Nam Kinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nam Kinh
南京
—  Thành phố cấp phó tỉnh  —
南京市
Một số phong cảnh tiêu biểu ở Nam Kinh
Một số phong cảnh tiêu biểu ở Nam Kinh
Biệt danh: 金陵 (Kim Lăng), 石城 hay 石头城 (Thạch Thành)
Vị trí của Nam Kinh trong tỉnh Giang Tô
Vị trí của Nam Kinh trong tỉnh Giang Tô
Nam Kinh trên bản đồ China
Nam Kinh
Nam Kinh
Vị trí trong Trung Quốc
Tọa độ: 32°03′B 118°46′Đ / 32,05°B 118,767°Đ / 32.050; 118.767
Quốc gia Trung Quốc
Tỉnh Giang Tô
Các đơn vị cấp huyện 13
Các đơn vị cấp hương 129
Định cư 495 trước CN
Chính quyền
 - Tỉnh ủy ĐCS Zhu Shanlu
Bí thư tỉnh ủy
 - Thị trưởng Ji Jianye
Diện tích (ranked 29th)
 - Tổng cộng 6.598 km² (2.547,5 mi²)
Độ cao 15 m (50 ft)
Dân số (2009)
 - Tổng cộng 7.713.100 (Hạng 52)
 - Mật độ 1.123,5/km² (2.909,9/mi²)
Múi giờ Giờ chuẩn Trung Quốc (UTC+8)
Postal code 210000 - 211300
Mã điện thoại 25
Thành phố kết nghĩa Limassol, Leipzig sửa dữ liệu
Tiếp đầu biển số xe 苏A
GDP (2009) ¥423 tỷ
GDP đầu người ¥55,290
Cây biểu tượng
Tuyết tùng Hymalaya (Cedrus deodara)
Hoa biểu tượng
Mai (Prunus mume)
Website: Thành phố Nam Kinh

Nam Kinh (tiếng Hoa: 南京; pinyin: Nánjīng; Wade-Giles: Nan-ching; nghĩa là "Kinh đô phía Nam") là thủ phủ tỉnh Giang Tô, Trung Quốc. Nam Kinh là một thành phố lớn trong lịch sử và văn hóa Trung Hoa. Nam Kinh đã từng là thủ đô Trung Hoa trong nhiều triều đại, được xem như một trong bốn cố đô lớn của Trung Hoa. Nam Kinh là một trong 15 thành phố cấp phố tỉnh của Trung Quốc, loại thành phố này được hưởng nhiều quyền tự chủ về kinh kế và hoạch định chính sách gần như là cấp tỉnh. Đây đã từng là thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc. Diện tích: 6598 km², dân số: 6,4 triệu người. Năm 2004 GDP của Nam Kinh là 191 tỷ Nhân dân tệ (NDT) (thứ ba ở tỉnh Giang Tô), GDP đầu người là 33.050 NDT, tăng 15% so với năm 2003. Thu nhập bình quân đầu người dân nội đô là 11.601 NDT, ngoại ô: 5.333 NDT. Tỷ lệ thất nghiệp nội đô: 4,03%, thấp hơn mức chung của cả Trung Quốc là 4,2%.

Nam Kinh

Thành phố này nằm tại hạ lưu sông Dương Tử (Trường Giang) và nằm trong Khu kinh tế Đồng bằng Sông Dương Tử. Nam Kinh luôn là một trong những thành phố quan trọng của Trung Quốc, đã từng là kinh đô của 6 triều đại phong kiến Trung Hoa và là thủ đô của Trung Hoa Dân Quốc, đây còn là trung tâm giáo dục, nghiên cứu, giao thông vận tải và du lịch trong suốt lịch sử Trung Hoa thời cận đại. Nam Kinh là thành phố trung tâm thương mại lớn thứ hai ở Đông Trung Quốc sau Thượng Hải. Thời Tam Quốc, Khổng Minh Gia Cát Lượng đã viết về Nam Kinh như sau: "Chung Sơn long bàn, thạch đầu hổ cứ, chân nại đế vương chi trạch dã" (Hán văn: 钟山龙蟠,石头虎踞,真乃帝王之宅也) nghĩa là "Núi Chung thế rồng cuộn, đá hình hổ phục, thật là chốn đế vương vậy". Trong thời kỳ Nhật chiếm đóng Trung Quốc, thành phố Nam Kinh được nhiều người nhắc đến do có vụ Thảm sát Nam Kinh trong đó mấy trăm ngàn người dân Trung Quốc bị quân Nhật tàn sát.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Tần Thủy Hoàng mới thống nhất thiên hạ, đóng đô tại kinh thành Hàm Dương, một thầy phong thủy đã từng bày tỏ lo ngại về dương khí của một vùng đất nhỏ ở phía nam của Đế Quốc Đại Tần. Vùng đất này chính là Nam Kinh ngày nay. Lo sợ dương khí trên sẽ hun đúc một vị hoàng đế khác để soán ngôi mình, Tần Thủy Hoàng đã theo lời tên thầy phong thủy nọ mà phá núi, chôn vàng và cúng tế hàng tháng trời để dập tắt luồng dương khí nọ. Chính vì chuyện chôn vàng phá núi này mà người ta đặt tên cho thành ở đây cái tên dân gian là "Kim Lăng" - Jinling hay mộ vàng. Kim Lăng còn có cái tên động trời khác là "Mạt Lăng" vì những hành động của Tần Thủy Hoàng đã tàn phá phong thủy vùng đất này một cách nghiêm trọng.

Oái oăm thay, chính con trai Tần Thủy Hoàng là Doanh Phù Tô lại là vị vương tử đóng giữ thành. Chính vì hành động ngông cuồng của Tần Thủy Hoàng mà con trai ông đã phải chịu cái chết oan ức. "Mạt Lăng Hầu" Phù Tô đã chết vì bị viên thái giám tín cẩn của Tần Thủy Hoàng và em trai ông hại chết.

Kim Lăng đã là một trong những chiến trường đẫm máu nhất trong chiến tranh Hán Sở, khi mà hai quân đều cố giành cho bằng được vị trí chiến lược quan trọng này.

Dưới thời Tây Tấn, Kim Lăng có cái tên chính thức là "Kiến Khang" - "Jiankang". Khi Tây Tấn sụp đổ vì loạn Ngũ Hồ, Lang Nha vương đã trung hưng cơ nghiệp tại đất Kiến Khang, định đô tại đây. Trong suốt thời kỳ Đông Tấn đối địch Ngũ Hồ và Nam Bắc triều, Kiến Khang hay Kim Lăng liên tục là kinh sư của các triều đình phía nam. Cho đến khi Đại Tùy cất quân đánh Trần, Kiến Khang vẫn còn là kinh đô.

Xuyên suốt từ thời Tùy mạt Đường sơ cho đến khi Đại Đường cực thịnh, Kim Lăng đã dần dà trở thành trung tâm kinh tế của Giang Nam. Do sông Dương Tử nối liền ra biển, các thương nhân nước ngoài có thể dễ dàng tiếp cận nền kinh tế màu mỡ của nơi này. Dẫu cho cả nước có bị biến động như thế nào đi chăng nữa thì nền kinh tế của Kim Lăng vẫn ít khi bị ảnh hưởng - thậm chí là không bao giờ.

Khi Đường mạt, Ngũ Đại Thập Quốc tranh giành thiên hạ, một người Sa Đà họ Lý đã nhân cơ hội gầy dựng thế lực chiếm đóng Kim Lăng, dựng nên Nam Đường, một trong những "thập quốc" có thực lực lớn mạnh nhất. Kim Lăng đã là kinh sư của Nam Đường suốt thời Ngũ Đại Thập quốc cho đến khi Bắc Tống thu phục Nam Đường. Tào Bân lúc bấy giờ khi vào thành đã ra lệnh cấm chém giết hay cướp của bừa bãi trong thành, tích cực thu phục lòng dân ở khu vực này. Kim Lăng lấy lại tên cũ "Kiến Khang" và tiếp tục là trung tâm kinh tế của Đại Tống trong vòng 300 năm nữa.

Khi loạn Tĩnh Khang khiến Bắc Tống diệt vong, Khang Vương Triệu Cấu đã chạy xuống Quy Đức đăng cơ rồi nhanh chóng tiến xuống Kiến Khang định đô. Khi quân Kim tiến xuống phía nam, tướng Đỗ Sung, một thuộc hạ của cố nguyên soái Tông Trạch đã dâng thành cho Hoàn Nhan Tông Bật làm quà xin hàng. Mất Kiến Khang đã khiến cho bộ tướng của Nhạc Phi bị chao đảo và khốn đốn, quân Tống cũng mất đi thành trì vững vàng nhất Giang Nam.

Tuy nhiên, vào năm Kiến Viêm thứ 4 Tống Cao Tông, Nhạc gia quân cùng Hàn gia quân hai ngã thủy lục tiến đánh giành lại hết đất Giang Nam từ tay quân Kim. Từ đây nhà Tống không dám định đô ở Kim Lăng mà lại đóng ở Lâm An.

Khi quân Nguyên đánh Nam Tống, thành Tương Dương thất thủ thì Kiến Khang cũng theo tay quân Nguyên. Nhà Nguyên cai trị không màng quan tâm tới phía Nam nên kinh tế dần kiệt quệ. Kim Lăng đã gần như hoang tàn mất đi phong độ đặc khu kinh tế của Giang Nam ngày nào.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Nam Kinh được phân chia thành 11 khu (区 qu):

Bản đồ Đơn vị hành chính Hán tự
Subdivisions of Nanjing-China.png
Nội thị
Huyền Vũ 玄武区
Tần Hoài 秦淮区
Kiến Nghiệp 建邺区
Cổ Lâu 鼓楼区
Vũ Hoa Đài 雨花台区
Thê Hà 栖霞区
Ngoại ô và nông thôn
Giang Ninh 江宁区
Phổ Khẩu 浦口区
Lục Hợp 六合区
Lật Thủy 溧水区
Cao Thuần 高淳区

Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Nam Kinh có 15 thành phố kết nghĩa: