Ăn chay

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ăn chay
Fruits and Vegetables at Pike Place Market.jpg
Mô tả Một chế độ ăn chay có nguồn gốc từ thực vật, có hoặc không có trứng hoặc sữa.[1]
Nguồn gốc Ấn Độ cổ đại, Hy Lạp cổ đại; thế kỷ thứ 6 TCN hoặc sớm hơn.

Ăn chay, trai, ăn lạt hay chủ nghĩa ăn chay là một chế độ ăn uống chỉ gồm những thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật (trái cây, rau quả, vv..), có hoặc không ăn những sản phẩm từ sữa, trứng hoặc mật ong, hoàn toàn không sử dụng các loại thịt (thịt đỏ, thịt gia cầmhải sản) hoặc kiêng ăn các thực phẩm có được từ quá trình giết mổ.[2][3]

Việc ăn chay có thể do nhiều lý do khác nhau: lý do đạo đức, y tế, tôn giáo, chính trị, môi trường, văn hóa, thẩm mỹ, kinh tế. Ở Ấn Độ ước tính khoảng 40% dân số là những người ăn chay.[4]

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong luật tạng của Phật giáo quy định các tăng lữ phải ăn không quá giờ ngọ. Hằng tháng vào những ngày trăng rằm và đầu tháng (mùng 1 và 15 âm lịch) gọi là ngày Bố-tát (tiếng Phạn gọi là Uposatha hay Upavasatha), là ngày định kỳ để thuyết giới, cùng nhắc nhở nhau về giới pháp để tu hành. Về sau được các nhà Phật học Đại thừa Trung Quốc dịch là ngày trai giới (zh:齋) và Việt Nam dịch là ăn chay từ chữ trai đó.[5][6][7]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Quán ăn nhanh bán toàn món chay gần Kullu, Ấn Độ.

Các bằng chứng xưa nhất về việc ăn chay là ở Ấn Độ cổ đạiHy Lạp cổ đại vào thế kỷ thứ 6 TCN.[8] Đối với khu vực châu Á, chế độ ăn chay có liên quan chặt chẽ với ý tưởng về việc không giết mổ động vật (ở Ấn Độ gọi là ahimsa) và được phát triển bởi các nhóm tôn giáotriết học,[9] còn đối với người Hy Lạp, người Ai Cập và những vùng khác thì việc ăn chay là nhằm mục đích thanh lọc y tế hoặc hình thức nghi lễ.

Ở thời kỳ hậu cổ đại với Kitô giáo của đế quốc La Mã, ăn chay thực tế đã biến mất khỏi châu Âu cũng như các châu lục khác, ngoại trừ Ấn Độ.[10] Trong thời kỳ đầu của Kitô giáo, thời các tông đồ, có lo ngại rằng ăn thịt có thể dẫn đến một sự không trong sạch khi tiến hành các nghi lễ. Sứ đồ Phao-lô mạnh mẽ chống lại quan điểm này (Thư gửi tín hữu Rôma 14,2 đến 21; Thư gửi tín hữu Korinther 8,8–9).[11]

Trong các nhà thờ Công giáo thời Trung cổ, nhiều tu sĩ và ẩn sĩ trong các bối cảnh tu khổ hạnh từ bỏ việc tiêu thụ thịt [12]. Trong số đó có Thánh Jerome († 420) [13]. Các tu sĩ dòng Biển Đức cho phép tu sĩ dòng của họ ăn thịt của động vật bốn chân chỉ trong trường hợp bị bệnh, tuy nhiên họ được phép tiêu thụ cá và gia cầm (động vật 2 chân) [14]. Nhiều quy định khác của các dòng tu khác có điều khoản tương tự như lệnh cấm thịt và rộng dần ra, cấm thêm một số loài chim, gia cầm, nhưng không cấm dùng "" (tiếng Anh:fish).[15] (định nghĩa vào thời trung cổ của từ "cá" (fish) là bao gồm cả các động vật như hải cẩu, cá heo, cá heo chuột (porpoise), ngỗng đeo kính (barnacle geese), chim hải âu rụt cổ (puffin), và hải ly.)[16] Các tu sĩ và nữ tu các dòng tu khổ hạnh tự nguyện sống thiếu thốn, khiêm tốn và hủy diệt những ham muốn, họ quan niệm ăn chay là rèn luyện cho bản thân cách chống lại những ham muốn xác thịt và tỏ lòng sám hối tội lỗi đối với Thiên Chúa [17]. Tuy nhiên không có bằng chứng rằng trong thời Trung cổ thi những việc ăn chay, ăn kiêng này được áp dụng cho tất cả các tín đồ Ki-tô giáo. Thánh Phanxicô thành Assisi đôi khi bị cho là người ăn chay vì ông thường bao gồm cả các loài động vật trong thế giới tôn giáo của mình, nhưng ông đã không thực sự ăn chay và cũng không thuyết giảng về điều này.[18]

Chỉ trong những năm đầu thời kỳ cận đại, một vài nhân vật nổi tiếng Kitô giáo mới xác định việc ăn chay trên cơ sở đạo đức, trong số đó có Leonardo da Vinci (1452–1519)[19]Pierre Gassendi (1592–1655).[20] Nhà thần học hàng đầu cổ xúy việc ăn chay trong Thế kỷ 17 là Thomas Tryon (1634-1703), người Anh [21]. Mặt khác, đại diện cho các triết gia Kitô giáo có ảnh hưởng như René Descartes[22]Immanuel Kant[23] cho rằng có thể không có nghĩa vụ đạo đức để phải kiêng thịt.

Ăn chay lại nổi lên trong thời kỳ Phục hưng[24] và ngày càng trở nên phổ biến rộng rãi trong thế kỷ 19 và 20. Ở Châu Âu, thuật ngữ vegeterian lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1839[25] và sự xuất hiện của Society Vegeteran (tiếng Việt: Hiệp hội ăn chay thuần) ở Anh vào năm 1847[26], tiếp sau đó là ở Đức, Hà Lan và các nước khác. Trước đó, chủ yếu người ta dùng các từ để chỉ chế độ ăn thực vật (vegetable regimen, vegetable system of diet), hiếm hơn là dùng từ chế độ ăn uống Pythagore.[27]

Ở Việt Nam, do sự du nhập của Phật giáo Đại thừa từ Trung Quốc vào rất sớm cho nên ăn chay đã có từ thời trước Công nguyên[5] và thịnh hành từ đời nhà Lý, nhà Trần vì Phật giáo phát triển vào những thời này.[28]

Hình thức[sửa | sửa mã nguồn]

Món "Phật Quang" một món ăn truyền thống của Phật giáo Trung Hoa.

Tất cả các hình thức của chế độ ăn chay đều dựa trên thức ăn thực vật, nấm và các sản phẩm từ vi khuẩn. Có một số loại ăn chay trong đó có loại trừ hoặc bao gồm các loại thực phẩm khác nhau:

  • Ăn chay theo Phật giáo: là không ăn tất cả các sản phẩm từ động vật cũng như một số loại rau trong chi Hành (có mùi thơm đặc trưng của hànhtỏi), có thể tương ứng với các loại cây hành, hẹ, tỏi, nénkiệu gọi chung là ngũ tân.[29][30]
  • Ăn chay có trứng (ovo; tiếng Latin nghĩa là trứng): có thể ăn trứng nhưng không ăn các sản phẩm từ sữa.
  • Ăn chay có sữa (lacto; tiếng Latin: lactis nghĩa là sữa): có thể ăn các sản phẩm từ sữa, nhưng không ăn trứng.
  • Ăn chay có cả sữa và trứng (ovo-lacto): có thể ăn một số sản phẩm từ động vật hoặc từ sữa như trứng, sữa và mật ong.
  • Ăn chay hoàn toàn không sử dụng bất cứ thứ gì từ động vật (thuần chay) (vegan): không dùng tất cả các loại thịt động vật và sản phẩm từ động vật, bao gồm cả sữa, mật ong, và trứng, và cũng có thể loại trừ bất kỳ sản phẩm nào được thử nghiệm trên động vật, hoặc sử dụng các trang phục có nguồn gốc từ động vật.[31]
  • Ăn chay sống hay là ăn chay tươi (Raw foodism): chỉ ăn các loại trái cây tươi và chưa nấu chín, các loại hạt và rau củ. Rau củ có thể chỉ được nấu chín lên đến một nhiệt độ nhất định.[32]
  • Ăn chay theo Kì na giáo: có bao gồm sữa, nhưng không ăn trứng, mật ong, và các loại củ hay rễ cây.
  • Ăn chay theo kiểu chỉ cho phép ăn các loại trái cây, các loại hạt, hạt giống, và thực vật khác nếu việc thu hoạch những thực phẩm này không gây hại đến cây trồng.[33]
  • Ăn chay theo chế độ thực dưỡng: chủ yếu ăn các loại ngũ cốc nguyên cámđậu hoặc theo phương pháp dưỡng sinh của Ohsawa (chế độ ăn gạo lức muối mè).[34]

Động cơ để ăn chay[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều lý do khác nhau để ăn chay tùy thuộc vào sắc tộc và văn hóa. Những người ăn chay vì vấn đề đạo đức vì không muốn gây khổ đau cho động vật, hoặc đấu tranh vì quyền động vật.[35] Ngoài ra, vấn đề sức khỏe cũng là một động lực để ăn chay, một số người còn cảm thấy ác cảm với mùi vị của thịt.[36] Cũng có một số tổ chức ăn chay để bảo vệ hệ sinh thái vì họ tin rằng sản xuất chăn nuôi trong các trại gây hại cho môi trường. Họ cũng cho rằng giảm lượng tiêu thụ thịt sẽ cải thiện đáng kể tình hình lương thực toàn cầu.

Trong điều luật của một số tôn giáo yêu cầu tín đồ phải ăn chay.

Đạo đức và chế độ ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều lý do khác nhau về đạo đức đã được đề xuất cho việc lựa chọn ăn chay, thường được xác định trên quyền lợi của những động vật không phải là con người.

Trong nhiều xã hội đã phát sinh các cuộc tranh cãi và tranh luận về những vấn đề đạo đức của việc ăn thịt động vật. Một số người không ăn chay nhưng vẫn từ chối ăn thịt một số động vật nhất định chẳng hạn như mèo, chó, ngựa, hoặc thỏ do những điều cấm kỵ trong văn hóa. Một số người khác ủng hộ việc ăn thịt vì những lý do về khoa học, dinh dưỡngvăn hóa, kể cả tôn giáo. Một số người kiêng ăn thịt của động vật được nuôi theo phương thức nhất định nào đó, chẳng hạn như nuôi trong các xí nghiệp chăn nuôi (factory farm), hoặc tránh vài loại thịt nhất định, như thịt hoặc gan ngỗng. Một số người theo chế độ ăn chay hoặc thuần chay không phải vì những mối quan tâm về vấn đề đạo đức liên quan đến việc chăn nuôi hay tiêu thụ động vật nói chung, mà là vì lo ngại về việc thực hiện những phương pháp xử lý đặc biệt có liên quan đến chăn nuôi và giết mổ động vật, như xí nghiệp chăn nuôi (áp dụng chế độ chăn nuôi công nghiệp) và ngành công nghiệp giết mổ động vật.[37]

Những phản đối về mặt đạo đức thường được chia thành 2 dạng: chống lại hành động giết mổ nói chung, và chống lại một số hình thức chăn nuôi nhất định xung quanh việc sản xuất thịt.

Những vấn đề đạo đức của việc giết mổ để lấy thực phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo sư Peter Singer, năm 2007

Peter Singergiáo sư của đại học Princeton và là người sáng lập của phong trào phóng thích động vật,[38] ông tin rằng nếu tồn tại nhiều phương thức khác nhau để duy trì sự sống, thì người ta phải lựa chọn các cách thức mà không gây ra những thiệt hại không cần thiết cho các động vật. Hầu hết những người ăn chay vì lý do đạo đức cho rằng giết chết con vật để ăn cũng giống như giết người mà ăn vậy. Singer, trong cuốn sách Sự giải phóng động vật (Animal Liberation) năm 1975 đã nêu lên những đặc điểm về tri giác của những sinh vật không phải người, suy xét chúng dưới góc nhìn đạo đức vị lợi, điều này đã được những nhà vận động cho quyền lợi động vật và những người ăn chay dùng làm tham khảo rộng rãi.[39] Những người ăn chay vì đạo đức cũng tin rằng việc giết một con vật cũng như giết một con người, vì theo nguyên lý bình đẳng của Singer đối với các động vật không phải người, thì những con vật cũng giống như những người không cùng màu da, sắc tộc, giới tính hay tôn giáo.[40] Do đó, việc giết hại này chỉ có thể được biện minh nếu trong những hoàn cảnh vô cùng khắt khe, còn việc giết một vật thể sống vì mùi vị thơm ngon, sự tiện lợi hay giá trị dinh dưỡng của nó đều không phải là nguyên nhân chính đáng. Một quan điểm phổ biến khác cho rằng con người có thể ý thức được về hành vi của mình theo một cách khác với động vật, vì vậy con người không thể hành xử như con vật được.[41]

Những người đối lập với trường phái ăn chay vì đạo đức lập luận rằng động vật không ngang hàng với con người, vì thế so sánh việc ăn thịt động vật với giết người là một hành động khập khiễng. Lý luận này không bào chữa cho hành vi tàn ác, nhưng nó cho rằng động vật không ngang hàng với loài người, và không sở hữu những quyền cơ bản giống như con người.[42]

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Ăn chay có truyền thống lâu đời tại Ấn Độ. Kì Na giáo và một số giáo phái chính[43] của Ấn Độ giáo xem ăn chay như là một hành vi đạo đức. Đối với các tôn giáo này thì ăn chay chủ yếu dựa trên các luật về không hành hạ, không gây thương tích hay giết chết các loài vật.[44] Phật giáo nhìn chung không cấm ăn thịt tuy nhiên chỉ được ăn những thứ thịt thỏa mãn điều kiện tam tịnh nhục[45], Phật giáo đại thừa khuyến khích ăn chay để mang lại lợi ích cho sự phát triển của lòng từ bi.[46][47] Những tôn giáo khác ủng hộ một chế độ ăn chay bao gồm Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật, phong trào Rastafari, phong trào Ananda Margaý thức Krishna (Krishnas Hare). Tích-khắc giáo[48][49][50] không đánh đồng tâm linh với chế độ ăn uống và không chỉ định một chế độ ăn chay hoặc thịt.[51]

Phật giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tuy Phật giáo nguyên thủy không kiêng thịt nhưng Phật giáo cấm sát sinh và tránh mọi khổ đau cho chúng sinh, cho nên trên căn bản Phật giáo khuyến khích việc ăn chay nhưng cũng không cấm ăn mặn.[52] Phật giáo nguyên thủy (Thượng tọa bộ) thường không ăn chay.[53] Tuy nhiên, những người xuất gia (tì kheo) nếu nghe tiếng con vật bị giết, thấy con vật bị giết hoặc nghi con vật đó bị giết để thết đãi mình thì không được ăn, nếu ăn thì sẽ phạm vào giới luật.[54][55] Ngoài ra đức Phật cũng cấm không được ăn 10 loại thịt: thịt người, voi, ngựa, chó, rắn, sư tử, cọp, báo, gấulinh cẩu.[56][57]

Trong một số kinh sách tiếng Phạn (kinh Lăng Giàkinh Ðại Bát Niết Bàn)[58] của Phật giáo Đại thừa thì đức Phật dạy các đệ tử của mình không được ăn thịt cá.[59][60][61][62] Tuy nhiên, mỗi tông phái của Phật giáo Đại thừa lựa chọn những kinh điển khác nhau để làm theo, cho nên một số tông phái, bao gồm cả phần lớn các tông phái của Phật giáo Tây TạngPhật giáo Nhật Bản đều ăn thịt, trong khi nhiều tông phái[63] khác của Phật giáo Trung Quốc, Việt NamHàn Quốc thực hành ăn chay.[58]

Kitô giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Minh họa cho sự tồn tại của thế giới. Thiên Chúa ngự trị trên cùng, phía dưới có các cấp bậc khác nhau, trong đó có con người, và cả các loài thực vật, các loài động vật không phải người.

Những tín đồ Kitô giáo mà ủng hộ việc ăn chay thì cho rằng ăn chay là ý của Thiên Chúa, họ dựa trên những tranh luận về nội dung trong Kinh thánh, như trong Sách Isaia 11:6-9 cho thấy một cuộc sống hòa bình giữa người và loài vật,[64] hay trong Sáng thế ký 1:29, Thiên Chúa nói với Adam, Eva và loài người rằng cây cỏ, trái và hạt như là lương thực dành cho con người và mọi sinh vật có sinh khí. Nhưng người 14 hay lớn tuổi phải ăn chay và kiêng thịt vào ngày ấn định, và người 13 hay nhỏ tuổi không cần ăn chay hay kiêng thịt, có thể ăn thịt vào ngày ấn định. Tuy nhiên, trong Sáng thế ký 9:2-3, trước khi làm Đại hồng thủy thì Chúa Trời có dặn ông Nô-ê rằng mọi loài vật di chuyển được và có sinh khí lẫn cây cỏ đều là lương thực. Thánh Giêrônimô kết luận rằng chế độ ăn thịt chỉ xuất hiện từ khi có đại hồng thủy, và do đó nó được coi thấp kém hơn ăn chay.[65] Từ Nô-ê trở về sau thì trong kinh Cựu Ước không còn đề cập đến bất cứ điều luật nào chống lại việc ăn thịt cả.[66]

Trong Tân Ước không cấm các loại thực phẩm nhất định nào ngoài việc cấm ăn máu (Sách Công vụ Tông đồ, 15:28-29). Trong Phúc âm Matthew 15:11, Đức Jesus nói: "Không phải cái vào miệng làm cho con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế" (tương tự như trong Phúc âm Mark, 7:15). Điều này thường được giải thích trong Kitô giáo như là từ bỏ tất cả các luật định về chế độ ăn uống.[67] Tuy nhiên, trong các nhà thờ thời Trung cổ, nhiều tu sĩ và ẩn sĩ trong các bối cảnh tu khổ hạnh từ bỏ việc tiêu thụ thịt, họ quan niệm ăn chay là rèn luyện cho bản thân cách chống lại những ham muốn xác thịt và tỏ lòng sám hối tội lỗi đối với Thiên Chúa.[12] Thế kỷ 16, Leonardo da VinciPierre Gassendi cổ xúy việc ăn chay vì lý do đạo đức, tránh giết hại động vật. Và đối với người ăn chay thuộc Kitô giáo hiện đại, trong số đó là Ellen G. White, đồng sáng lập của Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, lý do ăn chay là thuộc về thiên đường cho nên giáo lý của Cơ Đốc Phục Lâm khuyến khích việc ăn chay.[68]

Trong Kitô giáo Tây phương, Mùa Chay là thời gian bốn mươi ngày trước Lễ Phục Sinh kéo dài từ ngày Thứ tư Lễ Tro đến Thứ bảy Tuần Thánh, bốn mươi ngày trong Mùa Chay được đánh dấu bởi việc ăn kiêng, làm từ thiện và hạn chế những thú vui.

Thời cận đại, theo quy định của Công giáo Rôma đề cao tinh thần của việc ăn chay thì ngày Thứ tư Lễ Tro, ngày Thứ sáu Tuần Thánh và tất cả các ngày thứ sáu trong tuần buộc các tín đồ từ 14 đến 60 tuổi phải giữ chay và kiêng thịt. Nhưng ngày nay, luật này được nới lỏng và chỉ buộc giữ chay - kiêng thịt vào Thứ tư Lễ Tro và Thứ sáu Tuần Thánh. Đôi khi, ăn ít hơn hoặc ăn đạm bạc hơn bình thường cũng được cho là một hình thức ăn chay, ăn kiêng.

Ấn Độ giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Các tín đồ trong Ấn Độ giáo ban đầu vẫn ăn thịt (bao gồm cả thịt bò) với những điều kiện nhất định. Trong bộ luật Manu (Manusmṛti) cho phép ăn thịt, cá và xác định các điều kiện kèm theo. Tuy nhiên, dần dần những luật lệ được đặt ra và nghiêm khắc áp dụng hình thức ăn chay có sử dụng sữa. Trong thời kỳ Ấn Độ còn là thuộc địa thì phần lớn những người thuộc giai cấp thượng lưu mới giữ giới luật này, còn những người nghèo và thuộc giai cấp hạ đẳng thì họ ăn tất cả những gì mà họ có được.[69]

Một món ăn chay ở Ấn Độ bởi vì đa số dân Ấn Độ theo Ấn Độ giáo và khuyến khích chế độ ăn chay.

Hầu hết các tông phái chính của Ấn Độ giáo như YogaVaishnavas (các tín đồ thờ thần Vishnu)[70] giữ kiên định trong vấn đề ăn chay. Có 3 nguyên nhân chính cho việc này, đó là: nguyên tắc đạo đức không hành hạ xúc vật (ahimsa);[71] mục đích chỉ dâng cúng cho một vị thần những thức ăn "tinh khiết" (món chay) và sau đó nhận lại nó dưới dạng món prasad (một loại thực phẩm giống như kẹo);[72] và niềm tin xác tín rằng những thức ăn mặn có thể ảnh hưởng đến tâm thức và việc khai sáng tâm linh. Các tín đồ Ấn Độ giáo thường kiêng trứng nhưng họ vẫn dùng sữa và các chế phẩm từ sữa, do đó họ là những người ăn chay theo chế độ có dùng sữa (lacto).

Tuy nhiên, thói quen ăn uống của các cộng đồng theo Ấn Độ giáo vẫn có sự khác nhau. Trong quá khứ cũng như hiện tại, vẫn có một số nhóm tín đồ ăn thịt, với điều kiện thịt đó phải được giết mổ theo cách thức Jhatka,[73] tức là động vật bị giết bởi một nhát dao hoặc rìu duy nhất chặt đứt đầu, khác với những thịt giết mổ thông thường theo phương thức thọc tiết và chết từ từ.

Ở Ấn Độ có 43% trong tổng số tín đồ Ấn Độ giáo ăn chay và 28% trong tổng số những người ngoại đạo cũng ăn chay.[74]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Helmut Kaplan: Warum ich Vegetarier bin – Prominente erzählen. Rowohlt Verlag, Reinbek 1995, ISBN 3-499-19675-1.
  • Wolfgang R. Krabbe: Gesellschaftsveränderung durch Lebensreform. Strukturmerkmale einer sozialreformerischen Bewegung im Deutschland der Industrialisierungsperiode. Vandenhoeck & Ruprecht, Göttingen 1974, ISBN 3-525-31813-8.
  • Claus Leitzmann, Markus Keller: Vegetarische Ernährung. 2. Auflage. Ulmer, Stuttgart 2010, ISBN 978-3-8252-1868-3.
  • Manuela Linnemann, Claudia Schorcht (Hrsg.): Vegetarismus. Zur Geschichte und Zukunft einer Lebensweise. Harald Fischer Verlag, Erlangen 2001, ISBN 3-89131-403-5.
  • Hans-Jürgen Teuteberg: Zur Sozialgeschichte des Vegetarismus. In: Vierteljahrschrift für Sozial- und Wirtschaftsgeschichte. Band 81 (1994), S. 33–65.
  • Ronald Zürrer, Armin Risi: Vegetarisch leben. 9. Auflage. Govinda-Verlag, Zürich 2011, ISBN 978-3-906347-77-6.
  • Steven Rosen: Die Erde bewirtet euch festlich. Vegetarismus und die Religionen der Welt. Adyar, Satteldorf 1992, ISBN 3-89427-218-X.
  • Hans Günter Kugler (Hrsg.): Vegetarisch essen – Fleisch vergessen. Ärztlicher Ratgeber für Vegetarier und Veganer. Verlag Das Wort, Marktheidenfeld 2007, ISBN 978-3-89201-239-9.
  • Jonathan Safran Foer: Tiere essen. Kiepenheuer & Witsch, Köln 2010, ISBN 978-3-462-04044-9.
  • Karen Duve: "Anständig essen. Ein Selbstversuch"; Büchergilde Gutenberg, Köln 2011, ISBN 978-3-7632-6432-2

Phim tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Frequently Asked Questions - Definitions
  2. ^ What is a vegetarian?, The Vegetarian Society, December 11, 2010.
  3. ^ Forrest, Jamie (18 tháng 12 năm 2007). “Is Cheese Vegetarian?”. Serious Eats. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2010. 
  4. ^ The Hindu: Changes in the Indian menu over the ages
  5. ^ a ă “Cơm chay”. 
  6. ^ Bình Anson. “Về Bát Quan Trai Giới”. 
  7. ^ “Luật nghi tổng quát”. 
  8. ^ Spencer, Colin. The Heretic's Feast: A History of Vegetarianism. Fourth Estate Classic House, pp. 33–68, 69–84.
  9. ^ Religious Vegetarianism From Hesiod to the Dalai Lama, ed. Kerry S. Walters and Lisa Portmess, Albany 2001, p. 13–46.
  10. ^ Passmore John (1975). “The Treatment of Animals”. Journal of the History of Ideas 36: 196–201. 
  11. ^ Hubertus Lutterbach: Der Fleischverzicht im Christentum. Trong: Saeculum 50/II, 1999, trang 181–183.
  12. ^ a ă Hubertus Lutterbach: Der Fleischverzicht im Christentum. Trong: Saeculum 50/II, 1999, trang 189–194.
  13. ^ Hubertus Lutterbach: Der Fleischverzicht im Christentum. Trong: Saeculum 50/II, 1999, trang 185–189.
  14. ^ Regula Benedicti 36,9 und 39,11, NXB Rudolph Hanslik, Wien 1975, trang 96 và trang 100.
  15. ^ Lutterbach, Hubertus. "Der Fleischverzicht im Christentum," Saeculum 50/II (1999) p. 202.
  16. ^ Mortimer, Ian. "The Time Traveler's Guide to Medieval England," (2008) p. 184.
  17. ^ Hubertus Lutterbach: Der Fleischverzicht im Christentum. Trong: Saeculum 50/II, 1999, trang 194–198, 203–208; Theodor Klauser: Ernährung: Christlich. Trong: Reallexikon für Antike und Christentum Tập 6, Stuttgart 1966, trang 232–237.
  18. ^ John Passmore: The Treatment of Animals. In: Journal of the History of Ideas 36, 1975, S. 199–200; Colin Spencer: The Heretic’s Feast. A History of Vegetarianism, London 1993, S. 172–174.
  19. ^ Colin Spencer: The Heretic’s Feast. A History of Vegetarianism, London 1993, S. 190–192.
  20. ^ Tristram Stuart: The Bloodless Revolution. A Cultural History of Vegetarianism from 1600 to Modern Times, New York 2007, S. 138–150.
  21. ^ Colin Spencer: The Heretic’s Feast. A History of Vegetarianism, London 1993, S. 206–209; Tristram Stuart: The Bloodless Revolution. A Cultural History of Vegetarianism from 1600 to Modern Times, New York 2007, S. 60–77.
  22. ^ Colin Spencer: The Heretic’s Feast. A History of Vegetarianism, London 1993, S. 201f.; Tristram Stuart: The Bloodless Revolution. A Cultural History of Vegetarianism from 1600 to Modern Times, New York 2007, S. 131–137.
  23. ^ (tiếng Đức) Ursula Wolf: Das Tier in der Moral, 2. Auflage, Frankfurt a.M. 2004, S. 33–38.
  24. ^ Spencer p. 180–200.
  25. ^ Oxford English Dictionary Bd. 19, 2. Auflage (1989), S. 476.
  26. ^ Spencer p. 252–253, 261–262.
  27. ^ Antonio Cocchi: Del vitto pitagorico per uso della medicina, Florenz 1743; Jon Gregerson: Vegetarianism. A History, Fremont 1994, S. 71f.
  28. ^ “Khám phá nét độc đáo trong thói quen ăn chay của người Huế”. 
  29. ^ http://hoavouu.com/D_1-2_2-123_4-14695/ng.html
  30. ^ Ngũ tân: đại toán, cát thông, từ thông, lan thông, hưng cừ.
  31. ^ What is a Vegan?, Vegan Society (UK), accessed May 12, 2010.
  32. ^ International Vegetarian Union (IVU), accessed May 2, 2010.
  33. ^ Mangels, AR. Position of the American Dietetic Association: Vegetarian Diets, Journal of the American Dietetic Association, 2009, vol 109, issue 7, pp. 1266–1282.
  34. ^ http://thucduong.vn/
  35. ^ (tiếng Đức)Siehe Helmut F. Kaplan: Leichenschmaus – Ethische Gründe für eine vegetarische Ernährung, 3. Auflage, Reinbek 2002.
  36. ^ Xem Kết quả khảo sát những người ăn chay của đại học Jena
  37. ^ Paul Amato/Sonia Partridge: The New Vegetarians, New York 1989, S. 31
  38. ^ Eine Tierbefreiungsbewegung gab es zum Zeitpunkt der Veröffentlichung des Buches praktisch nicht. Die Forderung nach der Befreiung der Tiere ist nach Singer als Metapher zu verstehen. Er fordert eine strikte Gewaltfreiheit (vgl. Vorwort der 1990er Ausgabe): Phong trào phóng thích động vật xuất hiện vào thời điểm ngay khi cuốn sách [của Singer] xuất bản là không chính xác, mà nó phải được hiểu theo nghĩa ẩn dụ. Singer đã nỗ lực kêu gọi bất bạo động [với động vật] (trích lời mở đầu của cuốn sách, ấn bản năm 1990).
  39. ^ Günther Stolzenberg: Weltwunder Vegetarismus, München 1980, S. 164 f.; John Lawrence Hill: The Case for Vegetarianism, Lanham 1996, S. 52–67.
  40. ^ Singer, Animal Liberation (Harper Collins Publishers 2002): S. 5–9.
  41. ^ David Benatar (2001). “Why the Naive Argument against Moral Vegetarianism Really is Naive”. Environmental Values 10 (1): 103. doi:10.3197/096327101129340769. 
  42. ^ http://www.iep.utm.edu/anim-eth/#SH2b
  43. ^ Kochhal, M. (1 tháng 10 năm 2004). “Vegetarianism: jainism and vegetarianism (ahisma)”. 
  44. ^ (tiếng Đức) Ludwig Alsdorf: Beiträge zur Geschichte von Vegetarismus und Rinderverehrung in Indien, Wiesbaden 1962, S. 5ff.
  45. ^ “Tam tịnh nhục”. “Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng: thấy, nghe và nghi (vì mình mà giết). Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt không được thọ dụng. Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp, thịt được thọ dụng: không thấy, không nghe và không nghi (vì mình mà giết). Này Jivaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng.” 
  46. ^ Teachings on Love, Thich Nhat Hanh, Berkley, Parallax Press, 1998.
  47. ^ Tâm Minh (19 Tháng 2 2010). “Ăn chay và ăn mặn”. 
  48. ^ Junior encyclopaedia of Sikhism 1985 By H. S. Singha Page 124 ISBN 10: 070692844X / 0-7069-2844-X
  49. ^ Kakshi, S.R. (2007). “12”. Trong S.R. Bakshi, Rashmi Pathak,. Punjab Through the Ages 4 (ấn bản 1). New Delhi: Sarup and Sons. tr. 241. ISBN 8176257389 (Set). 
  50. ^ “Shiromani Gurudwara Prabhandhak Committee”. Sgpc.net. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  51. ^ “The Sikhism Home Page”. Sikhs.org. 15 tháng 2 năm 1980. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  52. ^ (tiếng Đức)Lambert Schmithausen: Essen ohne zu töten. Zur Frage von Fleischverzehr und Vegetarismus im Buddhismus. In: Perry Schmidt-Leukel (Hrsg.): Die Religionen und das Essen, Kreuzlingen 2000, S. 150–158; Max Deeg: Speisegebote. VII. Buddhismus. In: Religion in Geschichte und Gegenwart, 4. Auflage, Bd. 7, Tübingen 2004, Sp. 1556.
  53. ^ Dharma Data: Vegetarianism. Buddhanet.net. Retrieved on 2011-05-25.
  54. ^ Buddhism and Vegetarianism. Buddhanet.net. Retrieved on 2011-05-25.
  55. ^ “Kinh Jìvaka (Jìvaka sutta)”. 
  56. ^ “Tam tịnh nhục”. “Ngoài ra, có 10 loại thịt đặc biệt khác mà các vị Tỷ kheo không được sử dụng. Đó là thịt người, voi, ngựa, chó, rắn, sư tử, cọp, báo, gấu và linh cẩu. Đây không phải là sự kiêng kỵ riêng cho một số loài nào (như Hồi giáo kiêng thịt heo, Ấn giáo kiêng thịt bò) mà vì những lý do sau: Thịt người thì không thể ăn vì quá dã man; thịt voi và thịt ngựa vì trong thời kỳ đó, hai con vật này được coi là thú vật của nhà vua; thịt chó vì dân chúng thường coi chó là con vật ghê tởm; thịt rắn, sư tử, cọp, báo, gấu và linh cẩu vì người ta tin rằng ai ăn thịt những loài thú rừng nguy hiểm này sẽ toát ra một mùi đặc biệt có thể khiến cho các con vật đồng loại tấn công người đó để trả thù (Theo Ajahn Brahmavamso, What the Buddha said about eating meat?).” 
  57. ^ Mahavagga Pali – Bhesajjakkhandhaka – Vinaya Pitaka
  58. ^ a ă Đại đức Thích Trí Siêu. “Ăn chay, ăn mặn”. 
  59. ^ Life as a Vegetarian Tibetan Buddhist Practitioner. Serv-online.org. Retrieved on 2011-05-25.
  60. ^ Apparitions of the Self: The Secret Autobiographies of a Tibetan Visionary
  61. ^ The life of Shabkar: the autobiography of a Tibetan yogin, page 541
  62. ^ Angulimaliya Sutra
  63. ^ (tiếng Đức) Schmithausen S. 177–193. Eine Zusammenstellung solcher Texte bietet Geshe Thubten Soepa: Zwei Texte in der Tradition des Buddha Shakyamuni: Die Udambara-Lotusblume, die das Leben hilfloser Wesen beschützt. Aussagen aus den Sutras zum Thema Fleischessen; und: Buddha-Puja: Rezitation für buddhistische Feiertage [deutsch und tibetisch], München o.J.
  64. ^ (tiếng Đức) K.S. Walters/L. Portmess: Religious Vegetarianism, Albany 2001, S. 123ff.; Günther Stolzenberg: Weltwunder Vegetarismus, München 1980, S. 68–70; Richard Alan Young: Is God a Vegetarian? Christianity, Vegetarianism, and Animal Rights, Chicago 1999, S. 15–21, 56–61.
  65. ^ (tiếng Đức) Hieronymus, Adversus Iovinianum 1,18.
  66. ^ (tiếng Đức) Hubertus Lutterbach: Der Fleischverzicht im Christentum. In: Saeculum 50/II (1999) S. 180, 185–187.
  67. ^ Lutterbach S. 180–183.
  68. ^ Karen Iacobbo/Michael Iacobbo: Vegetarian America. A History, Westport (CT) 2004, trang 97–99.
  69. ^ Alsdorf S. 16ff.; J. Jolly: Artikel Food (Hindu), in: Encyclopaedia of Religion and Ethics, Bd. 6 (1937), S. 63–65.
  70. ^ (tiếng Đức) Renate Syed: Das heilige Essen. In: Perry Schmidt-Leukel (Hrsg.): Die Religion und das Essen, Kreuzlingen 2000, S. 102, 131.
  71. ^ Tähtinen, Unto: Ahimsa. Non-Violence in Indian Tradition, London 1976, p. 107–109.
  72. ^ Mahabharata 12.257 (note that Mahabharata 12.257 is 12.265 according to another count); Bhagavad Gita 9.26; Bhagavata Purana 7.15.7.
  73. ^ “The Hindu: Sci Tech / Speaking Of Science: Changes in the Indian menu over the ages”. Hinduonnet.com. 21 tháng 10 năm 2004. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2010. 
  74. ^ Kết quả khảo sát năm 2006 trên thehindu.com

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]