Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
中华人民共和国 (tiếng Trung)
中華人民共和國 (Chữ Hán phồn thể)
Flag of the People's Republic of China.svg National Emblem of the People's Republic of China.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Trung Quốc
Quốc ca
Nghĩa dũng quân tiến hành khúc (义勇军进行曲)
Hành chính
Chính phủ Cộng sản một đảng
Tổng Bí thư Tập Cận Bình
Chủ tịch nước Tập Cận Bình
Thủ tướng Quốc Vụ Viện Lý Khắc Cường
Uỷ viên trưởng UBTV ĐHĐBNDTQ Trương Đức Giang
Chủ tịch Chính hiệp Du Chính Thanh
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Trung¹
Thủ đô Bắc Kinh
36°55′B, 116°23′Đ
Thành phố lớn nhất Thượng Hải
Địa lý
Diện tích 9.596.960 km² (hạng 4)
Diện tích nước 2,8% %
Múi giờ UTC+8
Lịch sử
Ngày 1 tháng 10, 1949 Tuyên bố
Dân số (2012) 1.343.239.923[1] người
Mật độ 139,6 người/km² (hạng 71)
Kinh tế
GDP (PPP) (2013) Tổng số: 14.9614 tỷ Đô la Mỹ (hạng 2)
Bình quân đầu người: 10.253 đô la Mỹ (hạng 92)
GDP (danh nghĩa) (2013) Tổng số: 9.3253 tỉ Đô la Mỹ (hạng 2)
Bình quân đầu người: 6.853 Đô la Mỹ (hạng 83)
HDI (2012) 0,699 trung bình (hạng 101)
Đơn vị tiền tệ Nhân dân tệ (CNY)
Thông tin khác
Tên miền Internet .cn ² .中國, .中国

¹ Tiếng Phổ Thông là chuẩn chính thức về ngôn ngữ nói, ngoại trừ Hồng KôngMa Cao nói tiếng Quảng Đông. Tiếng Hoa cũng là ngôn ngữ chính thức bên cạnh tiếng Anh ở Hồng Kông và tiếng Bồ Đào Nha ở Ma Cao. Ở một số vùng thiểu số, tiếng Hoa ở mức độ nào đấy cùng là ngôn ngữ chính thức bên cạnh nhiều ngôn ngữ địa phương như tiếng Duy Ngô Nhĩ, Mông Cổ, và Tây Tạng.
² Chỉ tính Trung Quốc lục địa, không tính Hồng Kông, Ma Cao, và Đài Loan.

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (giản thể: 中华人民共和国, phồn thể: 中華人民共和國; bính âm: Zhōnghuá Rénmín Gònghéguó, ; Hán-Việt: Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc; từ dưới sẽ viết tắt là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), được gọi tắt là Trung Quốc (中国), là một quốc gia ở khu vực Đông Á. Đây là nước đông dân nhất trên thế giới với hơn 1,3 tỷ người, phần nhiều thuộc sắc tộc Hán. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo dưới chế độ một chính trị một đảng [2]. Đơn vị hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gồm 22 tỉnh, năm khu tự trị, bốn thành phố trực thuộc trung ương (Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải, Trùng Khánh) và hai đặc khu hành chính[3] (Hồng KôngMa Cao). Ngoài ra Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng tuyên bố Đài Loan, hiện do Trung Hoa Dân Quốc kiểm soát là tỉnh thứ 23. Thủ đô của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Bắc Kinh.

Với diện tích 9.6 triệu km², Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là quốc gia lớn thứ ba hoặc thứ tư thế giới về tổng diện tích[4] và lớn thứ hai về diện tích đất.[5]. Đây là quốc gia có địa hình đa dạng với cao nguyên và sa mạc ở khu vực phía bắc gần Mông CổSiberi của Nga, rừng cận nhiệt đới ở miền nam gần Việt Nam, Lào, Myanma. Địa hình ở phía tây gồ ghề với các dãy núi cao HimalayaThiên Sơn hình thành biên giới tự nhiên với Ấn Độ và các quốc gia thuộc khu vực Trung Á. Ngược lại, phía đông là vùng đồng bằng thấp và có 14.500 km chiều dài bờ biển. Các biển tiếp giáp với Trung Quốc là Bột Hải, Hoàng Hải, biển Hoa Đôngbiển Đông

Nền văn minh Trung Hoa cổ đại - là một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới - phát triển rực rỡ trên lưu vực Hoàng Hà chảy qua Đồng bằng Hoa Bắc[6]. Trong hơn 4000 năm, hệ thống chính trị Trung Quốc dựa trên chế độ quân chủ cha truyền con nối. Triều đại đầu tiên là Nhà Hạ (khoảng năm 2000 trước CN) và sau đó Nhà Tần thống nhất Trung Quốc năm 221 trước CN. Triều đại cuối cùng là Nhà Thanh kết thúc năm 1911 với sự thành lập của Trung Hoa Dân Quốc bởi Quốc Dân Đảng. Nửa đầu của thế kỷ 20 chứng kiến Trung Quốc chìm trong cuộc nội chiến phân chia quốc gia theo hai đảng phái chính trị - Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng Sản. Cuộc chiến chấm dứt năm 1949 sau khi Đảng Cộng Sản giành chiến thắng và thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở đại lục. Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc phải rút ra đảo Đài Loan với chủ quyền giới hạn gồm Đài Loan và vài hòn đảo ngoài khơi. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa liên tục đòi chủ quyền lãnh thổ đối với Đài Loan (cùng với quần đảo Bành Hồ, Kim Môn và quần đảo Mã Tổ), hiện do chính quyền Trung Hoa Dân Quốc quản lý. Thuật ngữ "Trung Quốc Đại lục" hay "Hoa Lục" thường dùng để chỉ lãnh thổ dưới sự quản lý của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (thường không tính hai đặc khu hành chính Hồng KôngMa Cao).

Từ khi tiến hành đổi mới kinh tế năm 1978, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã trở thành nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới,[7] với tốc độ phát triển thần kỳ trung bình 10% trong vòng ba thập kỷ liên tiếp và trở thành quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới cũng như là quốc gia nhập khẩu đứng thứ hai thế giới.

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một cường quốc và là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới theo GDP danh nghĩa (thứ hai theo PPP) và là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, cũng như thành viên của các tổ chức quốc tế như WTO, APEC, G-20Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Trung Quốc là quốc gia được công nhận có sở hữu vũ khí hạt nhân và là quốc gia có quân đội chính quy lớn nhất thế giới. Trung Quốc được nhiều học giả[8], nhà phân tích quân sự[9], nhà phân tích kinh tế[10] đánh giá là một siêu cường tiềm năng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Thế chiến thứ hai, nội chiến xảy ra giữa Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc Quốc dân đảngĐảng Cộng Sản và chấm dứt vào năm 1949 với kết quả là Quốc Dân đảng mất đại lục Trung Quốc (cả đảo Hải Nam) vào phe Cộng sản, chỉ còn quản lý Đài Loan cùng một số đảo ngoài khơi xa của Phúc Kiến. Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo thể chế nhà nước cộng sản tại đại lục.Dưới thời Mao Trạch Đông, chủ quyền và tính thống nhất của Trung Quốc lần đầu tiên sau hàng thập kỷ đã được bảo đảm, và đã có sự phát triển về mặt cơ sở hạ tầng, công nghiệp, y tế, và giáo dục.Tất cả điều này đã giúp nâng cao tiêu chuẩn dân sinh cho đại bộ phận người dân Trung Quốc. Họ cũng tin tưởng rằng những phong trào như Đại nhảy vọtCách mạng Văn hóa đã tác động tích cực đến sự phát triển của Trung Quốc và làm trong sạch nền văn hóa.

Tuy nhiên vào thời kỳ đầu Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã có một số sai lầm như Đại nhảy vọt, Cách mạng Văn hóa và Trăm hoa đua nở, gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế, đồng thời phá hoại nghiêm trọng di sản văn hóa Trung Hoa. Đặc biệt từ khi có phong trào Đại nhảy vọt đã xảy ra một nạn đói khủng khiếp ở Trung Quốc. Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc đã bầu Lưu Thiếu Kỳ làm chủ tịch nước, khởi xướng cải cách kinh tế.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Địa lý Trung Quốc
Địa lý Trung Quốc
Lượng mưa trung bình hằng năm tại Trung Quốc

Hiện nay, Trung Quốc có đường biên giới giáp 14 quốc gia khác ở châu Á. phía bắc giáp Mông Cổ, Nga; phía tây giáp Afghanistan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan; phía nam giáp Nepal, Bhutan, Myanma, Ấn Độ, Lào, Việt Nam; phía đông giáp Bắc Triều TiênBiển Hoa Đông. Hiện nay, có thể coi rằng Trung Quốc là nước có đường biên giới tương đối dài trên thế giới. Ngày 12 tháng 1 năm 2011, Quốc hội Tajikistan đã bỏ phiếu đồng ý trao 1,000 km vuông (386,1 dặm vuông) lãnh thổ cho Trung Quốc, chấm dứt cuộc tranh chấp kéo dài nhiều thế kỷ giữa hai nước.[11]

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là nước lớn thứ tư trên thế giới và có rất nhiều dạng khí hậu và địa dư khác nhau. phía đông, dọc theo bờ biển Hoàng HảiĐông Hải là các bình nguyên phù sa với mật độ dân cư rất dày đặc; dọc theo bờ Biển Đông (Trung Quốc gọi là Nam Hải) có nhiều núi non và miền nam đặc trưng bởi đồi và các dãy núi thấp. Trong vùng trung tâm của phía đông là các châu thổ của hai con sông chính Hoàng HàTrường Giang. Những con sông lớn khác gồm có Tây Giang, Lan Thương Giang (Mê Công), BrahmaputraHắc Long Giang.

phía tây phần lớn là các dãy núi, đáng lưu ý nhất là dãy Hy Mã Lạp Sơn với đỉnh cao nhất của Trung Hoa cũng như của thế giới là đỉnh Everest, và các cao nguyên ở vị trí cao mà có đặc tính khô cằn của sa mạc như TaklamakanGobi. Do hạn hán kéo dài và có lẽ kỹ thuật canh tác nông nghiệp nghèo nàn, các cơn bão cát thường xuyên xảy ra vào mùa xuân ở Trung Quốc. Theo cơ quan Bảo vệ môi trường Trung Quốc, sa mạc Gobi đang mở rộng và trở thành khởi nguồn của những cơn bão cát ảnh hưởng đến Trung Quốc và các khu vực khác ở Đông Bắc Á như Đài Loan, Triều TiênNhật. Cát bụi từ đồng bằng phía bắc Trung Quốc còn tìm thấy ở Bờ Tây nước Mỹ. Việc vứt chất thải sinh hoạt cũng như chất thải công nghiệp bừa bãi vào các con sông, việc sử dụng tài nguyên nước không hiệu quả cho tưới tiêu và tiêu dùng, việc xây dựng nhiều đập chứa nước, cũng như vấn đề sói mòn đất đai đang trở thành mối quan ngại trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng.

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949 tại Quảng trường Thiên An Môn

Theo thuật ngữ kỹ thuật của khoa học chính trị, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được nhiều người coi là một nhà nước cộng sản trong gần như suốt thế kỷ thứ 20, thế nhưng nhiều nhà khoa học chính trị lại không coi đơn giản như vậy. Mọi cố gắng để lột tả một cách đơn giản bản chất của cấu trúc chính trị của Trung Quốc đều không đạt được kết quả. Chế độ này có nhiều cách miêu tả với tính chất như độc tài, cộng sản, hay xã hội, hay thậm chí bằng kết hợp của các tính chất trên. Còn một số người cộng sản thiên tả thì gọi nó là tư bản nhà nước.

Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Trong khi có một vài xu hướng cho tự do chính trị, ở chỗ các cuộc bầu cử được tiến hành ở cấp làng xã và các cơ quan lập pháp đôi khi còn quyết đoán và Đảng vẫn giữ kiểm soát trong việc chỉ định các các chức vụ trong chính quyền. Trong khi đó, nhà nước dùng các phương pháp độc quyền để ứng xử với các thách thức đối với sự thống trị của nó, đồng thời, lại tìm cách hạn chế những bất đồng (chính kiến) bằng cách nâng cao nền kinh tế, cho phép người dân biểu lộ những bất bình, và có các đối đãi khoan dung với những người biểu thị sự bất đồng, nếu như họ được chính quyền tin là không có các tổ chức đứng sau.

Các phương tiện truyền thông dần dà chủ động tăng cường việc công khai hóa các vấn đề xã hội, tệ nạn tham nhũng, và sự thiếu hiệu quả của chính quyền cấp dưới. Đảng cũng đã không thành công lắm trong việc kiểm soát thông tin, và trong nhiều trường hợp phải thay đổi chính sách cho phù hợp với những phản ứng của quần chúng. Mặc dù sự chống đối có tổ chức không được dung tha, các cuộc biểu tình liên quan đến các vấn đề ở cấp địa phương diễn ra ngày càng phổ biến và được chấp nhận. Hiện chưa có thông tin rõ ràng về mức độ ủng hộ của dân chúng đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc, vì chưa có tuyển cử quốc gia đúng nghĩa, cũng như các đối thoại riêng tư, các tin đồn thường thể hiện những quan điểm mâu thuẫn. Nhiều người hài lòng về vai trò của chính quyền trong việc giữ ổn định xã hội tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế liên tục. Những lo ngại chính trị tại Trung Quốc hiện bao gồm khoảng cách giàu và nghèo ngày càng lớn, và ngày càng nhiều bất đồng đối với sự lan tràn của tham nhũng trong giới lãnh đạo và cán bộ các cấp.

Tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hiện còn có một số đảng phái khác, mặc dù chúng thường được coi như gắn với hoặc như một bộ phận trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đảng Cộng sản Trung Quốc phối hợp với các đảng này thông qua một hội nghị hiệp thương đặc biệt, gọi là Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Mặc dù vậy, hiệu quả các đảng phái này trong chính quyền còn rất yếu. Với vai trò cố vấn không có quyền lực, Hội nghị Hiệp thương Chính trị giống như một con mắt bên ngoài, mặc dù có các viên chức của hội đồng này hầu hết là nằm trong các bộ ngành của chính quyền.

Quan hệ ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quan hệ ngoại giao với hầu hết các nước trên thế giới, và yêu cầu công nhận Đài Loan là một phần không thể tách khỏi của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng như không có quan hệ chính thức với Trung Hoa Dân Quốc là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Chính quyền Trung Quốc cũng cực lực phản đối các chuyến công du nước ngoài của những lãnh đạo chính trị Đài Loan như Lý Đăng HuyTrần Thủy Biển, cũng như Đạt-lai Lạt-ma thứ 14.

Từ 1971, trong giai đoạn chuẩn bị cho Chuyến thăm Trung Hoa của Richard Nixon năm 1972, phía Mỹ đã ủng hộ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thay thế Trung Hoa Dân Quốc trong vai trò đại diện duy nhất của nước "Trung Quốc" tại Liên Hiệp Quốc và trở thành một trong năm thành viên của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. (Xem Trung Hoa và Liên Hiệp Quốc).

Đã có một thời gian Trung Quốc có quan hệ thân thiện với Phong trào không liên kết, và hiện tại chỉ ở vị trí quan sát viên. Phần lớn các chính sách ngoại giao của Trung Quốc hiện nay dựa trên khái niệm Sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc.

Quan hệ Hoa-Mỹ đã gặp trở ngại nhiều lần trong một vài thập niên. Sau chiến thắng của phe Cộng sản trên toàn bộ Hoa lục năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới được thành lập không mấy thân thiện với Mỹ. Mao Trạch Đông trong tháng 6/1946 đã ra lệnh thực hiện chiến dịch bài Mỹ. Lực lượng của Mao đã sách nhiễu người Mỹ ở Trung Quốc. Một nhà ngoại giao Mỹ đã bị cảnh sát của Mao ở Thượng Hải đánh đập. Tổng lãnh sự Mỹ ở Thẩm Dương cũng bị quản thúc trong một năm liền và tháng 10/1950 khi quân cộng sản Trung Quốc can thiệp vào Chiến tranh Triều Tiên, chống lại các lực lượng của Liên Hợp Quốc do Mỹ lãnh đạo khi lực lượng này đang cố gắng đẩy lui cuộc xâm lăng miền Nam của quân Bắc Triều Tiên do Kim Nhật Thành chỉ huy thì Quan hệ Ngoại giao giữa 2 nước chấm dứt. Năm 1972, quan hệ này mới được khôi phục sau Chuyến thăm Trung Hoa của Richard Nixon

Tháng 5 năm 1999, một máy bay tàng hình B-2 đã thả ba trái bom loại 900 kg, có vệ tinh nhân tạo hướng dẫn, vào ngay đại sứ quán của Trung Quốc ở Belgrade trong thời gian chiến tranh Kosovo, làm chết ba nhân viên. Hoa Kỳ đã nhấn mạnh rằng đó là một nhầm lẫn không chủ ý, cho rằng tài liệu dùng trong việc lựa chọn tòa nhà làm mục tiêu tấn công đã dựa trên bản đồ quá cũ được in ra bởi Cơ quan Ảnh và Bản đồ Quốc gia (tên mới của nó là Cơ quan Tình báo Địa dư Quốc gia. Họ đã nhận lầm toà nhà này là một cơ quan quân sự của chính quyền Nam Tư. Mặc dù Mỹ đã gửi đại diện ngoại giao đặc biệt tới Trung Quốc để giải thích sự nhầm lẫn, nhưng chính quyền Trung Quốc vẫn cho đó là hành động có chủ ý. Tháng 4 năm 2001, một máy bay nhận dạng tín hiệu EP-3E Aries II của Mỹ hoạt động tình báo gần đảo Hải Nam đã đụng độ với một chiếc máy bay chiến đấu của Trung Quốc đang theo dõi nó. Chiếc phản lực Trung Quốc bị hỏng nát và viên phi công bị chết. Còn chiếc máy bay của Mỹ bị hư hại buộc phải đáp khẩn cấp xuống đảo Hải Nam, tại đó, 24 thành viên phi hành đoàn Mỹ đã bị bắt giữ 12 ngày và các thiết bị dò thám đã bị tịch thu. Báo cáo Cox năm 1999 tiết lộ rằng các bí mật về hạt nhân của Mỹ bị Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hoạt động gián điệp đánh cắp trong nhiều thập niên.

Sau nhiều thập niên cải cách, việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc đã có nhiều thay đổi. Từ chủ trương dùng vũ lực hoặc hăm dọa dùng vũ lực để giải quyết vấn đề như đưa quân kiểm soát một phần và toàn bộ quần đảo Hoàng Sa thập kỷ 50 và 70, chiếm đóng một phần quần đảo Trường Sa từ thập kỷ 80, đe dọa thống nhất Đài Loan bằng mọi biện pháp nếu Đài Loan tuyên bố độc lập, đưa tàu ngầm vào lãnh hải Nhật Bản, ra nhiều tuyên bố về chủ quyền các đảo và vùng biển tranh chấp với Nhật Bản, đơn phương khai thác tài nguyên vùng biển chồng lấn, từ chỗ bị nhiều người cho là nhân tố gây bất ổn ở eo biển Đài Loan, biển Hoa Đôngbiển Nam Trung Hoa, Trung Quốc đã thay đổi chủ trương giải quyết bất đồng thông qua đàm phán và thương lượng, cùng gạt qua bất đồng chủ quyền để hợp tác khảo sát và khai thác tài nguyên biển, cũng như các hoạt động ngoại giao thiện chí với Ấn độ và Pakistan. Trung Quốc hiện nay tỏ rõ quyết tâm về "sự trỗi dậy trong hòa bình của Trung Quốc".

Ngoài vấn đề Đài Loan, Trung Quốc đã có những tranh chấp khác về lãnh thổ như:

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa duy trì một lực lượng quân đội lớn nhất thế giới, tuy nhiên theo nhiều chuyên gia, số lượng không phải là cơ sở để đánh giá sức mạnh của một quân đội. Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc bao gồm lục quân, không quânhải quân. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2005 theo như công bố chính thức là 30 tỷ đô la Mỹ, chưa kể chi tiêu cho việc mua vũ khí từ nước ngoài, ngân sách cho các nghiên cứu trong quân sự, cũng như chi phí cho các lực lượng bán quân sự (Vũ Cảnh). Nghiên cứu gần đây nhất của RAND ước tính tổng chi phí cho quân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là gấp khoảng 1,4 đến 1,7 lần con số chính thức.

Như vậy theo ước lượng này thì ngân sách của Trung Quốc chi tiêu cho quân sự vào khoảng 56 tỷ đô la Mỹ, đứng thứ ba trên thế giới chỉ sau Mỹ (khoảng 400 tỷ đô la) và Nga. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, mặc dù sở hữu vũ khí hạt nhân và hệ thống đẩy, được trong cũng như ngoài Trung Quốc đánh giá là khả năng quân sự hạn chế trong trường hợp có xung đột bên ngoài biên giới, và thường không được coi là siêu cường quốc tế thực sự mà chỉ là cường quốc tương đối trong khu vực. Nguyên nhân là vì hải quân và không quân thiếu các trang bị và vũ khí quy mô, hiện đại. Tuy nhiên, gần đây Trung Quốc đã có chiếc tàu sân bay đầu tiên - Liêu Ninh. Trung Quốc cũng đã đóng mới nhiều tàu ngầm hạt nhân, mua một số tàu ngầm diesel - điện hiện đại lớp Kilo của Nga. Trung Quốc cũng đã mua một số máy bay tiêm kích đa năng hiện đại Sukhoi Su-30 của Nga và đang tự nghiên cứu chế tạo tiêm kích thế hệ 5 Tiêm 20.

Quân đội Trung Quốc tăng cường vũ trang cho các lực lượng của mình trong trường hợp có đụng độ với Mỹ tại Đài Loan. Chứng kiến hiệu quả của không quân Mỹ tại Iraq nên quân đội Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tích cực hiện đại hóa lực lượng không quân của mình. Không quân được sắm các tên lửa đất đối không cực kỳ hiện đại S-300, được coi là thiết bị ngăn chặn máy bay hiện đại nhất thế giới hiện nay. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng nhanh chóng cải tiến và nâng cấp các lực lượng quân sự bằng cách nâng cao các năng lực điện tử và nhắm mục tiêu của chúng. Tuy nhiên hình ảnh quốc tế của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã bị ảnh hưởng trong sự kiện Thiên An Môn vào tháng 6 năm 1989.

Phân chia hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Các đơn vị hành chính cấp tỉnh của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Toàn Trung Quốc có tất cả 34 đơn vị hành chính. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kiểm soát hơn 22 tỉnh (省); chính quyền Trung Quốc xem Đài Loan như là tỉnh thứ 23 của họ. (Xem Tình trạng chính trị của Đài Loan). Cùng với các tỉnh này Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng quản lý 5 khu tự trị (自治区) tập trung các sắc dân thiểu số, 4 thành phố trực thuộc trung ương (直辖市) là những thành phố lớn nhất của Trung Quốc và hai đặc khu hành chính (Ma CaoHồng Kông) (ĐKHC) (特别行政区). Toàn bộ 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành phố lớn nhất thường được gọi chung như Đại lục Trung Quốc, thuật ngữ này thường không tính Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan.

Một góc thủ đô Bắc Kinh.
Toàn cảnh thành phố Thượng Hải.

Sau đây là danh sách các đơn vị hành chính do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quản lý:

Tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Tên tiếng Trung Tỉnh Tên tiếng Trung Tỉnh Tên tiếng Trung Tỉnh Tên tiếng Trung Tỉnh Tên tiếng Trung
An Huy (安徽) Giang Tô (江苏) Hắc Long Giang (黑龙江) Phúc Kiến (福建) Sơn Tây (山西)
Cam Túc (甘肃) Hà Bắc (河北) Hồ Bắc (湖北) Quảng Đông (广东) Thanh Hải (青海)
Cát Lâm (吉林) Hà Nam (河南) Hồ Nam (湖南) Quý Châu (贵州) Thiểm Tây (陕西)
Giang Tây (江西) Hải Nam (海南) Liêu Ninh (辽宁) Sơn Đông (山东) Tứ Xuyên (四川)
Triết Giang (浙江) Vân Nam (云南)

Khu tự trị[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố trực thuộc trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

Đặc khu hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đòi chủ quyền, Trung Hoa Dân Quốc quản lý[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Những tòa nhà chọc trời ở Thượng Hải, biểu tượng của thần kỳ kinh tế Trung Quốc

Tính đến năm 2012, Trung Quốc đã là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới về GDP danh nghĩa. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc năm 2011 đạt 7.298 nghìn tỉ đô la Mỹ, GDP bình quân đầu người đạt 5.417 đô la Mỹ, bằng khoảng 1/9 GDP bình quân đầu người của Mỹ (48.328 USD) và cao gấp 4 lần GDP bình quân đầu người của Việt Nam (1.374 USD). Nếu tính theo sức mua tương đương, GDP của Trung Quốc đạt 11.299 nghìn tỉ đô la Mỹ, GDP đầu người tương đương là 8.382 đô la Mỹ.

Đảng Cộng sản Trung Quốc gọi nền kinh tế của Trung Quốc là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc (具有中国特色的社会主义市场经济). Bắt đầu từ cuối năm 1978 các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tiến hành cải tổ nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô viết sang nền kinh tế hướng thị trường hơn nhưng vẫn trong khuôn khổ kiểm soát của Đảng. Theo mục tiêu này, chính quyền đã chuyển sang cơ chế khoán trong nông nghiệp thay cho hình thức hợp tác xã, tăng quyền hành đối với cán bộ địa phương và lãnh đạo các nhà máy trong công nghiệp, cho phép hoạt động đối với một loạt các doanh nghiệp cỡ nhỏ trong các ngành dịch vụ và sản xuất nhỏ, và mở cửa nền kinh tế cho ngoại thương và đầu tư nước ngoài. Các chính sách kiểm soát giá cả cũng được nới lỏng. Kết quả là nền kinh tế Hoa Lục đã chuyển từ một nền kinh tế mệnh lệnh sang hình thức kinh tế hỗn hợp, dung hòa cả khuynh hướng tư sản lẫn vô sản.

Chính phủ không còn nhấn mạnh đến sự công bằng mà chú trọng việc tăng thu nhập cũng như sức tiêu thụ cá nhân đồng thời áp dụng những hệ thống quản lý mới để tăng năng suất. Chính phủ cũng tập trung vào ngoại thương như một động cơ chính cho tăng trưởng kinh tế, theo đó 5 đặc khu kinh tế (ĐKKT) đã được thành lập với luật lệ đầu tư được nới lỏng để thu hút vốn nước ngoài. Kết quả là từ năm 1978, nền kinh tế của Trung Quốc đã tăng trường gần 100 lần[13] và là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới.[14] Theo IMF, tốc độ trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc từ 2001 đến 2010 là 10,5% và nền kinh tế Trung Quốc được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng ở con số ấn tượng 9,5% từ 2011 đến 2015. Từ năm 2007 đến 2011, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc ngang bằng tốc độ tăng trưởng của tất cả các quốc gia trong nhóm G7 gộp lại.[15]

Trung Quốc là quốc gia có lượng khách du lịch quốc tế đứng thứ ba trên thế giới, 55,7 triệu du khách quốc tế đã tới thăm nước này trong năm 2010.[16] Đây cũng là quốc gia có tốc độ tăng trưởng du lịch nội địa cao chóng mặt, chỉ riêng trong tháng 10/2012 đã có 740 triệu người Trung Quốc đi du lịch trong nước.[17] Trung Quốc là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và là cường quốc thương mại đứng thứ hai thế giới sau Mỹ, tổng giá trị thương mại quốc tế đạt 3,64 nghìn tỷ đô la Mỹ năm 2011.[18] Dự trữ ngoại hối đạt 2,85 nghìn tỷ vào cuối năm 2010, tăng 18,7% so với năm trước đó, biến Trung Quốc trở thành nước có lượng dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới.[19][20] Trung Quốc nắm giữ 1,16 nghìn tỷ đô la trái phiếu chính phủ Mỹ[21] và trở thành chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ.[22][23] Trung Quốc là nước nhận được lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn thứ ba trên thế giới, quốc gia này đã thu hút 115 tỉ đô la Mỹ chỉ riêng trong năm 2011, tăng 9% so với năm 2010.[24][25] Số vốn FDI của Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài cũng ngày càng gia tăng, tổng số vốn FDI ra nước ngoài năm 2010 là 68 tỉ đô la Mỹ.[26]

Thành công của Trung Quốc đạt được là nhờ sự phát triển vượt bậc của lĩnh vực sản xuất. Sự phát triển của kinh tế Trung Quốc là nhờ sự kết hợp của nhiều yếu tố như giá lao động rẻ, cơ sở hạ tầng tốt, năng suất lao động cao, khả năng quản lý kinh tế tốt, chính sách kinh tế ưu đãi và thuận lợi, và một đồng nội tệ được hạ thấp so với giá trị thực nhằm tằng sức cạnh tranh của hàng hóa Trung Quốc trên thị trường xuất khẩu. Việc định giá thấp đồng tiền giúp Trung Quốc có được thặng dư thương mại kỷ lục 262,7 tỉ đô la Mỹ năm 2007[27] và đây cũng là vấn đề gây tranh cãi giữa Trung Quốc và các đối tác thương mại lớn là Mỹ, EU và Nhật Bản.[28]

Mặc dù nhà nước vẫn nắm giữ các ngành công nghiệp chủ chốt (như năng lượng và công nghiệp nặng), nhưng các doanh nghiệp tư nhân đã phát triển với tốc độ chóng mặt, năm 2005, khối doanh nghiệp tư nhân đóng góp 33%[29] đến 70%[30] GDP quốc gia, trong khi OECD dự đoán con số này là 50%[31]. Thị trường Chứng khoán Thượng Hải có số lượng IPO đạt mức kỷ lục và Chỉ số Tổng hợp Thượng Hải đã tăng gấp đôi kể từ năm 2005. Giá trị vốn hóa thị trường của SSE đạt 3 nghìn tỉ đô la Mỹ năm 2007, trở thành thị trường chứng khoán lớn thứ năm trên thế giới.

Trung Quốc xếp thứ 29 về Chỉ số Cạnh tranh Toàn cầu[32] nhưng chỉ đứng thứ 135 về Chỉ số Tự do Kinh tế.[33] Năm 2011, 61 công ty Trung Quốc lọt vào danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới Fortune Global 500.[34] Nếu tính theo doanh thu, ba trong số mười công ty có giá trị lớn nhất thế giới là của Trung Quốc, bao gồm tập đoàn Trung Quốc Thạch Hóa (Sinopec), Trung Quốc Thạch Du (CNOOC), Quốc gia Điện Cương (State Grid).[34]

Tầng lớp trung lưu của Trung Quốc (những người có thu nhập từ mức 17.000 USD trở lên) đạt trên 100 triệu người vào năm 2011,[35] trong khi đó những người siêu giàu với tài sản khoảng 1,5 triệu USD ước đạt 825.000 người.[36] Theo báo cáo của Hurun, số tỉ phủ của Trung Quốc đã tăng gấp đôi từ 130 người năm 2009 lên 271 người năm 2010, giúp Trung Quốc trở thành nước có số tỉ phủ lớn thứ hai trên thế giới.[37] Thị trường bán lẻ của Trung Quốc có giá trị 1.302 nghìn tỉ đô la Mỹ năm 2007 và tăng trưởng hàng năm ở mức 16,8%.[38] Trung Quốc hiện cũng là thị trường tiêu thụ hàng xa xỉ lớn thứ hai trên thế giới chỉ sau Nhật Bản, chiếm 27,5% thị phần toàn cầu.[39]

Nền kinh tế của Trung Quốc tiêu tốn rất nhiều điện năng và việc tiêu thụ điện năng ở quốc gia này cũng chưa đạt hiệu quả về mặt tiết kiệm, sản xuất công nghiệp ở Trung Quốc sử dụng điện năng nhiều hơn các nước trong OECD từ 20% đến 100%.[40] Trung Quốc trở thành nước tiêu thụ điện lớn nhất thế giới vào năm 2010,[41] nhưng 70% nhu cầu điện năng vẫn phụ thuộc vào than.[42] Cộng với chính sách lỏng lẻo về môi trường, điều này đã dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng nước và bầu không khí, khiến 20 trong tổng số 30 thành phố ô nhiễm nhất thế giới là của Trung Quốc.[40] Chính phủ đã cam kết sử dụng nhiều hơn năng lượng tái tạo. Vào năm 2010, Trung Quốc trở thành nhà cung cấp điện gió lớn nhất thế giới, với tổng sản lượng điện gió được lắp đặt là 41,8 GW.[43]

Trung Quốc từ lâu đã được coi là đế chế hàng giả khổng lồ nhất toàn cầu khi theo một thống kê, gần 90% số hàng giả, hàng nhái trên thế giới có nguồn gốc từ đây. Như tại Quảng Châu, Trung Quốc, nơi được mệnh danh là "Thiên đường của hàng fake", những nhãn hàng thời trang từ bình dân tới cao cấp được nhái lại, bày bán công khai với giá rẻ nếu bạn mua lẻ và giá rất rẻ nếu bạn mua sỉ. Thậm chí đáng ngạc nhiên hơn, nhiều xưởng sản xuất hàng nhái tại Trung Quốc còn có tuyệt chiêu làm giả sản phẩm chỉ dựa trên… hình ảnh của hàng hóa trên các tạp chí thời trang hoặc qua mạng internet[44]. Văn phòng xóa đói giảm nghèo của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã thống kê có 98,99 triệu người nghèo khổ đang sống ở vùng nông thôn[45] và khoảng cách giàu nghèo ở đây đã lên đến mức đáng báo động tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn xã hội[46].

Một vấn đề nữa mà Trung Quốc phải giải quyết là chênh lệch phát triển giữa khu vực ven biển giàu có với khu vực phía tây còn tương đối nghèo. Để giải bài toán bất ổn định này, chính phủ Trung Quốc đã đề ra các sáng kiến chiến lược Phát triển miền tây Trung Quốc (2000), sáng kiến Hồi sinh miền đông bắc Trung Quốc (2003), và chính sách Sự vươn lên của miền trung Trung Quốc (2004), tất cả đều nhắm đến việc giúp khu vực bên trong Trung Quốc theo kịp.

Con người[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc là quốc gia đa dân tộc với 56 dân tộc được chính thức công nhận. Trung Quốc là nước có dân số lớn nhất thế giới khoảng 1,3 tỉ người. Dân tộc chủ yếu là người Hán chiếm tới 93% số dân cả nước và là dân tộc chính trên một nửa diện tích Trung Quốc. Ngay người Hán cũng là một dân tộc tương đối không đồng nhất về mặt chủng tộc, có thể coi như là sự kết hợp giữa nhiều nhóm dân tộc khác nhau cùng chia sẻ những đặc điểm văn hóa và ngôn ngữ chung. Người Kinh (người Việt) tạo thành một nhóm nhỏ tập trung ở vùng ven biển Quảng Tây.

Là một nước đông dân, chính phủ có chính sách hạn chế phát triển dân số, chính sách này yêu cầu các gia đình ở các vùng đô thị (ngoại trừ các dân tộc "thiểu số" như Tây Tạng) chỉ nên có một con còn các hộ gia đình ở các vùng nông thôn có thể có hai con nếu con đầu là gái. Do ở các vùng nông thôn, người con trai được coi có lợi về mặt kinh tế hơn cộng với yếu tố văn hóa, tâm lý truyền thống của người Trung Quốc là chuộng con trai hơn, do vậy có vẻ như tỷ lệ phá thai chọn giới tínhvứt bỏ trẻ sơ sinh khá cao ở những vùng nông thôn. Đặc biệt chính sách này chỉ áp dụng đối với người Hán. Và ngày càng có nhiều viện cô nhi nuôi trẻ em bị bỏ rơi, và khoảng 98% những trẻ em này không có ai nhận làm con nuôi mà sống hẳn trong các viện này cho đến lúc trưởng thành. Trước tình hình đó, Trung Quốc đã mở một chương trình nhận con nuôi quốc tế nhưng hiện cũng chỉ đáp ứng được một tỷ lệ nhỏ những trẻ em này.

Kết quả là năm 2000 tỷ lệ giới tính của trẻ sơ sinh tại Trung Quốc là 177 bé trai so với 100 bé gái, cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ tự nhiên (106 trên 100). Mặc dù có thể giải thích bằng những nguyên nhân đề cập ở trên, có một nguyên nhân nữa cũng phải kể ra là do tỷ lệ mắc bệnh viêm gan cao ở người Trung Quốc (xem phần nói về sức khỏe cộng đồng dưới đây). Do vậy chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã cố gắng xử lý vấn đề này bằng cách đề cao hơn vai trò của người phụ nữ và lên án những trung tâm y tế và bác sỹ nào cho cha mẹ của đứa trẻ sắp sinh biết trước giới tính của nó. Sự bất cân đối trong tỷ lệ giới tính khiến cho khoảng 30-40 triệu đàn ông Trung Quốc không thể lấy vợ Trung Quốc được. Ngoài việc di cư gia tăng (hoặc có thể khiến tình trạng đa phu trở nên phổ biến), tình hình này cũng có thể làm gia tăng số lượng mại dâm, hoặc thậm chí có những trường hợp bắt cóc, mua bán phụ nữ từ nước ngoài hay từ các vùng quê hẻo lánh. Các vùng có mật độ dân cư đông nhất là: Đồng bằng Hoàng Hà, Trường Giang, Châu Giang và vùng đông bắc. Vùng miền núi phía tây gồm Tây Tạng, Tân Cương... dân cư thưa thớt.

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Một số vấn đề về sức khoẻ cộng đồng tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang trở nên trầm trọng: các vấn đề về sức khoẻ do ô nhiễm không khí và nước tiêu dùng, sự lan tràn của dịch bệnh AIDS cùng với hàng trăm triệu người hút thuốc lá. Bệnh dịch HIV, ngoài những đường lây nhiễm thông thường, đã trầm trọng hơn do việc tiếp nhận và truyền máu không hợp vệ sinh trong thời gian trước đây, chủ yếu tại các vùng nông thôn. Vấn đề thuốc lá khá phức tạp do chính phủ độc quyền và phụ thuộc vào nguồn thu trong ngành kinh doanh này nên dường như lưỡng lự khi xử lý vấn đề thuốc lá so với các vấn đề sức khỏe cộng đồng khác.

Viêm gan B là một bệnh dịch ở Đại lục Trung Quốc, với tỷ lệ dân chúng nhiễm bệnh nghiêm trọng vào khoảng 10%. Do đó bệnh hư gan hay ung thư gan là một nguyên nhân tử vong phổ biến ở Trung Quốc. Bệnh viêm gan cũng là một trong những nguyên nhân của việc mất cân đối giới tính tại Trung Quốc (Số trẻ sơ sinh nữ ít hơn. Xem bài viết bằng tiếng Anh Hepatitus B and the Case of the Missing Women). Một chương trình khởi động năm 2002 phấn đấu trong vòng 5 năm sẽ chủng ngừa cho toàn bộ số trẻ sơ sinh tại Trung Quốc.

Vào tháng 11 năm 2002, bệnh viêm phổi không điển hình SARS xuất hiện ở tỉnh Quảng Đông. Tuy nhiên, vào những giai đoạn đầu của dịch bệnh, Trung Quốc đã giấu nhẹm cả trong lẫn ngoài nước tin tức về bùng nổ ổ dịch nên đã để dịch bệnh lan tràn tới các khu vực và các nước xung quanh như Hồng Kông, Việt Nam và các nước khác qua bước chân của khách du lịch. Chỉ tính trong Trung Quốc đã có 5327 ca nhiễm và 348 trường hợp tử vong được thông báo chính thức, khiến Trung Quốc trở thành nước nhiễm SARS nhiều nhất tính đến thời điểm hiện nay. Ngày 19 tháng 5 năm 2004, Tổ chức Y tế Thế giới đã công nhận Trung Quốc không còn trường hợp nào nhiễm dịch bệnh này.

Một vấn đề nữa mà Trung Quốc phải đối mặt là các dịch bệnh cúm gia cầm bùng nổ trong những năm gần đây cho các loài gia cầm và chim chóc, cùng với một số người nhiễm. Loại virus này chủ yếu lây từ gia cầm sang người, tuy vậy mối lo ngại hiện nay theo các chuyên gia là dự báo loại virus gây ra dịch bệnh toàn cầu này có khả năng biến thể sang hình thức lây nhiễm từ người sang người. Một vấn đề nữa Trung Quốc cũng gặp phải là việc truyền vi khuẩn Streptococcus từ lợn sang người trong thời gian gần đây đã dẫn đến số tử vong cao bất thường tại tỉnh Tứ Xuyên và các vùng xung quanh.

Khoa học và kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành tựu thời cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc cổ đại đã đạt được rất nhiều thành tựu trong nghiên cứu khoa học và kỹ thuật. Trong số những thành tựu về khoa học của Trung Quốc cổ đại phải kể đến la bàn, thuốc súng, kỹ thuật làm giấykỹ thuật in ấn, được coi là tứ đại phát minh. Ngoài ra cũng còn nhiều phát minh trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Chương trình không gian của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày nay là thành tựu đáng kể, sử dụng và phối hợp nhiều tiến bộ khoa học và kỹ thuật tiên tiến.

Chương trình không gian[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Trung Quốc và Liên Xô cắt đứt quan hệ ngoại giao, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tiến hành phát triển riêng hệ thống đánh chặn có sử dụng vũ khí hạt nhân (có sức tàn phá lớn) và hệ thống đẩy đi kèm. Từ đó Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trở thành một trong năm nước sở hữu vũ khí hạt nhân; nhưng cho tới nay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là nước duy nhất không ký vào công ước không đánh đòn hạt nhân phủ đầu đối với các nước không có vũ khí hạt nhân nhằm răn đe Trung Hoa Dân Quốc. Chương trình phóng vệ tinh nhân tạo là một trong những thành quả của kế hoạch này. Năm 1970, Trung Quốc phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên của mình là Đông Phương Hồng I vào không gian. Thành tựu này đưa Trung Quốc trở thành quốc gia thứ năm tự phóng được vệ tinh nhân tạo. Nước này cũng có các kế hoạch để xây dựng chương trình tàu không gian có người lái cũng vào khoảng năm 1970, với dự án 714 và tàu không gian có người lái Thự Quang. Dự án này sau đó bị hủy bỏ vì một loạt những trục trặc chính trị và kinh tế.

Năm 1992, chương trình tàu không gian có người lái theo dự án 992 được triển khai. Vào ngày 19 tháng 11 năm 1999, tàu không gian không người lái Thần Châu 1 được phóng lên không gian coi như chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của chương trình. Sau ba lần thử nghiệm nữa, phi thuyền Thần Châu 5 được tên lửa Trường Chinh 2F phóng lên vào ngày 15 tháng 10 năm 2003, mang theo nhà du hành vũ trụ Dương Lợi Vỹ, đưa Trung Quốc thành nước thứ ba trên thế giới đưa được người vào không gian bằng khả năng của riêng mình. Lần phóng thứ hai tàu có người lái Thần Châu 6 vào ngày 12 tháng 10 năm 2005 với 2 nhà du hành vũ trụ Phí Tuấn Long và Nhiếp Hải Thắng cũng đã thành công. Nhiều chuyên gia cho rằng tàu không gian Thần Châu được phát triển từ thiết kế của tàu không gian Soyuz của Liên Xô, tuy nhiên nhiều người Trung Quốc phản đối điều này. Một tuần sau khi phóng tàu Thần Châu 5, một bài xã luận của Thời báo Ấn Độ nói là Trung Quốc chỉ thể hiện kết quả của một công nghệ cũ 40 năm. Tuy vậy, thành quả này của Trung Quốc có thể dấy lên một cuộc chạy đua vào không gian mới.

Quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa học và kỹ thuật trong Công nghiệp quốc phòng của Công hòa nhân dân Trung Hoa hầu hết được đặc nền móng khi Liên Xô đầu tư mạnh mẽ vào Trung Quốc vào những năm 1950. Và phần lớn các vũ khí quan trọng của Liên Xô đã được cấp giấy phép để sản xuất tại Trung Quốc. Cũng như Liên Xô đã giúp đỡ phát triển công nghệ hạt nhân và vũ khí nguyên tử tại Trung Quốc[47].

CHND Trung Hoa cũng đã có được một số công nghệ của Hoa Kỳ khi mối quan hệ giữa hai nước trở nên nồng ấm vào những năm 1970. Cũng như Trung Quốc bắt đầu sao chép những vũ khí mà mình mua được từ phương Tây nhưng không nhiều do các nước phương Tây thận trọng hơn trong vie54c mua bán vũ khí với Trung Quốc cũng như bị cấm vận vũ khí vào năm 1989[48].

Đến những năm 1990 thì Trung Quốc bắt đầu sao chép qui mô lớn các vũ khí hiện đại mua được từ Nga. Còn khi Nga từ chối bán các loại vũ khí của mình thì Trung Quốc chuyển sang mua của Ukraina vốn cũng sở hữu nhiều loại vũ khí hiện đại từ thời Liên Xô[49]. Hiện tại thì Trung Quốc đang tích cực sao chép các loại vũ khí của phương Tây mua được từ Israel[50].

Đã từng có thời, Nga hào phóng với Trung Quốc đến mức cung cấp miễn phí một lượng lớn vũ khí và công nghệ quân sự giúp cho ngành công nghiệp quốc phòng nước này có được một nền tảng cực kỳ quan trọng. Giới phân tích quân sự quốc tế khẳng định, Trung Quốc đã thu được những kết quả "khó tin" nhờ sự trợ giúp của Nga. Các nhà phân tích cho rằng, Bắc Kinh tin tưởng là bằng cách vi phạm bản quyền sản phẩm họ sẽ từng bước ngừng nhập khẩu vũ khí của Nga và tiến tới trở thành một nhà xuất khẩu lớn, đủ sức cạnh tranh với các cường quốc khác. Kể từ đó, Nga đã rất hạn chế bán thiết bị quân sự cho Trung Quốc mặc dù vẫn tiếp tục cung cấp động cơ máy bay. Thêm vào đó, mọi lời đề nghị sử dụng các nghiên cứu công nghệ cao từ phía Trung Quốc đều bị Nga từ chối thẳng thừng nhưng Nga lại sẵn lòng bán cho các đối thủ của Trung Quốc trong khu vực.[51].

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Văn hóa Trung Quốc

Các giá trị truyền thống của Trung Quốc đa phần bắt nguồn từ các tư tưởng chính thống của Nho giáo/chủ nghĩa bảo thủ, những tư tưởng này đã từng là nội dung giảng dạy chính trong trường học và được đưa vào một phần trong các kỳ thi tuyển quan chức cho chế độ phong kiến. Tuy nhiên, thuật ngữ Nho giáo hơi có vấn đề ở chỗ hệ tư tưởng đã từng đạt đến đỉnh cao vào thời Trung Quốc phong kiến nhà Thanh, thực ra là kết quả của nhiều khuynh hướng tư tưởng khác nhau, trong đó có Pháp gia, mà dưới nhiều khía cạnh bắt nguồn từ tư tưởng chính thống ban đầu của Nho gia; thực tế là khi chế độ phong kiến Trung Quốc đạt tới đỉnh cao thì những vấn đề như ý thức quyền lợi cá nhân, góp ý với chính quyền, và đòi hỏi những thay đổi cho cuộc sống càng bị những triết gia "chính thống" tìm cách ngăn cản, cho rằng Nho giáo là đồng nghĩa với sự quy phục và ổn định chính trị. Hiện nay, có những nhà Nho đương đại lại phản đối kiểu diễn giải đó và cho rằng những lý tưởng dân chủ và quyền con người hoàn toàn phù hợp với những "giá trị châu Á" Nho giáo cổ truyền.

Những nhà lãnh đạo đã cố gắng thay đổi xã hội Trung Hoa sau khi Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập vào năm 1949 đều là những người được đào tạo dưới xã hội cũ cùng với những dấu ấn giá trị của nó. Mặc dù đều là những người có ý thức cách mạng, họ không có ý định biến đổi hoàn toàn nền văn hóa Trung Hoa. Là những nhà quản lý thực dụng, lãnh đạo của Trung Quốc tìm cách thay đổi một số khía cạnh truyền thống như vấn đề sở hữu đất canh tác và vấn đề giáo dục, tuy vậy vẫn giữ những giá trị cũ như cơ cấu gia đình. Thực ra, nhiều người cho rằng thời kỳ cộng sản sau năm 1949 thực ra chỉ là sự nối tiếp lịch sử Trung Quốc truyền thống, chứ không phải là những gì thực sự cách mạng–quần chúng vẫn chấp nhận quan điểm phục tùng giai cấp lãnh đạo như xưa mà không hề phản đối. Chính quyền mới được coi như nắm giữ Thiên mệnh, giành quyền từ chế độ cũ và thiết lập triều đại mới. Cũng giống như thời phong kiến, người cai trị (Mao Trạch Đông) được tôn sùng và coi như không bao giờ mắc lỗi. Do vậy, thay đổi trong xã hội Trung Quốc không phải là toàn diện và nhất quán theo như phát ngôn chính thức.

Trong thời kỳ Cách mạng văn hóa do Hồng vệ binh tiến hành, nhiều khía cạnh của văn hóa truyền thống Trung Quốc như nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ, bị chế độ coi là "tàn dư của chế độ phong kiến", là độc hại và đi lùi so với thời đại nên đã bị xóa bỏ khá nhiều. Trung Quốc đã cải cách nhiều loại hình nghệ thuật, theo kiểu như "biến đổi" Kinh kịch để phù hợp với các khẩu hiệu tuyên truyền hiện thực xã hội chủ nghĩa. Theo thời gian, phần lớn văn hóa truyền thống Trung Quốc được người dân và chế độ chấp nhận là một phần của của xã hội Trung Quốc; thực tế là chính sách quốc gia của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thường tán dương đây là những thành tựu quan trọng của nền văn minh Trung Quốc, và nhấn mạnh chúng là những yếu tố quan trọng trong việc hình thành một bản sắc quốc gia Trung Quốc. Trong những năm gần đây, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cũng thường xuyên củng cố tinh thần quốc gia mà nhiều người cho là chiến thuật để duy trì sự lãnh đạo hợp pháp của họ.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thờ Saint Sophia ở Cáp Nhĩ Tân, phía đông bắc Trung Quốc. Năm 1921, Cáp Nhĩ Tân đã có một cộng đồng người Nga khoảng 100.000 người, nó nuôi dưỡng sự phát triển của Kitô giáo trong thành phố.

Tự do tôn giáo được bảo đảm bởi hiến pháp của Trung Quốc, mặc dù các tổ chức tôn giáo không chính thức có thể bị đàn áp bởi nhà nước.[52] Một ước tính chính xác về số lượng tín đồ tôn giáo là khó khăn để có được vì thiếu dữ liệu chính thức, nhưng có một sự đồng thuận chung rằng niềm tin tôn giáo đã được hồi sinh tại Trung Quốc từ cuối những năm 1980 sau thời kỳ cách mạng văn hóa.[53] Một cuộc khảo sát năm 1998, được báo cáo bởi trang web Adherents.com nói rằng 59% (trên 700 triệu) dân số là không tôn giáo.[54] Một cuộc khảo sát sau đó, tiến hành năm 2007, cho thấy có 300 triệu tín đồ các tôn giáo ở Trung Quốc, chiếm 23% dân số, khác biệt so với con số chính thức là 100 triệu.[53]

Trong lịch sử, nền văn minh Trung Quốc đã bị ảnh hưởng bởi các tôn giáo khác nhau, bao gồm cả tôn giáo địa phương Trung Quốc, Đạo giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Saman giáo, Hồi giáo, Hỏa giáo và nhiều tôn giáo mới. Trong số này, Đạo giáo và Phật giáo đã có ảnh hưởng lớn nhất trong việc hình thành văn hóa Trung Quốc. Đạo giáo là tôn giáo bản địa Trung Quốc đáng chú ý nhất, nó bao gồm cả tín ngưỡng dân gian địa phương, trong khi Phật giáo truyền bá đến Trung Quốc từ Ấn Độ trong thế kỷ thứ 1 và trở nên có ảnh hưởng rộng rãi trong người dân suốt một thời gian dài của lịch sử Trung Quốc.

Hiện nay, theo sự khảo sát khác nhau, Đạo giáo là tôn giáo lớn nhất với hơn 30% dân số Trung Quốc tin theo. Phật giáo chiếm 10,85%[55] và 18% dân số của Trung Quốc theo các tôn giáo khác.[56] Trong đó, Kitô giáo chiếm 3,2% dân số, trong khi đạo Hồi chiếm 2% dân số.[57]

Phật giáo Đại thừa là hệ phái Phật giáo đông tín đồ nhất ở Trung Quốc. Phật giáo Nguyên thủy tồn tại chủ yếu trong cộng đồng người dân tộc thiểu số dọc theo rìa phía Nam của Trung Quốc đại lục.[58]

Kitô giáo lần đầu tiên được truyền bá đến Trung Quốc trong triều đại nhà Đường vào năm 635. Thống kê chính thức của chính phủ đưa ra con số của các Kitô hữu ở mức 25 triệu người, trong đó có 10 triệu người Công giáo Rôma, còn lại là Chính Thống giáo NgaTin Lành.[59]

Hồi giáo xuất hiện ở Trung Quốc trong năm 651. Qua nhiều thế kỷ sau, các thương nhân Hồi giáo và các học giả đã phát triển Hồi giáo trở thành tôn giáo nổi bật trong xã hội Trung Quốc. Cục Quản lý Nhà nước về tôn giáo của Trung Quốc cho biết có hơn 21 triệu người Hồi giáo trong cả nước (1,5% đến 2% tổng dân số), với ước tính không chính thức khác nhau khác là 50 triệu.[60]

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Mâu thuẫn trong tranh chấp đất đai[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ khi bãi bỏ thuế nông nghiệp năm 2006, lãnh đạo các địa phương đã ngày càng giàu thông qua việc bán đất (hay bán quyền sử dụng đất) mà theo luật, đất đai thuộc quyền "sỡ hữu toàn dân" và do nhà nước quản lý[61][62]. Mâu thuẫn giữa nông dân và các quan chức địa phương đã tăng khắp Trung Quốc, bởi vì các vụ thu hồi quyền sử dụng đất (hoặc "cưỡng chế đất đai") [61]. Từ năm 1990 đến nay, hơn 43% nông dân Trung Quốc từng bị chính quyền trưng thu đất đai [63] và ước tính 60% đến 70% thu nhập của chính quyền địa phương đến từ bán đất của nông dân, quan chức địa phương và các nhóm lợi ích trả cho nông dân một số tiền tối thiểu và sau đó được trả bởi nhà đầu cơ địa ốc gấp 50 lần, trở thành người hưởng lợi chính[62]

Khoảng chừng hơn 90.000 rối loạn dân sự ở Trung Quốc mỗi năm,[64] và ước tính 180.000 cuộc biểu tình hàng loạt xảy ra trong nước trong năm 2010,[65] phản ứng và cáo buộc các vụ tham nhũng của các nhóm lợi ích hoặc thu hồi đất bất hợp pháp, như tại Ô Khảm, Quảng Đông năm 2011. Quỹ Jamestown (Jamestown Foundation) cung cấp một lời giải thích vĩ mô cho sự gia tăng các cuộc xung đột: các quan chức địa phương, bị kẹt giữa sự thiếu hụt doanh thu của chính quyền địa phương do các biện pháp của chính quyền trung ương để làm nguội thị trường bất động sản quá nóng và sự đánh giá thành tích cá nhân của họ dựa trên đóng góp của địa phương vào tăng trưởng GDP, đã phải dùng biện pháp bòn rút để bồi thường càng ít càng tốt (tối thiểu) cho nông dân [66].

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Khái quát về du lịch Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Là một đất nước rộng lớn và với bề dày lịch sử trên 5.000 năm, Trung Quốc ngày nay là một nơi hấp dẫn du lịch vào loại bậc nhất trên thế giới theo phong cách văn hóa Phương Đông. Năm 2000, Trung Quốc đón 84 triệu du khách nước ngoài (Kể cả Hongkong và Macao). Với 32 địa danh được UNESCO công nhận là di sản thế giới đến năm 2003, Trung Quốc trở thành quốc gia xếp thứ 3 trên thế giới về sở hữu số lượng di sản thế giới (Di sản vật thể). Với địa hình đa dạng và với lịch sử phong kiến tập quyền hàng ngàn năm, ngành du lịch Trung Quốc vẫn đang trong quá trình tìm kiếm và khai quật khảo cổ những địa danh thiên nhiên và lịch sử sẽ làm sửng sốt thêm hàng triệu du khách và chắc chắn rằng con số mà UNESCO công nhận ở Trung Quốc không dừng lại ở con số 32. Có thể nói, những di tích, những công trình kiến trúc, những hiện vật liên quan, thậm chí là những giai thoại lịch sử của người Trung Quốc... cách đây hàng mấy trăm năm thậm chí hàng ngàn năm nhưng các chính quyền Trung Quốc trước nay phần lớn đều gìn giữ nguyên vẹn. Đây là một thế mạnh quan trọng nhất của ngành du lịch về loại hình văn hóa - lịch sử.

Hiện tại du lịch Trung Quốc đã rất đa dạng về loại hình là nhằm mục đích phát triển đa dạng về nguồn khách. Ví dụ như muốn tìm hiểu đất nước Trung Quốc trong 10 năm qua thì nên đến thành phố Thâm Quyến; Trong 100 năm thì đến Thượng Hải; Trong 1.000 năm thì đến Bắc Kinh... Nhưng hầu hết khi nói đến du lịch Trung Quốc thì người ta nghĩ ngay đến các cảnh quan thiên nhiên huyền bí và các lăng tẩm, đền đài, thành luỹ rất cổ kính và đồ sộ của người Trung Quốc xưa. Và đó cũng là lý do để UNESCO công nhận, xếp hạng và bảo tồn các địa danh du lịch chính của Trung Quốc hiện nay.

Sau đây là danh sách các địa danh du lịch nổi tiếng của Trung Quốc đã được UNESCO công nhận đến năm 2003.

Các kỳ quan được UNESCO công nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Tên địa danh Năm xây dựng Tỉnh/TP Năm UNESCO công nhận Thể loại
Vạn lý Trường thành TK XII - IV TrCN. Nhiều tỉnh thành 12/1987 Văn hóa
Cố Cung 1406 - 1420 Bắc Kinh 12/1987 Văn hóa
Hang đá Mạc Cao Cam Túc 12/1987 Văn hóa
Lăng mộ Tần Thủy Hoàngcác tượng binh mã 246-208 TCN Thiểm Tây 12/1987 Văn hóa
Di chỉ người vượn Bắc Kinh Bắc Kinh 12/1987 Khảo cổ học
Núi Thái Sơn Sơn Đông 12/1987 T. nhiên - V. hóa
Khu danh thắng Hoàng Sơn An Huy 12/1990 T. nhiên - V. hóa
Khu danh thắng Võ Lăng Nguyên Hồ Nam 12/1992 Thiên nhiên
Khu danh thắng Cửu Trại Câu Tứ Xuyên 12/1992 Thiên nhiên
Khu danh thắng Thừa Đức 1703 Hà Bắc 12/1994 Văn hóa
Khổng Miếu, Khổng Phủ, Khổng Lâm 478 TCN Sơn Đông 12/1994 Văn hóa
Núi Võ Đang Hồ Bắc 12/1994 Văn hóa
Cung điện Potala TK VII Tây Tạng 12/1994 Văn hóa
Khu danh thắng Lư Sơn Giang Tây 12/1996 Văn hóa
Nga Mi Sơn - Lạc Sơn Đại Phật Tứ Xuyên 12/1996 T. nhiên - V. hóa
Di Hòa Viên Bắc Kinh 12/1998 Văn hóa
Thiên Đàn Bắc Kinh 12/1998 Văn hóa
Lăng tẩm hoàng gia Minh-Thanh Bắc Kinh 10/2000 Văn hóa
Thành cổ Bình Dao Sơn Tây 12/1997 Văn hóa
Tô Châu Viên Lâm Giang Tô 12/1997 Văn hóa
Thành cổ Lệ Giang Vân Nam 12/1997 Văn hóa
Thôn cổ Tây Đệ - Hoành thôn An Huy 12/2000 Văn hóa
Vũ Di Sơn Phúc Kiến 12/1999 Văn hóa
Điêu khắc Đại Túc Trùng Khánh 12/1999 Văn hóa
Núi Thanh Thành - Công trình thủy lợi Đô Giang Yển Tứ Xuyên 12/2000 T. nhiên - V. hóa
Hang đá nhân tạo Long Môn Hà Nam 12/2000 Văn hóa
Hang đá Vân Cương Sơn Tây 2001 Văn hóa
Khu lịch sử Ma Cao Ma Cao 2005 Văn hóa
Vũng Tam Giang Vân Nam 12/2003 Thiên nhiên
Ân Khư khoảng thế kỷ 2 TCN Hà Nam 2006 Văn hóa
Khu danh thắng Hoàng Long Tứ Xuyên 1992 Thiên nhiên
Khu bảo tồn Gấu Trúc Lớn tại Tứ Xuyên Tứ Xuyên 2006 Thiên nhiên

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ CIA World Factbook ước tính
  2. ^ Walton, Greg; International Centre for Human Rights and Democratic Development (2001). “Executive Summary”. China's golden shield: Corporations and the development of surveillance technology in the People's Republic of China. Rights & Democracy. tr. 5. ISBN 9782922084429. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  3. ^ “Sino-British Joint Declaration”. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2008. 
  4. ^ The ranking is disputed with the United States and is either ranked third or fourth. See List of countries and outlying territories by area for more information.
  5. ^ Countries of the world ordered by land area
  6. ^ “Rivers and Lakes”. China.org.cn. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2009. 
  7. ^ “Country profile: China”. BBC News. 1 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2009. 
  8. ^ Muldavin, Joshua (9 tháng 2 năm 2006). “From Rural Transformation to Global Integration: The Environmental and Social Impacts of China's Rise to Superpower”. Carnegie Endowment for International Peace. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2010. 
  9. ^ (Lt Colonel, USAF) Uckert, Merri B. (tháng 4 năm 1995). China as an Economic and Military Superpower: A Dangerous Combination?. Maxwell Air Force Base, Alabama: Air War College, Air University. tr. 33. 
  10. ^ Bergsten, C. Fred; Gill, Bates; Lardy, Nicholas R.; Mitchell, Derek (17 tháng 4 năm 2006). China: The Balance Sheet: What the World Needs to Know about the Emerging Superpower . PublicAffairs. tr. 224. ISBN 9781586484644. 
  11. ^ China, Tajikistan sign border agreement
  12. ^ http://vnexpress.net/gl/the-gioi/tu-lieu/2012/05/toan-canh-tranh-chap-chu-quyen-trung-quoc-philippines/
  13. ^ 16 August 2010, China Overtakes Japan as World's Second-Biggest Economy, Bloomberg
  14. ^ “China's gross domestic product (GDP) growth”. Chinability. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2008. 
  15. ^ Walker, Andrew (16 tháng 6 năm 2011). “Will China's Economy Stumble?”. BBC. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  16. ^ “Microsoft Word - UNWTO Barom07 2 en.doc” (PDF). Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2010. 
  17. ^ “China’s Economy: What the Tourist Boom Tells Us”. 17 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2012.  Đã bỏ qua văn bản “work[[=TIME (tạp chí)|TIME]]” (trợ giúp)
  18. ^ 2011 China trade data. GTIG.com. 12 January 2012. Retrieved 22 April 2012.
  19. ^ “China's Foreign-Exchange Reserves Surge, Exceeding $2 Trillion”. Bloomberg L.P. 15 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. 
  20. ^ “China's forex reserves reach USD 2.85 trillion”. Smetimes.tradeindia.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  21. ^ "China now owns $1.16 trillion of U.S. debt". CBS News. 28 February 2011.
  22. ^ Washington learns to treat China with care. CNNMoney.com. 29 July 2009.
  23. ^ Hornby, Lucy (23 tháng 9 năm 2009). “Factbox: US-China Interdependence Outweighs Trade Spat”. Reuters. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2009. 
  24. ^ "China FDI hits $115 billion in 2011, eases in December". CNBC, 5 January 2012. Retrieved 25 April 2012.
  25. ^ 19 January 2011 p.ambre (19 tháng 1 năm 2011). “China scores number one on FDI penetration, 16% rise in 2010”. Stockmarketdigital.com. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  26. ^ "Insight: Bullish China shops in industrial Germany". Reuters, 3 April 2012. Retrieved 25 April 2012.
  27. ^ “2007 trade surplus hits new record – $262.2B”. China Daily. 11 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. 
  28. ^ “China widens yuan, non-dollar trading range to 3%”. 23 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. 
  29. ^ English@peopledaily.com.cn (13 tháng 7 năm 2005). “People.com”. People. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010. 
  30. ^ “Businessweek.com”. BusinessWeek. 22 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010. 
  31. ^ “Microsoft Word - China2bandes.doc” (PDF). Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2010. 
  32. ^ The Global Competitiveness Report 2009-2010 World Economic Forum. Retrieved on 24 September 2009.
  33. ^ "2011 Index of Economic Freedom". The Heritage Foundation. Retrieved 17 April 2011.
  34. ^ a ă Global 500 2011: China. CNN. 2011. Retrieved 23 October 2012.
  35. ^ Abigmission.com China’s 100 million strong middle-class need to be reached. Retrieved on 30 August 2009.
  36. ^ One Person in Every 1700 in China has at least 10 Million Yuan[[]][liên kết hỏng] Hurun Report (14 April 2009). Retrieved on 4 March 2010.
  37. ^ "China's billionaires double in number". The Daily Telegraph. Retrieved 7 September 2011.
  38. ^ Total Retail Sales of Consumer Goods (2007.12) National Bureau of Statistics of China (13 March 2008). Retrieved on 21 November 2008.
  39. ^ Super Rich have Craze for luxury goods China Daily (3 March 2010). Retrieved on 4 March 2010.
  40. ^ a ă “China Quick Facts”. World Bank. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2008. 
  41. ^ Swartz, Spencer; Oster, Shai (19 tháng 7 năm 2010). “China Becomes World's Biggest Energy Consumer”. Wall Street Journal. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. 
  42. ^ Feller, Gordon. “China's Coal”. ECOworld. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2010. [[]][liên kết hỏng]
  43. ^ Wind power in the People's Republic of China
  44. ^ http://hn.24h.com.vn/thoi-trang/the-gioi-nhuc-nhoi-voi-dai-nan-do-fake-c78a589617.html
  45. ^ http://news.xinhuanet.com/english/china/2013-02/26/c_124391002.htm
  46. ^ http://kienthuc.net.vn/ho-so/khoang-cach-giau-ngheo-dang-so-o-trung-quoc-260105.html
  47. ^ http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Cac-ba-do-cua-CNQP-Trung-Quoc-ky-1/201210/236754.datviet
  48. ^ http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Cac-ba-do-cua-CNQP-Trung-Quoc-ky-2/201210/237135.datviet
  49. ^ http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Ukraine-o-at-ban-cong-nghe-quan-su-cho-Trung-Quoc/20116/149981.datviet
  50. ^ http://quocphong.baodatviet.vn/Home/QPCN/Cac-ba-do-cua-CNQP-Trung-Quoc-ky-4/201210/238364.datviet
  51. ^ http://infonet.vn/The-gioi/Binh-luan/Cong-nghiep-quoc-phong-Trung-Quoc-Khuon-mat-ke-boi-bac/120687.info
  52. ^ http://www.ft.com/cms/s/602b650e-dc69-11e1-a304-00144feab49a,Authorised=false.html?_i_location=http%3A%2F%2Fwww.ft.com%2Fcms%2Fs%2F0%2F602b650e-dc69-11e1-a304-00144feab49a.html&_i_referer=http%3A%2F%2Fen.wikipedia.org%2Fwiki%2FChina#axzz24qLQjsqF
  53. ^ a ă BBC News. 7 February 2007. Retrieved 15 June 2009.
  54. ^ http://www.adherents.com/Na/Na_473.html
  55. ^ http://www.euecran.eu/pdf/ECRAN%20Analysing%20the%20Recent%20Development%20of%20Religious%20Communities%20in%20Contemporary%20Rural%20China_Yu%20Tao.pdf
  56. ^ http://www.chinatoday.com.cn/ctenglish/se/txt/2009-06/19/content_203310.htm
  57. ^ http://www.pewforum.org/uploadedFiles/Topics/Religious_Affiliation/Christian/ChristianityAppendixC.pdf
  58. ^ ^ Macintosh, R. Scott. China's prosperity inspires rising spirituality (9 March 2006). Retrieved 15 April 2006.
  59. ^ ^ "Christians in China: Is the country in spiritual crisis?" BBC. 12 September 2011. Retrieved 18 April 2012.
  60. ^ http://www.state.gov/j/drl/rls/irf/religiousfreedom/index.htm#wrapper
  61. ^ a ă Pomfret, James (29 September 2011). "Velvet glove trumps iron fist in south China land riot". Reuters. Retrieved 13 October 2011
  62. ^ a ă Michael Young (17 tháng 1 năm 2012). “People of Wukan Challenge China Model”. The Epoch Times. Truy cập 20 Februar 2012. , Bản dịch tiếng Việt
  63. ^ “Trung Quốc đề cao "Mô hình Ô Khảm"”. Tổ quốc, 12/02/2012. 
  64. ^ “Chinese villagers riot over govt land seizure”. Gulf Times. AFP. 24 tháng 9 năm 2011. 
  65. ^ Demick, Barbara (10 October 2011) "Protests in China over local grievances surge, and get a hearing". Los Angeles Times / Sacramento Bee
  66. ^ Mattis, Peter (20 December 2011). "Wukan Uprising Highlights Dilemmas of Preserving Stability. China Brief Volume 11, Issue 23. Jamestown Foundation. Archived from the original on 5 January 2012

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]