Ōyama Iwao

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ōyama Iwao
Iwao Oyama, Commandor of the IJA Manchurian Army during the Russo-Japanese War.jpg

Nguyên soái Ōyama Iwao trong Chiến tranh Nga-Nhật
Tiểu sử
Sinh


Kagoshima, Phiên Satsuma, Nhật Bản
Mất


Tokyo, Nhật Bản
Binh nghiệp
Phục vụ Đế quốc Nhật Bản
Thuộc War flag of the Imperial Japanese Army.svg Lục quân Đế quốc Nhật Bản
Năm tại ngũ 1871 - 1914
Cấp bậc Nguyên soái
Chỉ huy Tập đoàn quân 2 (Lục quân Đế quốc Nhật Bản)
Tham chiến Chiến tranh Boshin
Chiến tranh Tây Nam
Chiến tranh Thanh-Nhật
Chiến tranh Nga-Nhật
Khen thưởng Huân chương Công trạng
Huân chương Cánh diều Vàng (hạng nhất)
Huân chương Hoa cúc
Công việc khác Quan Chưởng ấn Hoàng gia Nhật Bản
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Ōyama. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).

Ōyama Iwao (Nhật: 大山巌 Đại Sơn Nham?, 10 tháng 10, 1842 - 10 tháng 12, 1916) là một vị nguyên soái của Lục quân Đế quốc Nhật Bản. Ông là một trong những nhà lãnh đạo của phong trào Duy Tân Minh Trị, tham gia sáng lập Lục quân Đế quốc Nhật Bản và là tư lệnh lục quân Nhật trong Chiến tranh Nga-Nhật 1094-05.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Ōyama sinh tại tỉnh Kagoshima trong một gia đình võ sĩ đạo từ phiên Satsuma. Ông đã tham gia vào phong trào đấu tranh lật đổ chính quyền Tokugawa và là một trong những nhà lãnh đạo của cuộc Duy tân Minh Trị. Trong Chiến tranh Boshin, ông làm chỉ huy trưởng một lữ đoàn. Trong trận Aizu, ông nắm quyền chỉ huy một đơn vị dã pháo tại núi Oda và bị thương bởi quân du kích Aizu do Sagawa Kanbei chỉ huy.

Kimigayo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1869, John William Fenton, một huấn luyện viên quân nhạc người Anh, sau khi biết Nhật Bản không có quốc ca chính thức đã đề nghị với Ōyama cùng ông sáng tác quốc ca. Ōyama đồng ý và đứng ra chọn lời bài hát.[1] Lời của bản quốc ca này dựa trên một bài thơ Hòa ca cổ được viết vào thời kỳ Heian (khoảng thế kỉ 10) và có những điểm tương đồng với quốc ca Anh "God Save the King" do sự ảnh hưởng của Fenton.[2] Sau khi lựa chọn lời, Ōyama đã đề nghị Fenton sáng tác giai điệu và Fenton đã trình diễn bản quốc ca này với tên gọi Kimi Ga Yo cho Thiên hoàng Minh Trị vào năm 1870.[2] Tuy nhiên, bài quốc ca này có một giai điệu khá dị thường và nhanh chóng bị lãng quên.[3]

Sự nghiệp quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1870, Ōyama đã đến Pháp và học tại Trường võ bị Saint-Cyr (École Spéciale Militaire de Saint-Cyr) và đồng thời là quan sát viên quân sự chính thức của Nhật Bản trong Chiến tranh Pháp-Phổ. Sau đó, ông có thời gian 3 năm (1870-1873) tại Genève, Thuỵ Sĩ để học ngoại ngữ và trong thời gian này đã nói rành tiếng Nga. Ōyama Iwao được xem là khách hàng Nhật Bản đầu tiên của hãng thời trang Louis Vuitton trong thời gian ông sống tại Pháp. Sau khi được phong quân hàm thiếu tướng, ông đã trở lại Pháp để học thêm cùng với Kawakami Soroku.[4] Sau khi trở về nước, ông đã tham gia vào việc củng cố Lục quân Đế quốc Nhật Bản còn đang trong giai đoạn mới hình thành và đánh dẹp cuộc nổi dậy Satsuma của Saigō Takamori - một chí sĩ trong cuộc Minh Trị Duy Tân, mặc dù ông và anh trai mình là anh em họ với Takamori.

Trong Chiến tranh Thanh-Nhật, Quân đoàn 2 do Ōyama chỉ huy đã vượt sông Áp Lục, chiếm bán đảo Liêu Đông, tấn công bán đảo Sơn ĐôngUy Hải Vệ. Nhờ những chiến công này, Ōyama đã được phong tước hiệu Hầu tước trong hệ thống kazoku và 3 năm sau thì trở thành nguyên soái.

Đến Chiến tranh Nga-Nhật, ông trở thành tư lệnh lục quân Nhật và tham gia chỉ huy quân Nhật trong nhiều trận đánh lớn như Trận Liêu Dương, Trận Sông Sa, Trận Sandepu và đặc biệt là chiến thắng vang dội trong trận Phụng Thiên. Sau khi chiến tranh kết thúc với thắng lợi thuộc về Nhật Bản, Thiên hoàng Minh Trị đã phong ông lên Công tước (kōshaku, 公爵).[5]

Tượng Ōyama Iwao tại Kudanzaka, Tokyo.

Sự nghiệp chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Là Bộ trưởng Chiến tranh qua nhiều nội các, Ōyama luôn ủng hộ quyền lực của các nguyên lão (genrō) đồng thời chống lại phong trào dân chủ. Tuy nhiên, khác với Yamagata Aritomo, Ōyama lại không tham gia nhiều vào các hoạt động chính trị. Từ năm 1914, ông trở thành Quan Chưởng ấn của Hoàng gia Nhật Bản.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Sutematsu Ōyama tại Vassar

Ōyama là một người có khả năng đọc và viết thông thạo nhiều ngoại ngữ Châu Âu. Ông đặc biệt tỏ ra thích thú với kiến trúc phương Tây. Trong thời gian làm Bộ trưởng Chiến tranh, ông đã xây một căn nhà ở Tokyo giống với kiểu dáng một lâu đài Đức.

Mặc dù ông rất thích sự thiết kế này, vợ ông lại phản đối và đề nghị phòng dành cho các con phải thiết kế theo phong cách Nhật Bản để chúng không quên đi truyền thống dân tộc.[6] Căn nhà này đã bị phá hủy sau các cuộc oanh tạc của không quân Mỹ trong Thế chiến thứ hai.

Vợ của ông là bà Yamakawa Sutematsu (em gái của hai vị tướng trong trận Aizu Yamakawa HiroshiYamakawa Kenjiro), trẻ hơn ông 14 tuổi và là người phụ nữ Nhật Bản được gửi đến Mỹ học vào thập niên 1870. Sau một vài năm học ở đây, bà tốt nghiệp Cao đẳng Vassar năm 1882.[7]

Năm 1906, Ōyama được trao tặng Huân chương Công trạng bởi vua Anh Edward VII. Ngoài ra ông còn được nhận Huân chương Cánh diều VàngHuân chương Hoa cúc. Ōyama mất năm 1916, hưởng thọ 75 tuổi.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Aura Sabadus (14 tháng 3 năm 2006). “Japan searches for Scot who modernised nation”. The Scotsman. Xuất bản bởi Nhà xuất bản Kỹ thuật số Johnston. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2010. 
  2. ^ a ă Colin Joyce (30 tháng 8 năm 2005). “Briton who gave Japan its anthem”. Telegraph.co.uk. Xuất bản bởi Telegraph Media Group Limited. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2010. 
  3. ^ Nhật Bản: Giáo viên bị phạt vì không chịu hát quốc ca
  4. ^ Dupuy, Encyclopedia of Military Biography
  5. ^ National Diet Library. “Oyama Iwao”. Portraits of Modern Historical Figures. 
  6. ^ Adachi, Kinnosuke (23 tháng 7 năm 1905). “The Wife of Japan’s Great General Oyama”. New York Times. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2010. 
  7. ^ "Prince Iwao Oyama Is Dead in Japan", The New York Times, 11 tháng 12, 1916.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bix, Herbert B. (2001). Hirohito and the Making of Modern Japan. Harper Perennial. ISBN 0060931302. 
  • Dupuy, Trevor N. (1992). Encyclopedia of Military Biography. I B Tauris & Co Ltd. ISBN 1-85043-569-3. 
  • Jansen, Marius B. (1986). Japan in Transition: From Tokugawa to Meiji. Princeton University Press. ISBN 1-85043-569-3. 
  • Jansen, Marius B. (2000). The Making of Modern Japan. Balknap Press. ISBN 0674009916. 
  • Keane, Donald (2005). Emperor Of Japan: Meiji And His World, 1852-1912. Columbia University Press. ISBN 0231123418. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]