Lục quân Đế quốc Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến Kỳ - Đế quốc Nhật Bản
Lục quân Đế quốc Nhật Bản

Lục quân Đế quốc Nhật Bản (kanji cổ: 大日本帝國陸軍, kanji mới: 大日本帝国陸軍; romaji: Dai-Nippon Teikoku Rikugun; Hán-Việt: Đại Nhật Bản đế quốc lục quân) là tên gọi lực lượng quân sự của đế quốc Nhật từ năm 1867 đến 1945 dưới quyền chỉ huy của Bộ Tổng Tham mưu Hoàng giaBộ Chiến tranh Nhật Bản.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ máy chỉ huy[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản, không kể Nhật hoàng, thì 3 vị đứng đầu 3 cơ quan trên là 3 người có vị trí cao nhất.

  • Cục hàng không, Bộ Tư lệnh Cảnh bị Tōkyō, Bộ Tư lệnh Phòng vệ, Bộ Tư lệnh các Căn cứ, Bộ Tư lệnh các Quân khu, Cục Quân giới, v.v...

Biên chế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổng quân (総軍, sōgun): là quy mô đơn vị lục quân lớn nhất, gồm một số phương diện quân và các đơn vị cấp thấp hơn hợp thành. Tư lệnh thường mang hàm đại tướng;
  • Phương diện quân (方面軍, hōmengun): gồm một số quân và các đơn vị cấp thấp hơn hợp thành. Tư lệnh thường mang hàm đại tướng hoặc trung tướng;
  • Quân (軍, gun): khác với biên chế trong quân đội nhiều quốc gia khác, cấp quân trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản có biên chế tương đương tập đoàn quân, gồm một số sư đoàn và các đơn vị cấp thấp hơn hợp thành. Giữa cấp biên chế sư đoàn và quân không có cấp trung gian. Tư lệnh thường mang hàm trung tướng, tham mưu trưởng thường mang hàm thiếu tướng, phó tham mưu trưởng thường mang hàm đại tá;
  • Sư đoàn (師団, shidan): trước khi thành lập cấp tổng quân và phương diện quân, còn cấp quân chỉ có 4 đơn vị, thì sư đoàn là cấp đơn vị nòng cốt. Lúc đó, tư lệnh thường mang hàm trung tướng; về sau, thường mang hàm thiếu tướng;
  • Lữ đoàn (旅団, ryodan): lúc mới thành lập cấp này, lữ trưởng được quy định mang hàm thiếu tướng; sau đó có điều chỉnh lại, chỉ huy trưởng là đại tá.
  • Liên đội (連隊, rentai): lúc mới thành lập, cấp này có biên chế tương đương cấp trung đoàn, liên đội trưởng bộ binh thường mang hàm đại tá, liên đội trưởng kỵ binh, pháo binh, cơ giới mang hàm trung tá; sau đó có điều chỉnh lại, quy mô chỉ còn tương đương tiểu đoàn;
  • Đại đội (大隊, daitai): thời kỳ đầu, cấp trưởng quan đại đội bộ binh thường mang hàm thiếu tá, sau được điều chỉnh lại.
  • Trung đội (中隊, chutai): một trung đội bộ binh có 136 chiến sĩ; một trung đội kỵ binh có 159 chiến sĩ;
  • Tiểu đội (小隊, shoutai): khoảng 2-4 phân đội hay 20-40 chiến sĩ;
  • Phân đội (分隊, buntai): khoảng 10 chiến sĩ.

Các đơn vị được biên chế theo binh chủng: bộ binh, kỵ binh, pháo binh

Quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ 1944-1945, Lục quân Đế quốc Nhật Bản có các quân hàm sau, xếp từ cao xuống thấp:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]