Đường Dần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một bức họa của Đường Dần vẽ vào khoảng năm 1500

Đường Dần (chữ Hán: 唐寅;) là một danh hoạ, một nhà thơ nổi tiếng đời nhà Minh. Sinh ngày mồng bốn tháng hai năm Thành Hóa thứ sáu (tức ngày 7 tháng 3 năm 1470) mất ngày mồng hai tháng chạp năm Gia Tĩnh Thứ 2 (tức ngày 7 tháng 1 năm 1524).

Con Người[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Dần tự là Tử Uý, Bá Hổ (nên còn được gọi là Đường Bá Hổ), hiệu là Lục Như cư sĩ, Đào Hoa am chủ, Lỗ quốc đường sinh, Thoát thiền tiên lại, tự xưng là Minh triều Giang Nam đệ nhất phong lưu tài tử. Tương truyền ông sinh vào giờ Dần, ngày Dần, tháng Dần, năm Dần (Thành hóa thứ 6 đời Hiến Tông nhà Minh) do vậy được đặt tên là Đường Dần.

Quê Quán[sửa | sửa mã nguồn]

Ông quê ở Ngô huyện (nay là thành phố Tô Châu tỉnh Giang Tô). Đường Dần xuất thân trong một gia đình thương gia giàu có, cha là Đường Quảng Đức (唐廣德), mẹ là Khâu Thị (邱氏).

Cuộc Đời[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Bá Hổ tuổi nhỏ thông minh dĩnh lợi, học hành chăm chỉ.Năm 19 tuổi ông cưới vợ là Từ thị là thứ nữ của Từ Đình Thụy, nhưng khi ông khoảng 24 tuổi thì người vợ đầu qua đời. Sau đó có lẽ ông đã cưới người vợ thứ hai, nhưng gặp khi bị liên lụy ở khoa trường, nên bà này đã bỏ đi. Về sau ông lấy người vợ họ Thẩm tên là Cửu Nương. Năm 20 gia cảnh gặp vận hạn, cả cha mẹ và em gái đều lần lượt qua đời. Dưới sự giúp đỡ của bạn hiền là Chúc Dẫn Minh, Đường Dần tiếp tục cố gắng học tập. Năm 29 tuổi, Đường Dần đỗ Giải Nguyên phủ Ứng Thiên. Năm 30 tuổi, Đường Dần lai kinh ứng thí(thi hội) nhưng do bị liên can đến án thi cử gian lận nên bị ngồi tù. Tuy cuối cùng triều đình xét ra ông không liên quan, nhưng kể từ đó Đường Dần chán ghét và từ bỏ con đường sĩ hoạn, chỉ đi du ngoạn các danh sơn ở Giang Nam và Hoa Trung. Đường Dần tìm đến phủ Ninh Vương Chu Thần (朱宸) ở Nam Xương định nương náu ở đây nhưng phát hiện Chu Thần có ý mưu phản, không muốn tham gia cùng, nên Đường Dần đã uống rượu giả điên, ép kỹ nữ phải khỏa thân, buộc Ninh vương phải thả cho ông về Tô Châu Sau đó không còn ham hố con đường làm quan nữa mà tập trung vào viết thư pháp, vẽ tranh và làm thơ và mất ở tuổi 54.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thơ:
  1. Đề "Lạc hà cô vụ" đồ
  2. Đề "Thường Nga chấp quế" đồ
  3. Đào hoa am ca
  4. Bần sĩ ngâm kỳ 2
  5. Hoàng hoa thi
  6. Mỹ nhân đối nguyệt
  7. Ngã ái thu hương
  8. Ngôn chí

Phong cách Hội họa[sửa | sửa mã nguồn]

Điển cố điển tích[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tựu Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]