Chó

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chó
Thời điểm hóa thạch: Cuối Pleistocene – nay
Phú Quốc dog 1.JPG
Chó Phú Quốc
một giống chó nhà
Tình trạng bảo tồn
Đã thuần hóa
Phân loại khoa học
Vực (domain) Eukaryota
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Canidae
Phân họ (subfamilia) Caninae
Tông (tribus) Canini
Chi (genus) Canis
Loài (species) C. lupus
Phân loài (subspecies) C. l. familiaris

Carl Linnæus
Danh pháp ba phần
Canis lupus familiaris

Chó là loài động vật nuôi đầu tiên được con người thuần hóa được cách đây 15.000 năm vào cuối Kỷ băng hà[1]. Tổ tiên của loài chó là chó sói. Loài vật này được sử dụng để giữ nhà hoặc làm thú chơi. Chó chữ Nôm viết là 㹥 hoặc 𤝹, 𤠚, 𦢞, 犾, 犬. Trong các từ ghép Hán Việt chó được gọi là "cẩu" (chữ Hán: 狗) hoặc "khuyển" (犬). Con chó con được gọi là "cún". Vì chó trông giống con cầy nên chó còn được gọi là "cầy".

Nguồn gốc

Tổ tiên của loài chó bao gồm cả cáochó sói là một loài động vật có vú gần giống như chồn sinh sống ở các hốc cây vào khoảng 400 triệu năm trước. Còn loài chó như chúng ta thấy ngày nay được tiến hóa từ một loài chó nhỏ, màu xám. Vào cuối kỳ Băng hà, cách đây khoảng 40.000 năm, chó sói và người chung sống với nhau thành nhóm săn mồi theo bầy. Chó sói và người thường tranh nhau con mồi, thậm chí còn giết nhau. Nhưng hẳn là chó sói đã bắt đầu tìm bới những mẩu thức ăn thừa do con người bỏ lại. Con người đã thuần hóa chó sói con và qua lai giống nhiều thế hệ, chó sói tiến hóa thành chó nhà.

Đặc tính

Thời gian mang thai trung bình của chó kéo dài khoàng 60 đến 62 ngày, có thể sớm hơn hoặc kéo dài đến 65 ngày.[2][3] Lúc mới ra đời, chó con không có răng nhưng chỉ sau 4 tuần tuổi đã có thể có 28 chiếc răng. Bộ hàm đầy đủ của loài thú này là 42 chiếc.

Khi cơ thể nóng bức, chó thường le lưỡi thở để hạ nhiệt

Mắt chó có đến 3 mí: một mí trên, một mí dưới và mí thứ ba nằm ở giữa, hơi sâu vào phía trong, giúp bảo vệ mắt khỏi bụi bẩn. Tai của chúng rất thính, chúng có thể nhận được 35.000 âm rung chỉ trong một giây. Khứu giác của chúng cũng rất thính như tai. Người ta có thể ngửi thấy mùi thức ăn ở đâu đó trong nhà bếp nhưng chó thì có thể phân biệt từng gia vị trong nồi, thậm chí những chú chó săn còn tìm ra những cây nấm con nằm sâu trong rừng, vì chúng có thể phân biệt gần 220 triệu mùi. Não chó rất phát triển. Chó phân biệt vật thể đầu tiên là dựa vào chuyển động sau đó đến ánh sáng và cuối cùng là hình dạng. Vì thế thị giác của chúng rất kém,chỉ nhìn thấy 2 màu đen-trắng. Ta có thấy vào mùa đông lạnh, thỉnh thoảng chó hay lấy đuôi che cái mũi ướt át, đấy là cách chúng giữ ấm cho mình. Chó có đến 2 lớp lông: lớp bên ngoài như chúng ta đã thấy, còn lớp lót bên trong giúp cho chúng giữ ấm, khô ráo trong nhũng ngày mưa rét, thậm chí còn có nhiệm vụ "hạ nhiệt" trong những ngày oi bức.

Người ta đã tính được rằng: chó 1 năm tuổi tương ứng với người 16 tuổi. Chó 2 tuổi tương ứng với người 24 tuổi, chó 3 năm tuổi - người 30, và sau đó cứ thêm một năm tuổi chó bằng 4 năm tuổi người. Ngày nay, nhu cầu nuôi chó cảnh đang được phát triển nên những giống chó nhỏ như Chihuahua Fox, hoặc chó thông minh như Collie được nhiều người chơi quan tâm đến. Điều này cũng không có gì khó hiểu bởi chó là con vật thủy chung, gần gũi với con người. Chó giúp con người rất nhiều việc như trông nhà cửa, săn bắt, và được coi là con vật trung thành, tình nghĩa với con người.

Lai giống

Bài chi tiết: Giống chó
Một loài chó lai

Chó lai là loài chó vốn được ghép bởi 2 loài chó bố, mẹ khác nhau (về màu sắc, hình dạng,...). Hai con bố, mẹ này sau khi giao phối sẽ tạo ra một giống chó mới mang thuộc tính của bố mẹ

Tín ngưỡng dân gian

Một miếu thờ chó ở miền Bắc Việt Nam

Trong văn hóa tâm linh của một số dân tộc, chó là con vật thân thiết gắn bó thủy chung với người chủ nói riêng và con người nói chung, những đức tính của chó được tôn vinh, thậm chí có nơi chó được thờ cúng tại các đền thờ, miếu mạo.[4][5]

Theo một nhà dân tộc học người Nga, tục thờ chó khá phổ biến ở nhiều dân tộc trên thế giới, và có ở hầu khắp thần thoại các dân tộc ở Đông Nam Á lục địa. Ban đầu tục này xuất phát từ các dân tộc chăn nuôi gia súc khu vực Tây Nam Á, với vai trò canh giữ đàn gia súc. Sau đó có thể người Ấn–Âu từ thời đồng thau đã mang vào Đông Á truyền thống chăn nuôi cùng với tín ngưỡng thờ chó. Trong thần thoại vùng Địa Trung Hải và Cận Đông, hình tượng chó, kẻ canh giữ gia súc đã sớm chuyển thành kẻ canh giữ thế giới âm phủ.[6]

Thịt chó

Bài chi tiết: Thịt chó

Thịt chó là một món ăn thông thường tại một số nước châu Á như Hàn Quốc, nó vừa có tính cách bình dân lại vừa được xếp vào hàng đặc sản.Theo quan niệm của người Việt Nam thì thịt chó còn là món ăn giải xui.Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia Tây phươngHồi giáo, việc giết chó làm thịt và ăn thịt chó (và mèo) được coi là tàn bạo và bị cấm.[7]

Tại Việt Nam, chó dùng làm thịt thường là chó cỏ không phải là "chó cảnh", "chó Tây", vì theo đánh giá thì hai loại đó vừa đắt vừa không ngon. Thịt chó ngoài việc cung cấp thực phẩm còn có một giá trị y học nhất định theo quan niệm người Á Đông (trừ Nhật Bản). Thịt chó theo Trung y có vị mặn, tính ấm và có rất nhiều chất đạm. Ở Việt Nam, thịt chó được đa số người dân đặc biệt ưa chuộng[cần dẫn nguồn]. Theo công văn Cục Thú y ban hành vào ngày 23.1.2014, chỉ riêng tại Việt Nam, hàng năm ước tính có khoảng 5 triệu cá thể chó bị giết phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ thịt.[8]

Chó trong không gian

Con chó đầu tiên được đưa vào không gian là con Laika của Nga trong chuyến bay năm 1957. Laika cuối cùng đã bị bốc cháy khi rơi vào bầu khí quyển.

Đọc thêm

  • Abrantes, Roger (1999). Dogs Home Alone. Wakan Tanka, 46 pages. ISBN 0-9660484-2-3 (paperback).
  • A&E Television Networks (1998). Big Dogs, Little Dogs: The companion volume to the A&E special presentation, A Lookout Book, GT Publishing. ISBN 1-57719-353-9 (hardcover).
  • Alderton, David (1984). The Dog, Chartwell Books. ISBN 0-89009-786-0.
  • Bloch, Günther. Die Pizza-Hunde (tiếng Đức), 2007, Franckh-Kosmos-Verlags GmbH & Co. KG, Stuttgart, ISBN 978-3-440-10986-1
  • Brewer, Douglas J. (2002) Dogs in Antiquity: Anubis to Cerberus: The Origins of the Domestic Dog, Aris & Phillips ISBN 0-85668-704-9
  • Coppinger, Raymond and Lorna Coppinger (2002). Dogs: A New Understanding of Canine Origin, Behavior and Evolution, University of Chicago Press ISBN 0-226-11563-1
  • Cunliffe, Juliette (2004). The Encyclopedia of Dog Breeds. Parragon Publishing. ISBN 0-7525-8276-3.
  • Derr, Mark (2004). Dog's Best Friend: Annals of the Dog-Human Relationship. University of Chicago Press. ISBN 0-226-14280-9
  • Donaldson, Jean (1997). The Culture Clash. James & Kenneth Publishers. ISBN 1-888047-05-4 (paperback).
  • Fogle, Bruce, DVM (2000). The New Encyclopedia of the Dog. Doring Kindersley (DK). ISBN 0-7894-6130-7.
  • Grenier, Roger (2000). The Difficulty of Being a Dog. University of Chicago Press ISBN 0-226-30828-6
  • Milani, Myrna M. (1986). The Body Language and Emotion of Dogs: A practical guide to the Physical and Behavioral Displays Owners and Dogs Exchange and How to Use Them to Create a Lasting Bond, William Morrow, 283 pages. ISBN 0-688-12841-6 (trade paperback).
  • Pfaffenberger, Clare (1971). New Knowledge of Dog Behavior. Wiley, ISBN 0-87605-704-0 (hardcover); Dogwise Publications, 2001, 208 pages, ISBN 1-929242-04-2 (paperback).
  • Shook, Larry (1995). "Breeders Can Hazardous to Health", The Puppy Report: How to Select a Healthy, Happy Dog, Chapter Two, pp. 13–34. Ballantine, 130 pages, ISBN 0-345-38439-3 (mass market paperback); Globe Pequot, 1992, ISBN 1-55821-140-3 (hardcover; this is much cheaper should you buy).
  • Shook, Larry (1995). The Puppy Report: How to Select a Healthy, Happy Dog, Chapter Four, "Hereditary Problems in Purebred Dogs", pp. 57–72. Ballantine, 130 pages, ISBN 0-345-38439-3 (mass market paperback); Globe Pequot, 1992, ISBN 1-55821-140-3 (hardcover; this is much cheaper should you buy).
  • RW Nelson, Couto page 107 Small animal internal medicine,
  • Thomas, Elizabeth Marshall (1993). The Hidden Life of Dogs (hardcover), A Peter Davison Book, Houghton Mifflin. ISBN 0-395-66958-8.
  • Trumler, Eberhard. Mit dem Hund auf du; Zum Verständnis seines Wesens und Verhaltens (tiếng Đức); 4. Auflage Januar 1996; R. Piper GmbH & Co. KG, München

Tham khảo

  1. ^ Miklósi
  2. ^ http://www.phongkhamthuyac.com/thuy/tintuc_chitiet.asp?id=54
  3. ^ http://www.cpvh.com/2011/07/27/gestation-in-dogs/
  4. ^ Thời báo Kinh tế Việt Nam, "Chuyện thờ chó, tập tục trong một số cộng đồng người Việt"
  5. ^ Năm Tuất, lại om sòm chuyện đền Cẩu Nhi
  6. ^ Võ Văn Trung, Từ tục thờ chó, nghĩ đến Linh Cẩu chùa Cầu
  7. ^ William Saletan (16 tháng 1 năm 2002). “Wok The Dog -- What's wrong with eating man's best friend?”. slate.com. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2007. 
  8. ^ “Việt Nam giết thịt 5 triệu con chó mỗi năm”. baodatviet. 18/02/2014. 

Liên kết ngoài

(tiếng Anh)

(tiếng Việt)