Kinh tế Canada

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Kinh tế Canada
Toronto-view-from-cn-tower.jpg
Tiền tệ đô la Canada (CAD)
Năm tài chính 01/04 – 31/03
Tổ chức kinh tế NAFTA, OECD, WTO và các tổ chức khác
Số liệu thống kê
GDP (PPP) 1.304 nghìn tỷ đô la Mỹ (ước tính, năm 2008)
Tăng trưởng GDP -2.4% (2009 ước tính)[1]
GDP đầu người 38.200 đôla Mỹ (ước tính, năm 2007)
GDP theo lĩnh vực ngành nông nghiệp chiếm 2,1%, ngành công nghiệp chiếm 28,8%, ngành dịch vụ chiếm 69,1% (ước tính , năm 2007)
Lạm phát (CPI) 1,2% (ước tính, năm 2008)
Tỷ lệ
nghèo
10,8% (tương đối năm 2005) / 4,9% (tuyệt đối năm 2004)
Chỉ số Gini 32,1% (năm 2005) đứng thứ 100.[2]
Lực lượng lao động 17,9 triệu (ước tính , năm 2007)
Cơ cấu lao động
theo nghề
nông nghiệp (2%), sản xuất (13%), xây dựng (6%), dịch vụ (76%), khác (3%) (năm 2006)
Thất nghiệp 7,2% (tháng 2 năm 2009)
Các ngành chính cung cấp dụng cụ giao thông vận tải, công nghiệp hóa chất, xử lý khoáng sản, thực phẩm, chế biến gỗ và giấy, chế biến thủy sản, xăng dầu và khí đốt thiên nhiên
Thương mại
Xuất khẩu 440,1 tỷ đô la Mỹ (ước tính, năm 2007)
Mặt hàng XK ô tô-xe máy và các phụ tùng, máy móc công nghiệp, máy bay, thiết bị viễn thông, điện tử, công nghiệp hóa chất, nhựa, phân bón, bột giấy, gỗ, dầu thô,khí đốt thiên nhiên, điện, nhôm.
Đối tác XK Hoa Kỳ 78,9%, Vương quốc Anh 2,8%, Trung Quốc 2,1% (năm 2007)
Nhập khẩu 394.4 tỷ đô la Mỹ (ước tính , năm 2007)
Mặt hàng NK máy móc và trang thiết bị, ô tô-xe máy và phụ tùng, điện tử, dầu thô, công nghiệp hóa chất, điện, hàng tiêu dùng.
Đối tác NK Hoa Kỳ 54,1%, Trung Quốc 9,4%, Mexico 4,2% (năm 2007)
Tài chính công
Nợ công 467,3 tỷ CAD (Liên bang, 2007)
Thu 565,8 tỷ đô la Mỹ
Chi 551,2 tỷ đô la Mỹ (ước, năm 2007)
Viện trợ 3,9 tỷ đô la Mỹ (các nhà tài trợ) (2007)
Nguồn chính
Tất cả giá trị, ngoại trừ nêu khác đi, đều tính bằng đô la Mỹ

Canada là nền kinh tế lớn thứ 9 trên thế giới[3] (tính theo giá trị đô la Mỹ theo tỷ giá thị trường),[4] và là một trong các quốc gia giàu nhất trên thế giới, là thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và thuộc nhóm tám quốc gia phát triển (G8). Giống như các quốc gia phát triển khác, ngành dịch vụ chiếm ưu thế trong nền kinh tế Canada, chiếm 3/4 nền kinh tế Canada[5]. Khác với các nước phát triển khác, Canada chú trọng vào khu vực sơ khai, với khai thác gỗ và khai thác dầu mỏ là hai ngành quan trọng nhất. Canada cũng có một khu vực chế tạo tương đối lớn, tập trung ở trung tâm Canada, với ngành công nghiệp ô tô - xe máy là đặc biệt quan trọng nhất.

Canada xếp thứ hạng cao trong danh sách các quốc gia có nền kinh tế tự do trên thế giới.[6] Ngày nay, kinh tế Canada liên kết chặt chẽ với kinh tế Hoa Kỳ cả về thể chế kinh tế theo định hướng thị trường lẫn mô hình sản xuất.[7]. Tại thời điểm tháng 10 năm 2007, Canada có tỉ lệ thất nghiệp là 5,9%, thấp nhất trong 33 năm gần đây. Tỷ lệ thất nghiệp ở các tỉnh là khác nhau từ thấp nhất là 3,6% ở Alberta cho đến cao nhất là 14,6% ở NewfoundlandLabrador.[8]. Trong danh sách 2.000 công ty lớn nhất thể giới năm 2008 của báo Forbes Global, Canada có 69 công ty, xếp hạng 5 ngang với Pháp.[9]. Vào năm 2008, tổng gánh nặng nợ chính phủ của Canada là thấp nhất trong các thành viên của G8. Năm 2005, thu nhập bình quân đầu người là 34.000 USD.[10] Dự trữ ngoại tệ và vàng năm 2005 là 33,03 tỷ USD.[10] Theo số liệu công bố của Cơ quan thống kê Canada (StasCan), kinh tế nước này đã suy giảm 5,4% trong quý 1 năm 2009, mức giảm lớn nhất trong vòng 18 năm qua. Trước đó, kinh tế Canada đã sụt giảm 3,4% trong quý 4 năm 2008.[11]

Thương mại quốc tế đóng góp một phần lớn trong nền kinh tế Canada, đặc biệt là các nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa rất quan trọng. Hoa Kỳ hiện là đối tác thương mại lớn nhất, chiếm khoảng 76% xuất khẩu và 65% nhập khẩu trong năm 2007 của Canada.[12]. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Canada lớn thứ 8 trong tất cả các quốc gia trên thế giới trong năm 2006.[13]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thay đổi GDP thực tế trong các năm trước đây [14]:

Năm +/- Thay đổi
1998 +4.1%
1999 +5.5%
2000 +5.2%
2001 +1.8%
2002 +2.9%
2003 +1.9%
2004 +3.1%
2005 +3.0%
2006 +2.7%
2007 +2.6%

Các ngành kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Canada là quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú trải dài trên khắp lãnh thổ của đất nước. Ở British Columbia, ngành công nghiệp về lâm nghiệp chiếm một vị trí quan trọng, trong khi ngành công nghiệp dầu mỏ có vai trò quan trọng ở Alberta, NewfoundlandLabrador. Miền bắc Ontario là nơi có các mỏ dầu, trong khi các ngành công nghiệp thủy sản lâu nay đã được chính phủ chú ý đến như là tỉnh Atlantic, mặc dù trong thời gian gần đây đã có những bước từ chối. Canada có nguồn tài nguyên khoáng sản như là than,đồng,quặng sắt,và vàng.

Các ngành công nghiệp đang ngày càng trở nên ít quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế. Chỉ có một số ít lao động của Canada chiếm 4% đang làm việc trong các lĩnh vực đó, và họ đóng góp ít hơn 6% cho GDP. Canada vẫn còn việc quan trọng trong nhiều phần còn lại của đất nước. Nhiều nếu không phải nói là nhiều nhất, thị xã ở miền Bắc Canada,nơi sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn, do sự tồn tại của một mỏ ở gần đó hoặc nguồn khai thác gỗ. Canada có các công ty hàng đầu thế giới trong việc sản xuất nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên như: vàng, nickel, uran, kim cươngchì. Một số các công ty lớn nhất của Canada được dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên cung cấp cho các ngành công nghiệp, như là EnCana, Cameco, Goldcorp, và Barrick Gold. Đại đa số các sản phẩm được xuất khẩu, chủ yếu vào Hoa Kỳ. Ngoài ra còn có nhiều ngành công nghiệpdịch vụ có liên kết trực tiếp với nhau. Ví dụ một trong những lĩnh vực sản xuất của các ngành công nghiệp lớn nhất của Canada là bột giấy và giấy ở khu vực, đó là trực tiếp liên kết với các ngành công nghiệp khai thác gỗ.

Nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối lớn có tác dụng đến kinh tếxã hội của Canada. Trong khi các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ rất dễ để chuẩn hóa, nguồn tài nguyên thiên nhiên thì phong phú nằm ở nhiều khu vực khác nhau. Điều này đảm bảo cho việc phát triển cơ cấu kinh tế khác nhau ở mỗi một khu vực của Canada, đóng góp mạnh của nhiều khu vực của Canada. Cũng trong thời gian đó phần lớn các nguồn lực được xuất khẩu, kết hợp chặt chẽ Canada vào nền kinh tế quốc tế. Howlett và Ramesh cho rằng sự bất ổn thuộc về các ngành công nghiệp cũng góp phần vào và sự can thiệp nhiều hơn của chính phủ trong nền kinh tế, làm giảm tác tác động của xã hội đối với thay đổi của thị trường.[15]

Các ngành công nghiệp phát triển cũng làm tăng sự quan trọng của câu hỏi về phát triển bền vững. Mặc dù nhiều thập kỷ qua Canada như là một nhà sản xuất các sản phẩm, nhưng ít có nguy cơ dùng hết. Các khám phá lớn tiếp tục được thực hiện, như khối lượng lớn nickel được tìm thấy tại vịnh Voisey. Hơn nữa, vùng phía bắc vẫn còn phần lớn chưa phát triển như giá cao hơn giá sản xuất hay nhiều công nghệ mới hoạt động tại khu vực này chưa phải là hiệu quả về chi phí. Trong những thập kỷ gần đây người dân Canada không chấp nhận sự tàn phá môi trường cùng với việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên. Vấn đề tăng lương và khiếu nại của thổ dân về đất đai cũng được quan tâm hơn trước. Thay vào đó, nhiều công ty của Canada đã tập trung vào việc khai thác và mở rộng hoạt động ở của họ nước ngoài, nơi đang có mức giá thấp hơn và chính phủ các nước đó lại rất chào đón họ. Các công ty của Canada ngày càng quan tâm và thấy được vai trò của khu vực Mỹ Latin, khu vực Đông Nam Á, và Châu Phi.

Đây là nguồn tài nguyên tái tạo, nó có đưa ra một số những mối quan tâm lớn nhất. Sau nhiều thập kỷ qua về tăng quá mức lượng khai thác các cá tuyết sụp đổ, nhưng tất cả các ngành thủy sản trong những năm 1990, và cá hồi Thái Bình Dương cũng phải chịu rất nhiều ảnh hưởng của ngành công nghiệp. Các ngành công nghiệp khai thác gỗ, sau nhiều năm khai thác tràn lan, trong những năm gần đây đã di chuyển đến một mô hình bền vững hơn.

Năng lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bơm hút dầu đang hoạt động tại một giếng dầu gần Sarnia, Ontario

Canada là một trong số ít các quốc gia phát triển có xuất khẩu ròng (xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu) năng lượng. Trữ lượng dầu và khí lớn tập trung chủ yếu ở Alberta và lãnh thổ phía Bắc; ngoài ra còn ở các vùng lân cận của British ColumbiaSaskatchewan. Theo USGS, trữ lượng khổng lồ của Athabasca Tar Sands khiến Canada thành nước đứng thứ hai thế giới về trữ lượng dầu mỏ, sau Ả Rập Saudi. British ColumbiaQuebec, cũng như là ở Ontario, Saskatchewan, Manitoba và khu vực Labrador, là những nơi có tiềm năng thủy điện rất lớn, đây là nguồn năng lượng phong phú, không tốn kém và thân thiện với môi trường. Điều này phần nào giải thích tại sao Canada là một trong những khu vực tiêu dùng năng lượng bình quân đầu người cao nhất thế giới.[16][17] Năng lượng giá rẻ đã kích thích hoạt động và sáng tạo của một số ngành công nghiệp quan trọng, như ngành luyện nhôm quy mô lớn ở Quebec, AlbertaBritish Columbia.

Trong quá khứ, một vấn đề quan trọng trong chính trị của Canada là trong khi Tây Canada là một trong những khu vực giàu nhất thế giới về các nguồn năng lượng, Bắc Ontario - trái tim công nghiệp của Canada - lại hầu như không có tài nguyên năng lượng gì. Tuy nhiên, vận chuyển dầu Alberta tới miền Tây Hoa Kỳ lại rẻ hơn tới miền Đông Canada. Thành ra, các cảng ở phía Đông Canada lại đi nhập khẩu một số lượng đáng kể dầu từ nước ngoài, và Ontario sử dụng đáng kể điện hạt nhân.

Mỗi khi dầu tăng giá, phần lớn dân Canada phải chịu thiệt hại, thì miền Tây Canada lại hưởng lợi. Các chính sách năng lượng quốc gia vào đầu những năm 1980 đã cố gắng để ép buộc vùng Alberta bán dầu giá thấp để phục vụ cho miền Đông Canada. Chính sách này minh chứng sự phân chia sâu sắc và mất đi một cách nhanh chóng tầm quan trọng của nó khi giá dầu sụt mạnh vào giữa những năm 1980. Một trong những phần gây tranh cãi nhất của Hiệp định thương mại tự do Canada-Hoa Kỳ ký năm 1988 là một cam kết rằng Canada sẽ không bao giờ tính tiền năng lượng đối với Hoa Kỳ cao hơn khi tính với người dân Canada.

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Một máy hút lúa ở Alberta

Mặc dù có đất đai rộng lớn nhưng đất canh tác nông nghiệp của Canada chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ và có điều kiện thời tiết luôn thất thường. Tuy nhiên, nông nghiệp Canada đạt được nhiều thành tựu lớn.[18] Canada là một trong những nhà cung cấp lớn nhất thế giới về các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là lúa mì và các hạt ngũ cốc.[19] Canada là nhà xuất khẩu lớn các sản phẩm nông nghiệp đến Hoa Kỳ và còn cho cả châu ÂuĐông Á. Giống như tất cả các quốc gia phát triển khác: tỷ lệ dân số làm việc trong khu vực nông nghiệp và mức đóng góp vào GDP của ngành này đã giảm xuống đáng kể trong thế kỷ 20.

Giống như các quốc gia phát triển khác, sản xuất nông nghiệp của Canada nhận được nhiều trợ cấp và hỗ trợ của chính phủ. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của Tổ chức thương mại thế giới WTO, Canada là nước ủng hộ mãnh mẽ việc giảm những trợ cấp bóp méo thị trường. Vào năm 2000, Canada chi khoảng 4,6 tỷ CDN hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp. Trong đó 2,32 tỷ CDN thuộc loại trợ cấp "hộp lam" của WTO, có nghĩa là nó không trực tiếp ảnh hưởng đến thị trường, chẳng hạn như các khoản hỗ trợ cho nghiên cứu hoặc giảm nhẹ thiên tai. Tổng số trợ cấp trị giá 848,2 triệu USD chỉ bằng 5% giá trị sản lượng cây trồng mà họ đã cung cấp, là ngưỡng nhập WTO. Do đó, Canada, chỉ dùng 848,2 triệu USD trong tổng số 4,3 tỷ USD được WTO cho phép.[20]

Năm lĩnh vực sản xuất nông nghiệp lớn nhất.[21]
Lĩnh vực Phần trăm tiền mặt khi nhận Thị trường sơ cấp
Ngũ cốc và hạt có dầu
(lúa mì, lúa mì cứng, yến mạch, lúa mạch, lúa mạch đen, hạt lanh, cải dầu, đậu nành, lúa gạo, và ngô)
34% trong nước và xuất khẩu
Các loại thịt đỏ - Chăn nuôi
(thịt bò trâu, bò, heo, bê, và thịt cừu)
27% trong nước và xuất khẩu
Sữa 12% trong nước
Nghề làm vườn 9% trong nước
Gia cầm và trứng 8% trong nước

Khu vực chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Mô thức phát triển chung của các nước giàu chuyển dịch cơ cấu từ một nền kinh tế dựa vào khu vực sơ khai sang dựa vào khu vực chế tạo và sau đó là sang dựa vào khu vực dịch vụ. Canada đã không làm theo mô thức này: khu vực chế tạo luôn là ngành xếp hạng hai, mặc dù không phải là không quan trọng. Một phần vì lý do này, Canada đã không chịu nhiều thiệt hại từ những thiệt hại của quá trình phi công nghiệp hóa trong năm 1970 và những năm 1980.

Miền Trung Canada là nơi đặt chi nhánh của các hãng chế tạo ô tô Hoa KỳNhật Bản, và cũng có rất nhiều nhà máy sản xuất linh kiện thuộc sở hữu của các công ty Canada như Magna InternationalLinamar Corporation. Miền TrungCanada hiện nay hàng năm sản xuất nhiều xe ô tô hơn cả tiểu bang lân cận của Hoa KỳMichigan, trung tâm của ngành công nghiệp chế tạo ô tô Hoa Kỳ. Các nhà sản xuất đã bị thu hút vào Canada do ở đây có trình độ dân trí rất cao và chi phí lao động thấp hơn so với Hoa Kỳ. Chi tiêu công cộng của Canada cho hệ thống chăm sóc sức khỏe cũng là một yếu tố hấp dẫn đầu tư nước ngoài, vì nó giúp cho các công ty đỡ phải chi tiêu nhiều cho bảo hiểm y tế giống như tại Hoa Kỳ.

Hầu hết các ngành công nghiệp chế tạo của Canada đều bao gồm các nhà máy chi nhánh của các doanh nghiệp Hoa Kỳ, mặc dù cũng có một số nhà chế tạo lớn trong nước, như Bombardier Inc.. Điều này đã khiến người dân Canada lo ngại. Các nhà máy chi nhánh thường chỉ tạo ra những việc làm chân tay, còn các công việc nghiên cứu và điều hành chỉ hạn chế tại Hoa Kỳ.

Quá trình phi công nghiệp hóaCanada đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là tại Ontario (rất phụ thuộc vào các ngành công nghiệp ô tô), khi các doanh nghiệp nước ngoài có nhà máy tại đây đóng cửa. Khủng hoảng kinh tế làm tình hình xấu hơn, với càng thêm nhiều nhà máy đóng cửa (OshawaWindsor, Ontario bị tác động nghiêm trọng).

Trong nhiều năm, các hãng sản xuất xe hơi liên tục chuyển việc làm sang Canada nhằm tránh chi phí y tế cao ở Hoa Kỳ. Hiện nay, Ontario là nơi sản xuất xe hơi lớn nhất Bắc Mỹ, thậm chí vượt cả Michigan.[22]

Nhu cầu tiêu thụ ô tô tại thị trường Hoa Kỳ giảm sút khiến sản lượng ô tô của Canada giảm 21% năm 2008. Ngành công nghiệp ôtô của Canada lỗ 2,7 tỷ CAD cũng trong năm đó.[23]

Khu vực dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm Toronto-Dominion ở Toronto

Khu vực dịch vụCanada lớn và nhiều phân ngành, sử dụng ba phần tư lao động của Canada và đóng góp tới hơn hai phần ba GDP.[24] Thu hút nhiều lao động nhất là ngành bán lẻ, sử dụng gần 12% dân Canada.[25] Ngành bán lẻ chủ yếu tập trung ở một số ít chuỗi cửa hàng liên kết trong các khu mua sắm. Trong những năm gần đây, nhiều cửa hàng lớn, như là Wal-Mart (của Hoa Kỳ) và Future Shop (một chi nhánh có nhiều khách nhất của Hoa Kỳ) xuất hiến, đã dẫn đến giảm việc làm trong lĩnh vực bán lẻ và chuyển công việc bán lẻ đến vùng ngoại ô.

Phân ngành lớn thứ hai trong khu vực dịch vụdịch vụ kinh doanh, chỉ sử dụng ít lao động hơn so với ngành bán lẻ một chút. Phân ngành này bao gồm dịch vụ tài chính, bất động sản, và các ngành công nghiệp truyền thông. Những ngành này đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây. Chúng tập trung chủ yếu ở các trung tâm đô thị lớn, đặc biệt là TorontoCalgary.

Lĩnh vực giáo dụcy tế là hai lĩnh vực lớn nhất của Canada, nhưng cả phần lớn thuộc quyền hạn của Chính phủ. Ngành chăm sóc y tế phát triển nhanh chóng, và là ngành dịch vụ lớn thứ ba ở Canada. Tốc độ tăng trưởng cao của nó đã gây khó khăn cho chính phủ trong việc huy động tài chính cho ngành này.

Canada có một ngành công nghệ cao quan trọng, và cũng có cả một ngành công nghiệp giải trí phục vụ không chỉ cho trong nước và mà còn cả cho quốc tế. Ngành du lịchCanada có tầm quan trọng ngày càng tăng, với phần lớn các du khách quốc tế đến từ Hoa Kỳ. Mặc dù gần đây Đô la Canada lên giá ảnh hưởng tiêu cực đến ngành này, song các nước như Trung Quốc vẫn tăng số lượng khác du lịch đến Canada.

Vấn đề chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chênh lệch phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Nền kinh tế Canada khác nhau rất nhiều giữa các vùng. Miền Trung Canada giữ truyền thống là động cơ kinh tế của Canada, trung tâm công nghiệp và là nơi sinh trú của hơn một nửa dân số đất nước. Những năm gần đây, người ta chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng tại miền Tây Canada nhờ thương mại với Châu Á đã làm giàu cho British Columbia và tài nguyên dầu mỏ phong phú đã thúc đẩy kinh tế của AlbertaSaskatchewan phát triển.

Bốn tỉnh bang ở ven Đại Tây Dương, mặc dù một thời là trung tâm của hoạt động kinh tế, đã trải qua quá trình suy thoái cuối thế kỷ 19 và có truyền thống nghèo khó hơn đáng kể phần còn lại của Canada, đặc biệt là sau khi ngành đánh bắt cá sụp đổ. Những năm gần đây, người ta thấy các tỉnh bang này đã có những sự dịch chuyển đáng kể theo hướng đa dạng hoá, đặc biệt là dầu khí ở ngoài khơi đã bắt đầu được khai thác và đưa vào khu vực. Quebec cũng là vùng có truyền thống nghèo hơn mức bình quân ở Canada mặc dù không đến mức như các địa phương thuộc Đại Tây Dương. Trong những năm gần đây Newfoundland and Labrador đã bắt đầu cho thấy một thay đổi trong nền kinh tế của họ và được gọi là "con hổ Celtic của Canada" (so sánh với chuyển biến kinh tếIreland); nó cũng đã được gọi là "tiểu Alberta" do có nguồn dầu khí mới phát hiện được, mặc dù nhiều người trẻ ở Newfoundland di trú sang Alberta để tìm kiếm những việc làm mang lại thu nhập cao hơn.

Mối quan hệ với Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

CanadaHoa Kỳ có quan hệ thương mại chặt chẽ với nhau. Thị trường việc làm của Canada tiếp tục trong tình trạng thuận lợi cùng với tình hình của kinh tế Hoa Kỳ. Tỷ lệ thất nghiệp hồi tháng 12 năm 2006 đạt mức thấp nhất trong 30 năm qua và là năm thứ 14 liên tục tăng trưởng.[26] Những bất đồng về thuế quan, những hành động quân sự đa phương và tranh cãi về các vấn đề pháp lý của Canada chẳng hạn như hôn nhân đồng giới, quyền lợi người khuyết tật, phân biệt chủng tộc, luật di trú và cần sa hợp pháp đã làm cho quan hệ giữa hai nước có những căng thẳng nhất định.

Mặc dù có những khác biệt nêu trên, Hoa Kỳ vẫn là đối tác thương mại lớn nhất củaCanada, với kim ngạch bình quân hàng ngày lên tới 1,7 tỷ CAD[27] vào năm 2005. Có tới 81% xuất khẩu của Canada là sang Hoa Kỳ và 67% của nhập khẩu của Canada là từ Hoa Kỳ.[28] Thương mại với Canada đã chiếm 23% xuất khẩu và 17% nhập khẩu của Hoa Kỳ.[29] Năm 2005, thương mại của Hoa Kỳ với Canada nhiều hơn thương mại của Hoa Kỳ với toàn Liên Minh Châu Âu gộp lại[30], và cũng lớn hơn hai lần thương mại giữa Hoa Kỳ với tất cả các quốc gia Mỹ Latin gộp lại[31]. Chỉ xét riêng thương mại hai chiều thực hiện qua Cầu Ambassador giữa MichiganOntario đã bằng tất cả xuất khẩu của Hoa Kỳ tới Nhật Bản. Tầm quan trọng của Canada với Hoa Kỳ không chỉ dừng ở các bang có biên giới chung giữa hai nước. Canada là thị trường xuất khẩu hàng đầu của 35 / 50 tiểu bang Hoa Kỳ, và là nước ngoài cung cấp năng lượng nhiều nhất cho Hoa Kỳ.

Thương mại song phương tăng 52% trong thời kỳ từ năm 1989 khi Hiệp định thương mại tự do Hoa Kỳ-Canada (FTA) có hiệu lực đến năm 1994 khi Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) thay thế FTA trên.[cần dẫn nguồn] Kể từ đó, thương mại đã tăng 40%. NAFTA tiếp tục phát huy kết quả của FTA trong việc giảm dần các rào cản thương mại và thiết lập các quy tắc thương mại theo thỏa thuận. Nó cũng giải quyết một số trở ngại tồn tại kéo dài và tự do hóa các quy tắc ở một số lĩnh vực, bao gồm cả nông nghiệp, dịch vụ, năng lượng, dịch vụ tài chính, đầu tư và mua sắm của chính phủ. NAFTA tạo thành khu vực thương mại lớn nhất thế giới, với trên 406 triệu dân của ba nước Bắc Mỹ.

Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Canada, chiếm hơn một nửa thực phẩm xuất khẩu của Canada.[32] Tương tự, Canada là thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Hoa Kỳ, với gần 20% số thực phẩm xuuất khẩu Hoa Kỳ là tới nước hàng xóm phía Bắc. Gần hai phần ba sản phẩm lâm nghiệp của Canada, bao gồm cả bột giấy và giấy, được xuất khẩu sangHoa Kỳ; 72% tổng số giấy in báo của Canada sản xuất ra cũng đã được xuất khẩu vào Hoa Kỳ.

Với kim ngạch 73,6 tỷ dollar Mỹ trong năm 2004, Canada trở thành bạn hàng năng lượng lớn nhất của Hoa Kỳ trong mối quan hệ thương mại, và chiếm hầu hết kim ngạch xuất khẩu năng lượng trị giá 66,7 tỷ dollar của Canada. Các mặt hàng chính là dầu, khí đốt tự nhiênđiện. Canada là nhà cung cấp dầu lớn nhất cho Hoa Kỳ và đứng thứ năm trên thế giới về sản xuất năng lượng. Canada cung cấp đáp ứng khoảng 16% nhu cầu nhập khẩu dầu của Hoa Kỳ và 14% tiêu thụ khí tự nhiên của nước này. Mạng lưới điện quốc gia của CanadaHoa Kỳđược liên kết với nhau và cả hai quốc gia chia sẻ các thiết bị thủy điện biên giới phía Tây.

Trong khi hầu hết các doanh nghiệp Hoa Kỳ-Canada thông suốt, đôi khi có những tranh chấp thương mại song phương, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệpvăn hóa. Thông thường những vấn đề này đã giải quyết được thông qua các diễn đàn song phương tư vấn hoặc giới thiệu đến Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hoặc NAFTA giải quyết tranh chấp. Trong tháng 5 năm 1999, Hoa Kỳ và chính phủ Canada đã thương lượng một thỏa thuận trên tạp chí cung cấp tăng quyền truy cập cho ngành công nghiệp Hoa Kỳ xuất bản vào thị trường Canada.

Hoa KỳCanada cũng có một số các vấn đề liên quan đến thủy sản đã giải quyết. Bởi thỏa thuận thông thường, hai nước đã gửi một báo cáo về vịnh Maine là ranh giới tranh chấp lên Tòa án Tư pháp Quốc tế năm 1981; cả hai được chấp nhận của Toà án vào 12 tháng 10 năm 1984 nguyên tắc chia các ranh giới lãnh thổ biển. Một vấn đề hiện nay giữa Hoa KỳCanada tiếp tục là chế biến gỗ mềm, như Hoa Kỳ là Canada alleges oan subsidizes các ngành công nghiệp lâm nghiệp.

Trong năm 1990, Hoa KỳCanada đã ký một thỏa thuận song phương về thuỷ sản, đã phục vụ cho hoạt động ngăn chặn đánh bắt cá bất hợp pháp và giảm nguy cơ bị thương trong quá trình thực thi cứu giúp sự cố thủy sản.Hoa KỳCanada đã ký một thoả thuận cá hồi Thái Bình Dương trong tháng 6 năm 1999 là ổn định qua việc triển khai thực hiện những sự khác biệt của Thái Bình Dương vào năm 1985 Hiệp ước cá hồi cho thập kỷ tới.

CanadaHoa Kỳ đã ký một thỏa thuận hàng không trong thời gian Bill Clinton thăm Canada vào tháng 2 năm 1995, và giao thông hàng không giữa hai nước đã tăng lên đáng kể như là một kết quả.Hai nước cũng chia sẻ trong hoạt động của St Lawrence Seaway, kết nối các Great Lakes đến Đại Tây Dương.

Hoa Kỳ là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất của Canada; vào cuối năm 1999, các cổ phiếu của Hoa Kỳ đầu tư trực tiếp đã được ước tính $ 116,7 tỷ đồng, hoặc về 72% của tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Canada. Hoa Kỳ đầu tư chủ yếu ở Canada của mỏ và các ngành công nghiệp nấu chảy kim loại,xăng dầu, hóa chất, sản xuất máy móc và thiết bị giao thông vận tải, và tài chính. Canada là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ ba tại Hoa Kỳ. Vào cuối năm 1999, các cổ phiếu của Canada đầu tư trực tiếp tại Hoa Kỳ đã được ước tính $ 90,4 tỷ đồng. Canada đầu tư tại Hoa Kỳ là tập trung vào sản xuất, kinh doanh bán buôn, bất động sản, dầu khí, tài chính, và bảo hiểm và các dịch vụ khác.

Thu nhập trung bình của hộ gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Theo một báo cáo chuẩn bị hàng quý của các Economist Intelligence Unit thay mặt Barclays Wealth dự kiến trong năm 2007 đã có 1.100.000 triệu đôla Mỹ ở Canada[33].

Nước Thu nhập trung bình của hộ gia đình,đơn vị tiền tệ quốc gia Năm Tỷ lệ PPP (OECD) Thu nhập trung bình của hộ gia đình(PPP)
Thụy Sĩ[34] (gross) 101,904 CHF, $81,274 2006 1.762142 $55,901
California, Hoa Kỳ[35] 55,450 USD 2007 1.00 $55,450
Hoa Kỳ 50,233 USD 2007 1.00 $50,233
Canada [36] 53,634 CAD 2005 1.21 $44,000
New Zealand [37] 62,556 NZD 2007 1.54 $41,000
Thuỵ Sĩ[34] (sau khi thuế và bảo hiểm y tế) 71,652 CHF, $57,146 2006 1.8229 $39,306
Vương quốc Anh [38] 24,700 GBP 2004 0.632 $39,000
Australia[39] 53,404 AUD 2006 1.41 $38,000
Israel[40] 107,820 ILS 2006 2.90 $37,000
Cộng hòa Ireland 35,410 EUR 2005 1.02 $35,000
Scotland,Vương quốc Anh[41] 21,892 GBP 2005 0.649 $34,000
Tây Virginia, Hoa Kỳ[42] Hoa Kỳ $33,000
Hồng Kông[43] 186,000 HKD 2005 5.96 $31,000
Singapore[44] 45,960 SGD 2005 1.55 $30,000

Hiệp định Thương mại tự do[sửa | sửa mã nguồn]

(theo nguồn: DFAIT)

Nations that have Free Trade Agreements with Canada are in dark blue, nations in negotiations are in cyan. Canada is green.

Canada đàm phán song phương về trao đổi thương mại với các nước:

Canada cũng tham gia vào đàm phán để tạo ra các khu vực thương mại khối:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

[46]

  1. ^ “IMF slashes Canada's GDP growth for 2009 and 2010Read more: http://www.cbc.ca/money/story/2009/01/28/imf-canada-growth.html#ixzz0eLyxXZT8”. The Daily. Statistics Canada. 2 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2009. 
  2. ^ Canada Distribution of family income - Gini index
  3. ^ “GDP 2006/2007/2008”. IMF. 
  4. ^ “2006 GDP figures”. world bank. 
  5. ^ “Actual hours worked per week by industry, seasonally adjusted (monthly)”. Statistics Canada. 
  6. ^ Danh sách các quốc gia của kinh tế tự do
  7. ^ Central Intelligence Agency (16 tháng 5 năm 2006). “The World Factbook: Canada”. Central Intelligence Agency. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2007. 
  8. ^ Statistics Canada (4 tháng 8 năm 2006). “Latest release from Labour Force Survey”. Statistics Canada. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2006. 
  9. ^ forbes (2 tháng 4 năm 2008). “Latest release”. forbes. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2006. 
  10. ^ a ă Nền kinh tế Canada
  11. ^ Kinh tế Canađa suy giảm mạnh nhất trong 18 năm qua
  12. ^ “Imports, exports and trade balance of goods on a balance-of-payments basis, by country or country grouping”. Statistics Canada. 
  13. ^ “2006 exports/imports”. 
  14. ^ [1]
  15. ^ Howlett, Michael and M. Ramesh. Political Economy of Canada: An Introduction. Toronto: McClelland and Stewart, 1992.
  16. ^ Environment Canada - Energy Consumption
  17. ^ Canada vs. The OECD: An Environmental Comparison
  18. ^ Canada: Thanh bình và Thịnh vượng (phần 1)
  19. ^ The Relative Position of Canada in the World Grain Market
  20. ^ Canada's Domestic Agricultural Supports and the World Trade Organization
  21. ^ Canadian Federation of Agriculture (©2007), CFA - Canadian Federation of Agriculture - Commodities, truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2007 
  22. ^ Canada nền kinh tế mạnh nhất thế giới
  23. ^ Ngành công nghiệp ôtô Canađa dự kiến lỗ 1,8 tỷ USD năm 2009
  24. ^ CIA World Factbook - Canada
  25. ^ Wallace, Iain, A Geography of the Canadian Economy. Don Mills: Oxford University Press, 2002.
  26. ^ The Daily, Friday, 5 tháng 1, 2007. Labour Force Survey
  27. ^ [2]
  28. ^ Imports, exports and trade balance of goods on a balance-of-payments basis, by country or country grouping
  29. ^ FTD - Statistics - Trade Highlights - Top Trading Partners
  30. ^ FTD - Statistics - Country Data - U.S. Trade Balance with European Union
  31. ^ FTD - Statistics - Country Data - U.S. Trade Balance with South and Central America
  32. ^ Agriculture and Agri-Food Canada / Agriculture et Agroalimentaire Canada
  33. ^ (page 7)
  34. ^ a ă “Revenus et dépenses de l'ensemble des ménages, 2006”. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2009. 
  35. ^ “California Median Household income, 2007”. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2009. 
  36. ^ “Canada median household income”. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2008. 
  37. ^ “New Zealand income survey showing median household income”. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007. 
  38. ^ “UK parliament discussion showing median household income”. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2006. 
  39. ^ “Census QuickStats”. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2007. 
  40. ^ “israeli median household income, 2006”. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2008. 
  41. ^ “Scottish Economic Statistics 2007”. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2007. 
  42. ^ “West Virginia, Median Household Income, 2005”. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2007. 
  43. ^ “Hong Kong median household income, 2005”. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2007. 
  44. ^ “Singapore median household income, 2005”. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2007. 
  45. ^ http://www.theglobeandmail.com/servlet/story/RTGAM.20090427.wfreetrade0427/BNStory/National/home
  46. ^ There is an apparent discrepancy between the factbook's 65.4% of GDP estimate for Canada's debt in 2006 [3], and the 30.2% trumpeted by the Canadian government at [4]. Both numbers are correct. The reason is that the Canadian government uses the OECD's net financial liabilities, while the CIA World Factbook uses a different measure of financial liabilities. The OECD itself reports the gross number as 68%, and the net number as 30.2% [5]. The net number places Canada as one of the least indebted G8 countries, while the gross number is less flattering.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Howlett, Michael and M. Ramesh. Political Economy of Canada: An Introduction. Toronto: McClelland and Stewart, 1992.
  • Wallace, Iain, A Geography of the Canadian Economy. Don Mills: Oxford University Press, 2002.

 Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc CIA World Factbook.