Tên người Nhật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yamada Tarō (山田太郎 (Sơn Điền Thái Lang)?)

Tên người Nhật (日本人の氏名 (Nhật Bản nhân nãi thị danh) nihonjin no shimei?) hiện đại thường bao gồm họ trước, tên sau. Thứ tự gọi tên này là chung cho các nước trong vùng ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa như Hàn QuốcViệt Nam. Ở Nhật Bản tên lót rất ít được sử dụng. Tên Nhật thường được viết bằng Kanji, đọc ý theo thổ âm Nhật là kun'yomi (訓読み (huấn độc mĩ)?). Chính vì tên viết bằng Kanji đọc theo ý chứ không phải âm nên có nhiều cách đọc một cách viết trong tiếng Nhật, tuy nhiên nhiều người cũng đặt tên bằng hai bộ ký tự ký âm HiraganaKatakana. Tên viết bằng hai bộ ký tự biểu âm Hiragana và Katakana thường không mang một ý nghĩa nào.

Hiện nay ở Nhật có khoảng 100000 họ đang được sử dụng. Con số họ ở Nhật khá lớn là do những cải cách về họ tên thời Minh Trị trong những năm 1870. Những họ thông dụng ở Nhật hiện nay là Satō (佐藤 (Tá Đằng)?), Suzuki (鈴木 (Linh Mộc)?), Takahashi (高橋 (Cao Kiều)?), Katō (加藤 (Gia Đằng)?). Họ của người Nhật cũng xuất hiện nhiều hay ít tùy theo vùng, ví dụ như Chinen (知念 (Tri Niệm)?), Higa (比嘉 (Bỉ Gia)?)Shimabukuro (島袋 (Đảo Đại)?) xuất hiện nhiều tại Okinawa trong khi không mấy phổ biến ở các vùng khác. Nhiều họ của người Nhật được đặt dựa trên các hình ảnh nông thôn do ảnh hưởng của Thần đạo như Ishikawa (石川 (Thạch Xuyên)?) có nghĩa là sông đá, Yamamoto (山本 (Sơn Bản)?) có nghĩa là chân núi, Inoue (井上 (Tỉnh Thượng)?) có nghĩa là trên miệng giếng.

Tên riêng của người Nhật có phần phức tạp hơn. Có rất nhiều cách đọc một tên riêng cho một cách viết và cũng có rất nhiều cách viết cho một cách đọc:

  • Tên của phái nam thường có âm tận cùng là -rō ( (Lang)?) (con trai) ngoài ra còn có thể là -rō ( (Lãng)?) (sáng); -ta ( (Thái)?) (rất lớn); -ichi ( (Nhất)?) (con trai cả), -kazu ( (Nhất)?), -ji ( (Nhị)?) (con trai thứ hai), -tsugi ( (Thứ)?) (con trai thứ).
  • Tên của phái nữ thường kết thúc bằng -ko ( (Tử)?) (con); -mi ( (Mỹ)?) (đẹp); -ka ( (Hương)?); -hana ( (Hoa)?).