Kinh tế Việt Nam
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
- Bài viết này chỉ chứa thông tin về kinh tế Việt Nam sau năm 1986.
| Thông tin ở đây có thể đã lỗi thời hay có thể không còn đúng nữa. Nếu bạn biết gì về thông tin mới cho trang Kinh tế Việt Nam thì xin bạn giúp đỡ cập nhật các thông tin này. (Xin xem phần Trợ giúp ở đây.) |
| Kinh tế Việt Nam | |||
|---|---|---|---|
|
|
|||
| Tiền tệ | Đồng Việt Nam (đ) = 100 xu | ||
| Năm tài chính | Chương trình nghị sự | ||
| Tổ chức TM | APEC, WTO | ||
| Thống kê [2] | |||
| GDP | 71,4 tỉ USD (2007)[3] | ||
| Tăng GDP | 8,2 % (2006) | ||
| GDP đầu người | 800 USD (2007 ước tính) | ||
| GDP(PPP)/người | 3.100 USD (2006 ước tính) | ||
| GDP theo lĩnh vực | Nông nghiệp (15,97 %), lâm nghiệp (1,2%), công nghiệp và xây dựng (40,97 %), dịch vụ (38,1 %) (2006) | ||
| Lạm phát | 7 % (2006) | ||
| Lực lượng lao động | 44,58 triệu (2006 ước tính) | ||
| Lao động theo nghề | Nông nghiệp (56,8 %), công nghiệp (37 %), dịch vụ (6.2%) (2005 ước tính) | ||
| Thất nghiệp | 6,1 % (2003) | ||
| Ngành công nghiệp chính | Dầu mỏ, sản xuất quần áo, giầy dép, xi măng, thép, hóa chất, vật liệu xây dựng, than, chế biến thực phẩm | ||
| Trao đổi thương mại [4] | |||
| Xuất khẩu | 32,23 tỉ USD (2005) | ||
| Mặt hàng xuất khẩu | Dầu thô (23%), hàng dệt may (15 %), giầy dép (9,3%), hải sản (8,5%), điện tử máy tính (4,5%), gạo (4,3%), cao su (2,4%), cà phê (2,2%) (năm 2005). | ||
| Đối tác xuất khẩu | Hoa Kỳ (20%), Nhật Bản (14%), Trung Quốc (9%) Úc (7%), Singapore (5%), Đài Loan (4%), Đức (4%), Anh (4%), Pháp (2%), Hà Lan (2%), các nước khác (29%) (năm 2003). | ||
| Nhập khẩu | 36,88 tỉ tỉ USD (2005) | ||
| Mặt hàng nhập khẩu | Máy móc, thiết bị (14,2%), xăng dầu (13,5%), thép (8%), vải (6,5%), nguyên phụ liệu dệt may da (6,3%), điện tử máy tính (4,6%), phân bón (1,8%). | ||
| Tài chính công [5] | |||
| Nợ nước ngoài | 35,5 % GDP (2004) | ||
| Thu | 8,689 tỉ USD (2003) | ||
| Chi | 9,718 tỉ USD (2003) | ||
| Viện trợ | Nhận viện trợ, 2.8 tỷ USD (2004) | ||
| edit | |||
Sau hơn 20 năm, với chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có một bước chuyển đổi cơ bản từ một nền kinh tế tập trung thành một nền kinh tế thị trường đầy đủ. Trong suốt thời kỳ này, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh. Mặc dù Việt Nam vẫn còn một khoảng cách khá xa so với các nước giàu có, song với sự điều hành hợp lý của chính phủ Việt Nam, đầu tư nước ngoài ngày càng tăng, và các yếu tố thuận lợi khác trong nước đang giúp cho nền kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển và đất nước trở lên giàu hơn.
Mục lục |
[sửa] Khuynh hướng kinh tế vĩ mô
Sau đây là số liệu về tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam theo giá so sánh năm 1994 do Tổng cục Thống kê công bố:
| Năm | Tổng sản phẩm quốc nội (nghìn tỷ đồng) | Tốc độ tăng so với năm trước (%) |
|---|---|---|
| 1986 | 109,2 | 2,8 |
| 1987 | 113,1 | 3,6 |
| 1988 | 120,0 | 6,0 |
| 1989 | 125,6 | 4,7 |
| 1990 | 132,0 | 5,1 |
| 1991 | 139,6 | 5,8 |
| 1992 | 151,8 | 8,7 |
| 1993 | 164,1 | 8,1 |
| 1994 | 178,5 | 8,8 |
| 1995 | 195,6 | 9,5 |
| 1996 | 213,8 | 9,3 |
| 1997 | 231,3 | 8,2 |
| 1998 | 244,7 | 5,8 |
| 1999 | 256,2 | 4,8 |
| 2000 | 273,6 | 6,8 |
| 2001 | 292,5 | 6,9 |
| 2002 | 313,2 | 7,1 |
| 2003 | 336,2 | 7,3 |
| 2004 | 362,4 | 7,8 |
| 2005 | 393,0 | 8,4 |
| 2006 | 8,2 | |
| 2007 | 1.144[1] |
Ghi chú: Số liệu ước tính.
[sửa] Thống kê của Quỹ tiền tệ quốc tế
Các số liệu thống kê về xu hướng tăng tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam theo giá cả trên thị trường được ước tính bởi Quỹ tiền tệ quốc tế. Một vài cột đã được được điều chỉnh để tính toán cho sự lạm phát.
| Năm | GDP đầu người
theo sức mua tương đương (USD) |
GDP, tỉ đồng VN (danh nghĩa) |
GDP, tỉ đồng VN (đã điều chỉnh) |
Tăng trưởng GDP (đã điều chỉnh) |
Lạm phát |
|---|---|---|---|---|---|
| 1986 | 731 | 609.708 | 108,126.000 | 3.4% | 774,5%[2] |
| 1987 | 753 | 2,605.109 | 110,882.000 | 2.5% | 360.4% |
| 1988 | 803 | 11,152.383 | 116,537.000 | 5.1% | 374.4% |
| 1989 | 880 | 28,093.000 | 125,627.000 | 7.8% | 95.8% |
| 1990 | 942 | 41,955.000 | 131,968.000 | 5.0% | 36.0% |
| 1991 | 1,013 | 76,707.000 | 139,634.000 | 5.8% | 81.8% |
| 1992 | 1,107 | 110,532.000 | 151,782.000 | 8.7% | 37.7% |
| 1993 | 1,203 | 140,258.000 | 164,043.000 | 8.1% | 8.4% |
| 1994 | 1,315 | 178,534.000 | 178,534.000 | 8.8% | 9.5% |
| 1995 | 1,446 | 228,892.000 | 195,567.000 | 9.5% | 16.9% |
| 1996 | 1,585 | 272,036.000 | 213,833.000 | 9.3% | 5.7% |
| 1997 | 1,716 | 313,623.000 | 231,264.000 | 8.2% | 3.2% |
| 1998 | 1,807 | 361,016.000 | 244,596.000 | 5.8% | 7.7% |
| 1999 | 1,892 | 399,942.000 | 256,272.000 | 4.8% | 4.2% |
| 2000 | 2,037 | 441,646.000 | 273,666.000 | 6.8% | -1.7% |
| 2001 | 2,200 | 481,295.000 | 292,535.000 | 6.9% | -.4% |
| 2002 | 2,365 | 535,762.000 | 313,247.000 | 7.1% | 4.0% |
| 2003 | 2,553 | 613,442.488 | 336,242.808 | 7.3% | 3.2% |
| 2004 | 2,784 | 713,071.948 | 362,092.796 | 7.7% | 7.7% |
| 2005 | 3,025 | 806,854.877 | 389,243.583 | 7.5% | 8.0% |
| 2006 | 3,255 | 889,461.775 | 417,905.534 | 7.4% | 7.0% |
| 2007 | 3,503 | 982,013.527 | 448,646.166 | 7.4% | 12.6% |
[sửa] Lịch sử sau năm 1985
Năm 1986, Đại hội lần thứ 6 Đảng cộng sản Việt Nam chính thức từ bỏ hình thức kinh tế kế hoạch hoá Mác xít và bắt đầu đi theo các khuynh hướng kinh tế thị trường coi đó là một phần trong kế hoạch cải cách kinh tế tổng thể, được gọi là "Đổi mới". Đổi mới, theo nhiều hình thức, tương tự với mô hình Trung Quốc, và đã mang lại nhiều thành công. Một mặt, Việt nam đạt mức tăng trưởng GDP ở mức khoảng 8% một năm trong giai đoạn 1990 tới 1997 và tiếp tục duy trì ở mức khoảng 7% từ năm 2000 đến 2002, khiến nước này có tốc độ phát triển kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới. Tương tự, đầu tư tăng gấp ba lần và tiết kiệm trong nước tăng gấp bốn lần. Mặt khác, tỷ lệ thất nghiệp thành thị cũng tăng đều trong những năm gần đây, và tỷ lệ thất nghiệp nông thôn được ước tính lên tới 35% ngoài thời gian mùa vụ, ở mức đáng báo động. Tình trạng giãn thợ trong khu vực kinh tế nhà nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cộng thêm những ảnh hưởng của quá trình giải ngũ quân đội trước đó càng làm tình hình trầm trọng thêm.
Dù có mức tăng trưởng ấn tượng tới 23% trong năm 1999 ở lĩnh vực xuất khẩu đạt tới 11.5 tỷ USD, sự suy giảm rõ rệt trong cam kết đầu tư nước ngoài báo trước một sự giảm sút tăng trưởng kinh tế so với giai đoạn đầu thập kỷ 1990. Việc chính phủ kiểm soát nền kinh tế cộng với một đồng tiền tệ không chuyển đổi được đã bảo vệ Việt Nam khỏi những tác động nghiêm trọng từ cuộc Khủng hoảng tài chính Đông Á. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng cộng với việc để mất đà tăng trưởng trong giai đoạn cải cách kinh tế đầu tiên cũng giúp nước này nhận thấy những vấn đề kém hiệu quả nghiêm trọng bên trong cơ cấu kinh tế.
Vị thế kinh tế Việt Nam sau cuộc khủng hoảng Đông Á cũng đáng lo ngại, sau sự cố này, chính phủ Việt Nam nhấn mạnh sự ổn định kinh tế vĩ mô hơn là sự tăng trưởng, áp dụng nguyên tắc "chậm mà chắc". Trong khi đất nước đang tiến về một nền kinh tế theo định hướng thị trường, chính phủ Việt Nam tiếp tục quản lý chặt chẽ các lĩnh vực chính của nền kinh tế, như hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp nhà nước, và các lĩnh vực đầu tư nước ngoài.
Việc ký kết Thoả thuận thương mại song phương (BTA) ngày 13 tháng 7, 2000 giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là một mốc quan trọng đối với kinh tế Việt Nam. BTA khiến hàng hoá Việt Nam được hưởng quy chế Quan hệ thương mại bình thường (NTR) trên thị trường Hoa Kỳ. Khả năng tiếp cận thị trường Hoa Kỳ sẽ cho phép Việt Nam nhanh chóng tiếp tục quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế dựa trên sản xuất với định hướng xuất khẩu. Nó cũng khiến đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, không chỉ từ Hoa Kỳ mà còn từ Châu Âu, Châu Á, và các vùng khác tăng thêm.
[sửa] Nông nghiệp và Công nghiệp
Sau nhiều biện pháp cải cách ruộng đất, hiện Việt Nam là nhà sản xuất đào lộn hột lớn nhất thế giới với một phần ba thị trường toàn cầu và nhà xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Bên cạnh gạo, các mặt hàng xuất khẩu chính khác là hồ tiêu,cà phê, chè, cao su, và các sản phẩm thuỷ sản. Tuy nhiên, phần trăm nông nghiệp trong toàn cảnh kinh tế đã có sự suy giảm, từ mức 42% GDP năm 1989 xuống còn 26% năm 1999, bởi sản lượng sản xuất trong các lĩnh vực khác đã tăng lên.
Song song với những nỗ lực tăng sản lượng nông nghiệp, Việt Nam đã tìm cách tăng cường sản lượng sản phẩm công nghiệp. Công nghiệp chiếm 32.5% GDP năm 1999. Tuy nhiên, đa số các ngành công nghiệp nặng – xi măng, phosphate, thép vân vân – đều ở tình trạng trì trệ hay thụt lùi. Tuy vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) – đa số tập trung vào các vùng công nghiệp mới ở phía nam – dù sao đã cho thấy một số bước hướng về việc chuyển đổi sang một nền kinh tế công nghiệp.
Ngoài ra, Việt Nam đã có được một số thành công trong tăng trưởng xuất khầu các mặt hàng cần nhiều nhân công trong những năm gần đây.
Mỏ là một lĩnh vực công nghiệp quan trọng ở Việt Nam. Than là một mặt hàng xuất khẩu chính của nước này. Các xí nghiệp hoá chất tại Việt Nam đang dần phát triển. Đóng góp vào việc cải thiện tổng thể nền kinh tế.
[sửa] Thương mại và Cân bằng thanh toán
Từ cuối thập kỷ 1970 tới thập kỷ 1990, Việt Nam là một thành viên của Comecon, và vì thế phụ thuộc nhiều vào thương mại với Liên bang xô viết và các nước đồng minh Đông Âu. Sau khi Comecon giải tán và mất đi các đối tác thương mại truyền thống, Việt Nam buộc phải tự do hoá thương mại, phá giá tiền tệ để tăng cường xuất khẩu, và tiến hành chính sách tư bản hoá kinh tế vùng cũng như quốc tế.
Trong suốt thập niên 1990, xuất khẩu tăng trưởng ngoạn mục ở mức 20%-30% một số năm. Năm 1999, xuất khẩu chiếm tới 40% GDP, một con số ấn tượng tại vùng Châu Á đang hồi phục sau khủng hoảng. Những nỗ lực nhằm kiểm soát mức tăng trưởng nhập khẩu của Việt Nam khá thành công. Trong bốn năm qua, mức nhập khẩu khá ổn định. Năm 1999, trong hai năm liên tiếp, Việt Nam có thặng dư trong thanh toán thương mại. Thặng dư thương mại của Việt Nam không chỉ xuất phát từ tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ mà còn tự những hộ trợ phát triển chính thức cũng như số tiền được gửi về từ những người Việt ở nước ngoài. Tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam ở mức 37.1% GDP năm 1999, tương đương 10.6 tỷ dollar.
Bảng: Tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu trung bình hàng năm(%)
| Giai đoạn | Nhập khẩu | Xuất khẩu |
|---|---|---|
| 1986-1990 | 28,0 | 8,2 |
| 1991-1995 | 17,8 | 24,3 |
| 1996-2000 | 21,6 | 13,9 |
| 2001-2005 | 17,5 | 18,8 |
Nguồn: Tổng cục Thống kê
[sửa] Các số liệu thống kê
GDP:
- Theo sức mua tương đương: 280 tỉ USD (2006 ước tính)
- Tỷ lệ tăng trưởng thật sự: 8,2% (2006 ước tính)
- Trên đầu người: sức mua tương đương - 3.300 USD (2006 ước tính)
- Tỷ lệ theo lĩnh vực:
- nông nghiệp: 20,1%
- công nghiệp: 41,8%
- dịch vụ: 38,1% (2006 ước tính)
Dân số:
- Dưới mức nghèo khổ: 18,7% (2006 ước tính)
- thu nhập hộ hay tiêu thụ theo phần trăm:
- thấp nhất 10%: 3,6%
- cao nhất 10%: 29,9% (1998)
Lực lượng lao động:
- 44,58 triệu (2006 ước tính)
- Theo nghề nghiệp:
- Nông nghiệp 56,8%
- Công nghiệp 37%
- Dịch vụ 6,2% (2005 ước tính)
- Tỷ lệ thất nghiệp: 6.1% (2003 ước tính)
Ngân sách:
- Thu: 8.689 tỷ dollar
- Chi: 9.718 tỷ dollar, gồm chi phí vốn 1.8 tỷ dollar (2003 ước tính)
Sản xuất công nghiệp:
- Sản phẩm: chế biến thực phẩm, áo quần, giầy, máy xây dựng, mỏ, xi măng, phân bón hoá chất, kính, săm lốp, dầu mỏ, than, thép, giấy
- Tỷ lệ tăng trưởng: 16% (2003 ước tính)
Điện:
- Sản xuất: 29,800 GWh (2001)
- Theo nguồn:
- Nhiên liệu hoá thạch: 12.95%
- Nước: 87.05%
- Hạt nhân: 0%
- Khác: 0% (1998)
- Tiêu thụ: 27,710 GWh (2001)
- Xuất khẩu: 0 kWh (2001)
- Nhập khẩu: 0 kWh (2001)
Nông nghiệp:
- Sản phẩm: gạo, ngô, khoai tây, cao su, đỗ tương, cà phên, chè, chuối, gà, lợn, cá
Xuất khẩu:
- 19.88 tỷ dollar (f.o.b., 2003 ước tính)
- Các hàng hoá: dầu thô, sản phẩm biển, gạo, cà phê, cao su, chè, may mặc, giầy
- Đối tác: Nhật Bản, Đức, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Pháp, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa
Nhập khẩu:
- $22.5 tỷ dollar (f.o.b., 2003 ước tính)
- Hàng hoá: máy móc và thiết bị, sản phẩm hoá dầu, phân bón, các sản phẩm thép, nguyên liệu bông, ngũ cốc, xi măng, xe máy
- Đối tác: Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan, Thuỵ Điển
Nợ:
- Nước ngoài: 14.69 tỷ dollar (2003)
Trợ giúp kinh tế
- Nhận: 2.8 tỷ dollar tín dụng và các khoản bảo đảm từ các nhà tài trợ trong năm 2000 (2004)
Tiền tệ:
- 1 đồng (D hay ₫) = 100 xu
- Tỷ lệ lạm phát (giá hàng hoá tiêu dùng): 4% (1999 ước tính)
- Tỷ lệ trao đổi: đồng (D) trên dollar Mỹ 1 - 15,788 (tháng 1, 2005), 14,020 (tháng 1, 2000), 13,900 (tháng 12, 1998), 11,100 (tháng 12, 1996), 11,193 (1995 trung bình), 11,000 (tháng 10, 1994), 10,800 (tháng 11, 1993)
- năm tài chính: năm dương lịch
[sửa] Xem thêm
[sửa] Liên kết ngoài
- Các thông tin tin tức kinh tế Việt Nam, thế giới
- Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ[7] [8]
- Hội thảo Các yếu tố thúc đẩy và kìm hãm phát triển kinh tế Việt Nam
[sửa] Ghi chú
| Kinh tế châu Á | |
|---|---|
|
Afghanistan | Armenia1 | Azerbaijan1 | Ả Rập Saudi | Ấn Độ | Bahrain | Bangladesh | 2 | Brunei | Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất | Campuchia |2 | Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc)4 | Đông Timor | Gruzia1 | Hàn Quốc |3 | Indonesia | Iran | Iraq | Israel | Jordan | Kazakhstan1 | Kuwait | Kyrgyzstan | Lào | Liban |3 | Malaysia | Maldives | Mông Cổ | Myanma | Nepal | Nhật Bản | Oman | Pakistan | Palestin | Philippin | Qatar | Singapore | Síp1 | Sri Lanka | Syria | Tajikistan | Thái Lan | Triều Tiên | Trung Quốc | Turkmenistan | Uzbekistan | Việt Nam | Yemen |

