Chó chống tăng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trường huấn luyện chó quân đội Liên Xô, 1931

Chó chống tăng (tiếng Nga: собаки-истребители танков sobaki-istrebiteli tankov hoặc противотанковые собаки protivotankovye sobaki; tiếng Đức: Panzerabwehrhunde hay Hundeminen, "mìn chó") là những con chó được huấn luyện để mang thuốc nổ đến chỗ xe tăng, phương tiện chiến đấu bọc thép và các mục tiêu quân sự khác. Quân đội Liên XôNga đã huấn luyện rộng rãi chó nghiệp vụ từ 1930 đến 1996 và sử dụng chúng khoảng các năm 1941–1942 để chống lại xe tăng Đức trong chiến tranh thế giới thứ hai. Ban đầu những con chó được huấn luyện để bom lại và rút lui, quả bom sẽ được kích nổ bằng thiết bị hẹn giờ, nhưng cách này kém hiệu quả nên được thay bằng kích nổ bằng va chạm, điều này đồng nghĩa với việc con chó cũng mất mạng. Quân đội Mỹ từng đào tạo chó chống tăng năm 1943 với mục đích phá công sự, nhưng chưa bao giờ triển khai trên thực tế. Những con chó đeo thuốc nổ đã được dùng trong cuộc nổi loạn ở Iraq những năm 2000 nhưng không thành công.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1924, Hội đồng Quân sự Cách mạng của Liên Xô đã phê chuẩn việc sử dụng chó cho mục đích quân sự, bao gồm rất nhiều nhiệm vụ như giải cứu, phân phát đồ sơ cứu, giao liên, đánh hơi mìn và người, hỗ trợ chiến đấu, vận tải lương thực, thuốc men và binh sĩ bị thương trên xe kéo, và làm nổ những mục tiêu quân sự. Một trường huấn luyện chó nghiệp vụ đã được thành lập tại tỉnh Moskva. Không lâu sau đó, mười hai trường khu vực đã được mở ra, ba trong số đó đào tạo chó chống tăng.[1][2]

chó chăn cừu Đức

Triển khai bởi Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Duyệt binh trên quảng trường Đỏ, Moskva, 1 tháng 5, 1938

Nhu cầu sử dụng chó chống tăng gia tăng trong những năm 1941-1942, khi Hồng quân thực hiện mọi nỗ lực để kìm chân quân Đức trên mặt trận phía Đông. Trong giai đoạn này, các trường huấn luyện chó nghiệp vụ chủ yếu tập trung đào tạo chó chống tăng. Khoảng 40.000 con chó đã được triển khai cho nhiều nhiệm vụ khác nhau trong quân đội Liên Xô.[3]

Nhóm chó chống tăng đầu tiên

Các quốc gia khác sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Lục quân Nhật Bản đã nhận khoảng 25.000 con chó từ đồng minh Đức và thành lập một số trường huấn luyện chó ở Nhật Bản và một trường mở tại Nam Kinh, Trung Quốc. Một số con chó được đào tạo cho nhiệm vụ phá hủy, nhưng thay vì đeo thuốc nổ lên con chó, thuốc nổ được đặt trên xe chó kéo.[4] Việc này ít có hiệu quả, chủ yếu vì thiếu sự huấn luyện.[3] Vào cuối thập niên 1940, lực lượng Việt Minh đã sử dụng chó chống tăng trong chiến đấu tại Đông Dương.[5]

Năm 1943, quân đội Mỹ đã tính đến việc sử dụng chó nghiệp vụ để đánh công sự. Mục đích là để một con chó mang bom hẹn giờ chạy vào boong ke. Những chú chó trong chương trình bí mật này được huấn luyện ở pháo đài Belvoir. Những con chó đó được gọi là "chó sói hủy diệt", được dạy chạy đến boong ke, chui vào trong và ngồi xuống đợi một vụ nổ giả định. Mỗi con chó được đeo bom quanh mình trong những túi vải bạt, giống như cách làm của Nga. Chương trình này chấm dứt vào ngày 17 tháng 12 năm 1943 do lo ngại thiếu an toàn. Trong lúc huấn luyện, những con chó thường chạy ngược lại chỗ người huấn luyện mà không đi vào boong ke hoặc không đợi ở đó đủ thời gian cần thiết, điều này có thể dẫn đến thương vong cho đồng đội trong trường hợp thực chiến. Người ta lo ngại rằng trên chiến trường những con chó sẽ chạy ngược lại nhiều hơn vì sợ hỏa lực kẻ thù. Những cố gắng tiếp tục chương trình này trong các năm 1944 và 1955 đều thất bại.[6]

William A. Prestre, một công dân Thụy Sĩ sống tại Santa Fe, New Mexico đã đề xuất việc sử dụng những con chó lớn để giết lính Nhật. Ông đã thuyết phục quân đội dành ra một hòn đảo trên sông Mississippi để làm nơi huấn luyện. Tại đó quân đội kỳ vọng sẽ đào tạo được hai triệu con chó. Mục đích là dùng cho việc xâm nhập các đảo: tàu đổ bộ thả ra hàng ngàn con chó chống lại lính Nhật phòng thủ, quân Mỹ sẽ được triển khai khi quân Nhật chạy toán loạn. Một trong những vấn đề lớn nhất gặp phải là tìm ra lính Nhật để huấn luyện những con chó, khi mà có rất ít lính Nhật đang bị bắt. Cuối cùng những người lính Mỹ gốc Nhật tình nguyện tham gia đóng giả. Vấn đề lớn nhất ở đây là những con chó, hoặc chúng quá ngoan ngoãn, không phản ứng lại việc huấn luyện dạy chúng xông qua bãi biển, hoặc quá khiếp sợ hỏa lực. Sau khi đã tiêu tốn hàng triệu đô la, người ta từ bỏ chương trình này.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Раздавлена при падении "железного занавеса"” (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009. [[]][liên kết hỏng] Mirror Раздавлена при падении "железного занавеса". Донецкий кряж, № 2352 (2006-11-24)
  2. ^ “Из истории военного собаководства (History of military dog training)” (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009. 
  3. ^ a ă “Our Allies...The Soviet Union and Their Use Of War Dogs”. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009. 
  4. ^ Mark Derr (2004). Dog's best friend: annals of the dog-human relationship. University of Chicago Press. tr. 151. ISBN 0-226-14280-9. 
  5. ^ “Anti-Tank Dog Mine”. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009. 
  6. ^ Michael G. Lemish (1999). War Dogs: A History of Loyalty and Heroism. Brassey's. tr. 89–91. ISBN 1-57488-216-3. 
  7. ^ Winston Groom (2005). 1942: The Year that Tried Men's Souls. Atlanta Monthly Press. tr. 166–168. ISBN 0-87113-889-1.