụng trong mọi trường hợp trừ những trường hợp nó cần thiết cho việc bảo vệ trật tự xã hội (có thể thấy điều này ở hầu hết các quốc gia phát triển).

Vấn đề giới tính

Giáo hội Công giáo dạy rằng cuộc sống con người cùng với bản năng tình dục là không thể tách rời và mang tính thiêng liêng, những quan niệm cho rằng chỉ linh hồn là thánh thiện còn xác thịt là tội lỗi thì bị coi là tà giáo. Giáo hội không cho rằng tình dục là tội lỗi hoặc làm suy giảm sự thánh thiện (tức cuộc sống nhục dục).

Thực hành tôn giáo

Trong Giáo hội Công giáo có sự phân biệt giữa nghi thức phụng vụ (hình thức chung và phổ biến của Giáo hội) với việc cầu nguyện cá nhân hoặc thực hành sống đạo. Các nghi thức phụng vụ đều do Giáo hội quy định, gồm có Thánh lễ, Bí TíchCác Giờ Kinh Phụng vụ. Tất cả tín hữu Công giáo được Giáo hội mời gọi tham dự vào các nghi thức phụng này nhưng việc cầu nguyện và sống đạo là vấn đề cá nhân, không ai có thể can thiệp vào ai.

Thánh lễ

Cả 23 phương tự trị (sui iuris) trong Giáo hội Công giáo đều có rất nhiều hình thức lễ nghi và truyền thống phụng vụ, phản ánh sự đa dạng về lịch sử và văn hóa chứ không phải là sự khác biệt trong đức tin. Các hình phụng vụ của lễ nghi Rôma được sử dụng phổ biến hơn cả, nhưng ngay cả trong giáo hội Công giáo La tinh cũng sử dụng một vài lễ nghi khác nhau, còn các giáo hội Công giáo Đông Phương thì có nghi thức riêng biệt cho từng giáo hội. Dù rằng có thể khác nhau về lễ nghi nhưng các giáo hội tự trị đều cử hành Bí tích Thánh Thể và coi đó là trung tâm của tất cả các nghi thức phụng thờ Công Giáo là cử hành Bí tích Thánh Thể trong mỗi thánh lễ. Người Công giáo tin rằng trong Thánh Lễ, bánh mì và rượu vang được chuyển hóa thần tính (không phải lý tính) thành thịt và máu của Chúa Kitô qua lời truyền phép của linh mục. Những lời truyền phép này được trích ra từ Phúc âm Nhất lãm và một lá thư của Sứ đồ Phaolô. Giáo Hội dạy rằng Chúa Kitô đã thiết lập một Giao Ước Mới (Tân Ước) với nhân loại thông qua việc cử hành Bí Tích Thánh Thể trong bữa Tiệc Ly, theo như Kinh Thánh đã chép.

Bởi vì giáo hội dạy rằng Chúa Kitô hiện diện trong Thánh Thể, cho nên có những quy tắc nghiêm ngặt về những người có thể cử hành và lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể. Bí tích này chỉ có thể được cử hành bởi một linh mục hoặc giám mục Công giáo. Những người có ý thức rằng mình đang trong tình trạng trọng tội với luật đạo đều bị cấm lãnh nhận bí tích này, cho đến khi họ đã nhận được tha tội thông qua Bí Tích Hòa giải (xưng tội”. Người Công giáo thường phải nhịn ăn ít nhất một giờ trước khi lãnh nhận Thánh Thể. Người Công giáo không được phép lãnh nhận bánh và rượu được cử hành trong các nhà thờ Tin Lành, bởi vì Giáo hội Công giáo cho rằng các giáo hội Tin Lành thiếu đi Bí Tích Truyền Chức Thánh. Tương tự như vậy, người Tin Lành cũng không được lãnh nhận sự hiệp thông với Giáo hội Công giáo. Tuy nhiên, đối với các giáo hội Kitô giáo Đông Phương không hiệp thông với Rôma (như Chính Thống Giáo chẳng hạn), Giáo hội Công giáo không khuyến khích nhưng vẫn cho phép tín đồ của mình lãnh nhận Bí Tích Thánh Thể từ các giáo hội này, miễn là trong hoàn cảnh phù hợp và có sự chấp thuận của giáo hội sở tại.

Một Thánh Lễ Công Giáo thường có bốn phần: 1/ Phụng vụ Tập Họp, 2/ Phụng vụ Lời Chúa, 3/ Phụng vụ Thánh Thể (mình máu thánh Chúa), 4/ Phụng vụ sai đi. Trong đó, hai phần chính là Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể. Tuy nhiên, Hội Thánh yêu cầu giáo dân phải tham dự đủ cả bốn phần.

Lễ nghi Tây Phương

Lễ nghi Latinh (Rôma) là nghi thức thờ phượng được sử dụng phổ biến nhất của Giáo hội Công Giáo. Lễ nghi này được sử dụng trên toàn thế giới, thông qua các hoạt động truyền giáo tích cực của các quốc gia Tây Âu (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Ý...) trong suốt chiều dài lịch sử Kitô giáo.

Có hai ấn bản lễ nghi Rôma được sử phép sử dụng hiện nay: ấn bản sau năm 1969 của Sách Lễ Rôma (do Giáo hoàng Phaolô VI chuẩn nhận) hiện nay đang được sử dụng trong các ngôn ngữ bản địa trên khắp thế giới; và ấn bản năm 1962 (Thánh Lễ Tridentine) bây giờ hiếm được sử dụng. Ngoài ra còn có các lễ nghi Tây Phương khác (không phải Rôma) bao gồm Lễ nghi Ambrosian và Mozarabic.

Lễ nghi Đông Phương

Lễ nghi của cá giáo hội Công giáo ở Đông Phương thường tương tự với lễ nghi của Chính Thống Giáo và các giáo hội khác ở Đông Âu, Đông Bắc Phi, và Trung Đông không còn hiệp thông với giám mục Rôma nữa. Giáo hội Công giáo Đông Phương là một trong hai nhóm tín hữu đã khôi phục hoàn toàn sự hiệp thông với giám mục Rôma, nhưng vẫn giữ gìn bản sắc Kitô hữu Đông Phương độc đáo của họ.

Các nghi lễ được sử dụng bởi giáo hội Công giáo Đông Phương bao gồm: lễ nghi Byzantine sử dụng ở Antiochian, Hy Lạp và Slave, lễ nghi Alexandria, lễ nghi Syria, lễ nghi Armenia, lễ nghi Maronite, và lễ nghi Chaldean. Trong những năm gần đây, giáo hội Công giáo Đông Phương đã quay trở lại với tập quán truyền thống phù hợp với Sắc lệnh về các Giáo hội Đông phương (Orientalium Ecclesiarum) của Công đồng Vatican II. Mỗi giáo hội có lịch phụng vụ riêng của mình.

Các Bí tích

Giáo hội Công giáo dạy rằng: các bí tích là những dấu hiệu thiêng liêng do Đấng Kitô lập ra và giao phó cho Giáo hội để ban lại cho chúng ta. Chúng mang lại hiệu quả thánh thiện cho những ai thực tâm đón nhận chúng. Toàn bộ đời sống phụng vụ của Giáo hội xoay quanh việc cử hành Thánh lễ và các bí tích. Có bảy Bí tích được Giáo hội công nhận là: Rửa tội, Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Truyền chức thánh, Xức dầu thánhHôn phối.

Các Giờ Kinh Phụng vụ

Các Giờ Kinh Phụng vụ (hay còn gọi là kinh nguyện) là những hoạt động sùng bái của các tín hữu ngoan đạo, đơn giản nhất là việc cầu nguyện vào buổi sáng và buổi tối, hình thức khác là một mình hay tụ họp lại để đọc Thánh Kinh và suy niệm. Ngoài nghi thức phụng vụ ra, Giáo hội còn có một sự đa dạng về thực hành sống đạo mà cầu nguyện là hình thức rất được khuyến khích vì nó được coi là sự vận động để phát triển đời sống thiêng liêng của tín hữu, thắt chặt mối quan hệ giữa con người với Thiên Chúa. Các việc làm đạo đức rất được Giáo hội khuyến khích. Chúng có thể là việc tôn kính thánh tượng, viếng nhà thờ, đi hành hương, rước kiệu, Đàng Thánh Giá, Chầu Thánh Thể và đọc Kinh Mân Côi.

Tu trì và đoàn thể

Tất cả thành viên của Giáo hội Công giáo khi đã được Rửa tội thì được gọi là Kitô hữu, có đầy đủ phẩm giá, được kêu gọi trở nên thánh và đóng góp xây dựng Giáo hội. Mọi người cũng được kêu gọi để chia sẻ bổn phận làm thừa tác, tiên tri và vương đế của Đấng Kitô. Số ít trong số Kitô hữu thực hiện vai trò liên quan đến mục tử (giáo phẩm) và sống chứng nhân (tu trì) nhưng phần lớn là phải thực hiện ba bổn phận nói trên.

Tu trì

Đời sống tu trì còn gọi là đời sống Thánh hiến thể hiện qua việc người nam hay người nữ hiến dâng cuộc đời cho Thiên Chúa với những ràng buộc được Giáo hội công nhận (đi tu). Họ không thuộc Hàng Giáo Phẩm (trừ khi người nam được thụ phong thành linh mục), phần lớn là thành viên của các hội đoàn. Giáo hội Công giáo cũng ghi nhận những hình thức khác nhau về Đời sống Thánh hiến như: các giáo đoàn, ẩn tu, nữ tu, hoạt động tông đồ… Phần lớn hình thức của Đời sống Thánh hiến hiện hữu là yêu cầu các thành viên hiến dâng bản thân họ cho Thiên Chúa thông qua việc dự tu được định đoạt bởi một lời khấn (thề), sống tuân thủ ba tinh thần của Phúc Âm là trong sạch, khó nghèo và vâng lời. Ngày nay, những ai có “ơn gọi” theo Đấng Kitô muốn thánh hiến bản thân cho Thiên Chúa thì có những đòi hỏi cao hơn khi họ phải sống trong các Tu viện, chịu sự quản lý của “bề trên”, họ phải sống theo từng cộng đoàn, thỉnh thoàng cho phép sống riêng lẻ trong thời gian ngắn, một số được phép đến những nơi khác để phục vụ (trong một giáo xứ chẳng hạn).

Đoàn thể

Nhiều phong trào, đoàn thể và tổ chức hoạt động trong lòng Giáo hội Công giáo và chúng thường gồm những nhóm người có “đức tin đặc biệt”, hoạt động theo mục tiêu và phương hướng của người sáng lập hoặc người khai tâm và đặc biệt là phải phù hợp với Giáo huấn và Giáo luật. Có những phong trào, đoàn thể, tổ chức Công giáo được phân cấp và hoạt động gắn chặt với thẩm quyền giám mục hay linh mục địa phương. Nói chung, những phong trào, đoàn thể, tổ chức Công giáo đã tỏ ra tính đại chúng của mình và phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới.

Thống kê thành viên

Thành viên giáo hội thống kê năm 2010 là 1.166.000.000 người tỷ người[21] (năm 1950 là 437 triệu và năm 1970 là 654 triệu người[22]). Đây là giáo hội lớn nhất của Kitô giáo, bao gồm hơn một nửa Kitô hữu. Ngoài ra, số lượng người thực hành nghi thức Công giáo trên toàn thế giới chưa được thống kê hết, đặc biệt ở châu Phi và châu Á.

Với số lượng lớn người trưởng thành được rửa tội, giáo hội này tăng trưởng nhanh ở châu Phi hơn các nơi khác[23]. Trong những năm gần đây, một vài nơi ở châu Âu và châu Mỹ thiếu thốn linh mục, số lượng linh mục không tăng theo tỷ lệ số lượng giáo dân. Chủ nghĩa thế tục tăng ổn định ở châu Âu, nhưng sự hiện diện của Công Giáo vẫn còn mạnh nơi đây[24].

Giáo hội tại châu Á chiếm thiểu số giữa các tôn giáo khác, bao gồm chỉ khoảng 3% dân số châu Á, nhưng tại đây lại chiếm một tỷ lệ lớn nữ tu, linh mục[24]. Từ 1975 đến 2000, dân số châu Á tăng 61% nhưng giáo dân Công giáo ở châu Á tăng 104%[25]. Tuy nhiên, giáo hội phải đối mặt với những thử thách trong truyền giáo như bị đàn áp tại các quốc gia như Bắc Triều TiênTrung Quốc[26]. Châu Đại Dương cũng là nơi truyền giáo khó khăn cho các giáo phái Kitô giáo bởi nơi đây có các nhóm dân tộc với hơn 715 ngôn ngữ khác nhau. Trong giáo hội Công giáo trên toàn thế giới, 12% cư ngụ ở châu Phi, 50% ở châu Mỹ, 10% ở châu Á, 27% ở châu Âu và 1 % ở châu Đại Dương[24].

Phân bố

Brasil hiện là quốc gia có số lượng giáo dân Công giáo đông nhất. Phần lớn những quốc gia phát triển đều có sự hiện diện của Giáo hội, tuy có giảm vào cuối thế kỷ 19. Tại châu Âu, các quốc gia thuộc nhóm ngôn ngữ Rôman (Latinh) là cái nôi lịch sử phát triển của Công giáo, trong khi đó, các quốc gia nhóm ngôn ngữ gốc Đức nhiều Tin Lành và các quốc gia hệ tiếng Slav lại mang sự pha trộn giữa Công giáo và Chính Thống giáo, mặc dù cũng có những ngoại lệ. Phần còn lại của Công giáo trên thế giới là do nỗ lực truyền giáo của Tây Ban Nha, Bồ Đào NhaPháp, bên cạnh đó còn do việc di cư từ những quốc gia này đi khắp châu Âu. Tại Mỹ Latinh - nơi từng được độc quyền - Công giáo đang chịu sự cạnh tranh ngày càng tăng của Kháng Cách (Tin Lành), đặc biệt là Trung Mỹ và khu vực Caribbean. Tại châu Phi, Công giáo hoạt động mạnh mẽ nhất ở trung tâm lục địa; trong khi ở châu Á, chỉ có ba quốc gia có tỷ lệ lớn người Công giáo trong dân số là Philippines, Đông TimoViệt Nam. Việt Nam tuy không phải là quốc gia có tỷ lệ người Công giáo cao nhưng có số lượng giáo dân đứng thứ hai ở châu Á, sau Philippines[27]. Người ta cũng cho rằng Trung Quốc đại lục có số lượng người thực hành tôn giáo theo Công giáo rất nhiều, nhưng không có một thống kê nào rõ ràng.

Gia nhập đạo

Theo Giáo luật, một người được trở thành thành viên của Giáo hội Công giáo khi người đó lãnh nhận Phép rửa trong Giáo hội Công giáo. Trường hợp tín hữu nào đó đã bỏ đạo Công giáo nay muốn gia nhập lại thì phải tuyên xưng lại đức tin Công giáo và Giải tội. Một người Công giáo được phép sinh hoạt tôn giáo, lãnh nhận các nghi thức tôn giáo ở bất kỳ nhà thờ Công giáo nào trên toàn thế giới.

Vai trò trong nền văn minh nhân loại

Thuyết sáng tạo

Mở đầu Kinh Thánh (phần đầu của Cựu Ước), sách Sáng thế ký viết rằng vũ trụ và vạn vật được thiên chúa tạo dựng bằng Lời phán. Con người là Adam và Eva được thiên chúa nặn ra từ bụi đất. Toàn bộ quá trình sáng tạo vũ trụ và loài người của thiên chúa được thực hiện trong 6 ngày. Đây là thuyết sáng tạo của thiên chúa giáo, hay nói cách khác: "Thuyết sáng tạo, Creationism, cho rằng vũ trụ này được dựng nên theo tiến trình y hệt sách Sáng thế trình bày" [28].

Đức Tin và Khoa Học

Hiện nay giữa đức tin công giáo và khoa học có xung đột. Theo Giáo sư Lê An Hòa (Đại học Seattle), có vài cách nhìn nhận khác nhau về sự liên hệ giữa đức tin và khoa học [28]:

  1. Một cách là xung đột: chấp nhận một trong hai. Ai theo đức tin thì đừng để khoa học hạn hẹp của con người làm chia trí; quên khoa học đi, chỉ nhìn đức tin mà thôi. Ai theo khoa học thì bỏ đức tin, vì đức tin chỉ là cái nạng của người dốt, cho những người mê tín, ở vào thời đại khoa học chưa phát triển. Khá nhiều thầy cô trong các đại học có quan niệm này.
  2. Một cách khác nữa là lẫn lộn (confabulation): Thuyết sáng tạo (Creationism, cho rằng vũ trụ này được dựng nên theo tiến trình y hệt sách Sáng thế trình bày) là một thí dụ của cách này. Song song với khoa học, hãy coi thánh kinh như sách khoa học.
  3. Một cách nữa là tách rời (separation): khoa học bàn về thế giới này, còn đức tin bàn về giá trị của con người cũng như đời sau. Hai cái không liên quan tới nhau. Có lẽ khá nhiều người đi theo cách này, một phần vì không biết cách nối giữa hai phần nên giữ chúng tách biệt.
  4. Có lẽ cách hấp dẫn nhất và được bàn thêm dưới đây là củng cố cho nhau (confirmation): Sự thật nào mà khoa học có thể làm sáng tỏ được thì trở thành một phần của cuốn thánh kinh sống trong thiên nhiên, giúp con người hiểu thêm về Thiên Chúa và về chính mình, dù tự khoa học không thể đưa tới cái hiểu biết này được, mà chỉ là một phần chất liệu đưa tới sự hiểu biết này. Đồng thời, đức tin cũng có thể gợi ý và cảm hứng cho khoa học, cho dù thần học không thay thế cho khoa học được.”[28]

Học thuyết và khoa học của Giáo hội

Những sử gia khoa học, gồm cả những người không Công giáo như là John L. Heilbron, David Lindberg, Edward Ban, Thomas GoldsteinTed Davis cũng cho rằng Giáo hội đã có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của nền văn minh nhân loại [cần dẫn nguồn]. Thánh Thomas Aquinas – “nhà thần học hiện đại” của Giáo hội – không chỉ cho rằng lý trí phải hòa hợp với đức tin, ông còn thừa nhận lí trí góp phần bộc lộ nhận thức, thậm chí làm phát triển trí tuệ. Những giáo sĩ khoa học của Giáo hội (nhiều người trong số họ thuộc Dòng Tên) đã khai sáng ra nền thiên văn học, di truyền học, khí tượng học, địa chấn họckhoa học vũ trụ trở thành “cha đẻ” của các môn khoa học này [cần dẫn nguồn]. Các giáo sĩ đã đánh dấu tên tuổi của mình trong nền khoa học thế giới như là Gregor Mendel thuộc Dòng Augustin (đi tiên phong trong nghiên cứu di truyền học), Roger Bacon thuộc Dòng Phanxicô (người biện hô tiên phong cho phương pháp khoa học) và Georges Lemaître (đề xuất thuyết Vụ Nổ Lớn). Thậm chí nhiều người Công giáo cũng bị thu hút vào khoa học: Henri Becquerel khám phá ra chất phóng xạ; Luigi Galvani, Alessandro Volta, André-Marie Ampère, Guglielmo Marconi mở đường trong lĩnh vực điện năngviễn thông; Antoine Lavoisier – “cha đẻ” của hoá học hiện đại; Vesalius khai sinh ra ngành giải phẫu học; Augustin Louis Cauchy - một trong những nhà toán học đặt nền tảng về đại số. Những vị trí này đã làm thay đổi cách nhìn của nhiều triết gia khai sáng cho rằng những học thuyết của Giáo hội là mê muội và cản trở sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại. Một trong những dẫn chứng then chốt của các triết gia này là về Galileo Galilei. Năm 1633, ông bị Giáo hội kết án vì khẳng định thuyết vạn vật nhật tâm, do Nicolaus Copernicus đề xuất trước đó (có lẽ cũng là một linh mục)[29]. Sau đó, Tòa án La Mã mở một cuộc xử án, Galileo bị nghi ngờ là rối đạo (tà giáo) nhưng sự thật là ông bị tố cáo oan và thuyết nhật tâm đến nay đã chứng minh là đúng. Galileo bị ép buộc chối bỏ thuyết nhật tâm và những năm cuối đời ông bị quản chế. Ngày 31 tháng 10 năm 1992, Giáo hoàng Gioan Phalô II đã công khai lấy làm tiếc vì những hành xử của người Công giáo đối với Galileo trong cuộc xử án đó[30].

Nhà thờ, nghệ thuật, văn chương và âm nhạc

Những sử gia khác nhau cho rằng Giáo hội Công giáo đã tạo ra sự xán lạng và huy hoàng của nghệ thuật châu Âu. Cần đề cập đến cuộc đấu tranh của Giáo hội trước làn sóng bài trừ thánh tượng (một chiến dịch chống lại việc trưng bày tranh ảnh, tượng thánh Công giáo), khẳng định việc xây dựng nhà thờ là thích hợp cho phụng vụ (khởi sự cho phong cách kiến trúc Gothic). Sự ra đời giáo lý thần học Công giáo đã ảnh hưởng đến ý tưởng của các nhà văn như J. R. R. Tolkien, C. S. LewisWilliam Shakespeare[31], tất nhiên, phong trào Phục Hưng cũng tạo nên những nghệ sĩ Công giáo như Michelangelo, Raffaello, Gian Lorenzo Bernini, Francesco BorrominiLeonardo da Vinci. Ngoài ra, một khối lượng khổng lồ thánh nhạc Công giáo đã tác động không nhỏ đến sự phát triển âm nhạc cổ điển châu Âu.

Giáo hội và sự phát triển kinh tế

Phúc lợi xã hội

Phúc lợi xã hội phục vụ con người là hoạt động trọng điểm và nổi bật của Giáo hội Công giáo. Giáo hội đã cộng tác với nhiều hội đoàn để thiết lập hệ thống viện tế bần phúc lợi tại châu Âu ngay từ thời Trung cổ. Những viện này chủ yếu phục vụ cho tầng lớp xã hội đặc biệt như giới bình dân, người nghèo, bệnh nhân và người cao tuổi.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Phúc Âm Matthew 16:17-18
  2. ^ Đôi nét lược sử Giáo hội Công giáo
  3. ^ Major Branches of Religions
  4. ^ The number of Catholics
  5. ^ [1]
  6. ^ Hỏi và đáp về cách gọi Giáo hội Công giáo
  7. ^ [2]
  8. ^ Letter to the Smyrnaeans
  9. ^ [3]
  10. ^ [4]
  11. ^ Thống Kê Giáo Hội Công Giáo 2009
  12. ^ Catholic Dioceses in the World
  13. ^ Giáo hoàng Piô XII
  14. ^ Thư gửi tín hữu Rôma 1:20
  15. ^ Matthew 11:27
  16. ^ Thư gửi tín hữu Rôma 5:12
  17. ^ Thư gửi tín hữu Êphêsô 1:22-23; Thư gửi tín hữu Rôma 12:4-5
  18. ^ [5]
  19. ^ Thư gửi tín hữu Rôma 6:3-4
  20. ^ Matthew 5:44
  21. ^ “Vatican: Priest numbers show steady, moderate increase”. ZENIT (21 tháng 2 năm 2010). Truy cập 22 tháng 9 năm 2011.
  22. ^ Bazar, Emily (16 tháng 4 năm 2008). “Immigrants Make Pilgrimage to Pope”. USA Today. Truy cập 3 tháng 5 năm 2008.
  23. ^ Froehle, trang 46
  24. ^ a b c Froehle, trang 128–129.
  25. ^ Froehle, trang 86.
  26. ^ Froehle, trang 98
  27. ^ Số tín đồ Công giáo Rôma theo quốc gia (tiếng Anh)
  28. ^ a b c “ĐỨC TIN CÔNG GIÁO VÀ THUYẾT TIẾN HÓA”, conggiaovietnam.net, 28 tháng 2 năm 2006. Truy cập 23 tháng 10 năm 2008.
  29. ^ [6]
  30. ^ Choupin, Valeur des Decisions Doctrinales du Saint Siege
  31. ^ [7]

Liên kết ngoài

Công cụ cá nhân
Không gian tên
Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra
Ngôn ngữ khác