Tôn giáo tại Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tôn giáo tại Việt Nam khá đa dạng, gồm có các nhánh Phật giáo như Đại thừa, Tiểu thừa, Hòa Hảo..., một số nhánh Kitô giáo như Công giáo Rôma, Tin Lành, tôn giáo nội sinh như Đạo Cao Đài, và một số tôn giáo khác. Nền tín ngưỡng dân gian bản địa cho tới nay vẫn có ảnh hưởng nhất định tại Việt Nam.

Nhiều người dân Việt Nam xem họ là những người không tôn giáo, mặc dù họ có đi đến các địa điểm tôn giáo vào một vài dịp trong năm. Theo tác giả Trần Đình Hượu, người Việt Nam được cho là ít có tinh thần tôn giáo, các tôn giáo thường được tập trung ở mặt thờ cúng, còn mặt giáo lý, tinh thần lại ít được quan tâm.[1] Theo số liệu cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 thì toàn quốc có 15.651.467 người xác nhận mình theo một tôn giáo nào đó.[2] Cùng với đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là 1 loại hình sinh hoạt tôn giáo phổ biến, được thực hành bởi đa số dân cư.[3]

Chính phủ Việt Nam đã thành lập Ban Tôn giáo Chính phủ để điều hợp hoạt động của các tôn giáo, tín ngưỡng.



Circle frame.svg

Tôn giáo tại Việt Nam theo cuộc khảo sát của Pew Research Center, không tương thích với các số liệu thống kê chính thức của Chính phủ Việt Nam cho rằng những người không tôn giáo chiếm 81%.[4][5]

  Phật giáo (16.4%)
  Kitô giáo (8.2%)
  Không tôn giáo (29.6%)
  Khác (0.5%)
Tôn giáo theo điều tra chính thức của Chính phủ[6]
Tôn giáo tỉ lệ
Không tôn giáo
  
81.69%
Phật giáo
  
7.93%
Công giáo
  
6.62%
Hòa Hảo
  
1.67%
Cao Đài
  
1.01%
Tin Lành
  
0.86%
Khác
  
0.22%

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam thời cổ đã có các hình thức thực hành tôn giáo đối với các đối tượng tự nhiên. Các hình trang trí trên trống đồng Đông Sơn đã phản ánh các nghi lễ tôn giáo thời ấy, trong đó mô tả rất nhiều về hình ảnh một loài chim, mà cụ thể là chim Lạc, khiến các sử gia tin rằng, chúng là đối tượng được người Việt cổ tin thờ. Ngoài ra, con rồng cũng được xuất hiện nhiều trong các sản phẩm nghệ thuật, mỹ thuật Việt Nam, phát sinh từ việc thờ kính Lạc Long Quân, một huyền thoại về người được cho là cha đẻ của dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, các đối tượng tự nhiên khác như động vật, núi, sông, biển... cũng được người Việt tôn làm thần bảo vệ, chúc phúc cho con người. Tôn giáo tại Việt Nam có mối liên hệ với nền văn minh Trung Hoavăn minh Ấn Độ nhưng người Việt còn kết hợp yếu tố truyền thống đạo đức dân tộc mình vào đó để hình thành tôn giáo mang bản sắc riêng.

Trong thời quân chủ tại Việt Nam, Nho giáo được chính quyền khuyến khích, được xem là nền tảng của chế độ khoa cử, nhiều văn miếu được xây dựng trong cả nước. Tuy nhiên trong các triều đại như nhà Lý, nhà Trần và các chúa Nguyễn Phật giáo cũng có vai trò quan trọng trong triều đình và được các chính quyền phong kiến khuyến khích. Các tôn giáo có mặt lâu đời tại Việt Nam là Khổng giáo, Lão giáoPhật giáo (gọi chung là tam giáo).

Phật giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong số các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo có số tín đồ đông đảo nhất. Theo thống kê dân số năm 2009 thì số tìn đồ Phật Giáo là 6.802.318 người trong đó 2.988.666 tín đồ ở thành thị và 3.813.652 tín đồ ở nông thôn, địa phương tập trung đông đảo tin đồ Phật giáo nhất là thành phố Hồ Chí Minh với 1.164.930 tín đồ [7]. Còn theo số liệu thống kê của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cả nước có gần 45 triệu tín đồ đã quy y Tam bảo, có 839 đơn vị gia đình Phật tử[8] và khoảng 44.498 tăng ni; hơn 14.775 tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường trong cả nước. Ngoài ra từ 80% đến 90% dân số Việt Nam mang thiên hướng Phật giáo[9][10].

Có hai nhánh Phật giáo ở Việt Nam là Đại thừaTiểu thừa. Phật giáo Đại thừa lần đầu tiên từ Trung Quốc vào tới vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng của Việt Nam từ khoảng năm 200 và trở thành tôn giáo phổ biến nhất trên toàn đất nước, trong khi Phật giáo Tiểu thừa từ Ấn Độ du nhập vào phía nam đồng bằng sông Cửu Long từ khoảng năm 300 - 600 và trở thành tôn giáo chính ở vùng đồng bằng phía nam Việt Nam.

Có thuyết khác lại cho rằng Phật giáo bắt đầu truyền vào Việt Nam trong khoảng thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ hai trước công nguyên từ Ấn Độ theo đường biển chứ không phải từ Trung Hoa. Lúc đầu Phật giáo tại Việt Nam (đồng bằng châu thổ sông Hồng) mang màu sắc của Phật giáo Tiểu thừa nhưng về sau do ảnh hưởng của Trung Hoa mời chuyển dần thành Đại thừa[11]

Phật giáo Đại thừa được nhiều người thừa nhận là tôn giáo chính của người Việt[12], người Hoa và một số dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi phía Bắc như Mường, Thái, Tày... Phật giáo Đại thừa tại Việt Nam có ba tông phái chính là Thiền tông, Tịnh Độ tôngMật tông. Trong thực tế Phật giáo Đại thừa ở Việt Nam tồn tại hòa hợp với Đạo giáo, Khổng giáo và các đức tin bản địa như tục thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu.[13]

Phật giáo Tiểu thừa thì lại được coi là tôn giáo chính của người Khmer tại Việt Nam.

Công giáo Rôma[sửa | sửa mã nguồn]

Công giáo Rôma (hay Thiên Chúa giáo La Mã), lần đầu tiên tới Việt Nam vào thời nhà Lê mạt (đầu thế kỉ 16 tại Nam Định) bởi những nhà truyền giáo Tây Ban NhaBồ Đào Nha, trước khi Việt Nam là một thuộc địa của Pháp. Chính quyền Pháp không khuyến khích người dân theo tôn giáo nào, nhưng họ bảo đảm quyền tự do tôn giáo lần đầu tiên trên đất nước Việt Nam, nhất là Bắc KỳNam Kỳ nơi dưới sự bảo hộ của Pháp. Nhờ vậy Công Giáo (cũng như những tôn giáo khác) đã thoát khỏi thời kỳ bách hại lớn nhất dưới các triều đại phong kiến kể từ thế kỷ thứ 16. Đầu tiên, tôn giáo này được lan truyền trong dân cư các tỉnh ven biển Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, sau đó lan tới vùng châu thổ sông Hồng và các vùng đô thị.

Theo thống kê năm 2009 ở Việt Nam có khoảng 5.677.086 tín đồ Công giáo trong đó có 1.776.694 tín đồ ở khu vực thành thị và 3.900.392 ở các khu vực nông thôn, địa phương có đông đảo tín đồ Công giáo nhất là tỉnh Đồng Nai với 797.702 tín đồ [7], và khoảng 6.000 nhà thờ tại nhiều nơi trên đất nước[14].[15].

Số giám mục người Việt được Tòa Thánh tấn phong trong 80 năm thời Pháp thuộc là 4 người, trong 30 năm chiến tranh (1945-1975) là 33 người ở cả hai miền, từ năm 1976 đến 2004 là 42 người. Vatican đã có thỏa thuận với chính phủ Việt Nam về việc không chỉ trích hay nói xấu lẫn nhau, không hỗ trợ bên thứ ba để chống lại nhau; khi tấn phong giám mục hoặc các chức phẩm cao hơn, Vatican sẽ tham khảo ý kiến của chính phủ Việt Nam.[14]

Phật giáo Hòa Hảo[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hòa Hảo
Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo ở tỉnh An Giang

Hòa Hảo, hay Phật giáo Hòa Hảo, là một tôn giáo Việt Nam gắn chặt với truyền thống Phật giáo, do Huỳnh Phú Sổ thành lập năm 1939 tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu (nay Thị Trấn Phú Mỹ, Huyện Phú Tân, Tỉnh Angiang).

Đạo Hoà Hảo phát triển ở miền Tây Nam Bộ, kêu gọi mọi người sống hòa hợp. Tôn giáo này đánh giá cao triết lý "Phật tại tâm", khuyến khích nghi lễ thờ cúng đơn giản (chỉ có hoanước sạch) và loại bỏ mê tín dị đoan. Những buổi lễ được tổ chức rất đơn giản và khiêm tốn, không có ăn uống, hội hè. Lễ lộc, cưới hỏi hay ma chay không cầu kỳ như thường thấy ở những tôn giáo khác. Đạo không có tu sĩ, không có tổ chức giáo hội mà chỉ có một số chức sắc lo việc đạo và cả việc đời.

Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ ba tại Việt Nam. tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ (Đặc biệt là An Giang với 936.974 tín đồ Phật Giáo Hòa Hỏa là tỉnh có số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đông nhất cả nước).[7]

Cao Đài[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đạo Cao Đài

Cao Đài, hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là một tôn giáo bản địa Việt Nam do Ngô Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc thành lập năm 1926, với trung tâm là Tòa Thánh Tây Ninh. Tôn giáo này thờ Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Các tín đồ Cao Đài thi hành những giáo điều như không sát sanh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành, lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng Đế nơi Thiên Giới và mục tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi.

Theo điều tra Ban Tôn giáo chính phủ, có 3 triệu người tự xem mình là tín đồ Cao Đài [7] phân bố tại 39 tỉnh thành cả nước đông nhất là tại Tây Ninh và khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Bắc Mỹ, Châu ÂuÚc.

Tin Lành[sửa | sửa mã nguồn]

Tin Lành được truyền vào Việt Nam năm 1911. Đầu tiên, tôn giáo này chỉ được cho phép tại các vùng do Pháp quản lý và bị cấm tại các vùng khác. Đến năm 1920, Tin Lành mới được phép hoạt động trên khắp Việt Nam. Năm 2009, số tín đồ Tin Lành ở Việt Nam là 734.168 [7] chủ yếu tập trung ở khu vực Tây NguyênTây Bắc và là tôn giáo chính của nhiều dân tộc thiểu số. Tỉnh có đông đảo tín đồ Tin Lành nhất là Đăk Lăk với 149.526 tín đồ [7]

Hồi giáo và Hindu giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết tín đồ Hồi giáo và Hindu giáo tại Việt Nam là người Chăm. Người ta cho rằng Hồi giáo đã được truyền vào Việt Nam đầu tiên là khoảng thế kỉ 10, 11, ở cộng đồng người Chăm. Năm 2009, tại Việt Nam có khoảng 75.268 tín đồ Hồi giáo, chủ yếu ở Bình Thuận, Ninh Thuận, An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh trong đó đông nhất là tại Ninh Thuận với 25.513 tín đồ. Có hai giáo phái Hồi giáo của người Chăm: người Chăm ở Châu Đốc, TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh và Đồng Nai theo Hồi giáo chính thống, còn người Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuật theo phái Chăm Bà Ni.

Một tôn giáo chính khác của cộng đồng người Chăm là đạo Bà la môn với 56.427 tín đồ tập trung chủ yếu ở Ninh Thuận với 40.695 tín đồ

Các tôn giáo khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài 7 tôn giáo lớn Việt Nam còn có nhiều tôn giáo nhỏ khác được chính quyền công nhận như: Tứ Ân Hiếu Nghĩa (41.280 tín đồ),Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam (11.093), (Bửu Sơn Kỳ Hương (10.824 tín đồ), Minh Lý Đạo, Minh Sư Đạo, Baha'i.

Ngoài ra còn có một vài tin ngưỡng và tôn giáo không chính thức như.

  • Các tín ngưỡng bản địa ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc. Đạo Ông Trần tại Đảo Long Sơn, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
  • các tín ngưỡng phụ phổ biến như Đạo Mẫu, Đạo giáo, Nho giáo, thờ Thành hoàng, Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Đa phần các tín ngưỡng phụ này được tích hợp và chấp nhận bởi hầu hết các tín đồ Phật GiáoPhật Giáo Hòa Hảo. Trong các cuộc điều tra về tôn giáo của Viện Nghiên cứu Tôn giáo tiến hành từ 1995 đến 2007 thì số người thực hiện việc thờ cúng tổ tiên chiếm tỷ lệ trung bình là 98% dân số.[3]

Không tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Người không tôn giáo có thể tin vào thuyết vô thần, Thuyết bất khả tri hay theo Chủ nghĩa nhân văn[cần dẫn nguồn]. Chính phủ Việt Nam theo khuynh hướng thế tục, trong đó Chủ nghĩa Marx-Lênin, Chủ nghĩa dân tộcTư tưởng Hồ Chí Minh được nhà nước xem như hệ tư tưởng chính trị chính của đất nước, được khuyến khích trên các phương tiện thông tin và giảng dạy trong các trường học. Tính đến năm 2011, Việt Nam có khoảng 3,6 triệu Đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam và theo số liệu năm 2007 có khoảng 6,1 triệu Đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Tuy nhiên đại đa phần những người tự xác định mình là không theo bất cứ tôn giáo nào vẫn duy trì Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở nhiều mức độ khác nhau.[3]

Loạt bài
Văn hóa Việt Nam
Cố đô Huế
Các khía cạnh văn hóa Việt Nam
Các vùng văn hoá Việt Nam
   Văn hóa vùng Tây bắc
   Văn hóa vùng Đông bắc
   Đồng bằng Bắc Bộ
   Văn hóa Bắc Trung Bộ
   Văn hóa Nam Trung Bộ
   Văn hóa Tây Nguyên
   Văn hóa Đông Nam Bộ
   Văn hóa Tây Nam Bộ
sửa

Các tổ chức quản trị tôn giáo được Chính phủ công nhận[sửa | sửa mã nguồn]

TT Tôn giáo Tổ chức quản trị[16]
1 Phật giáo Giáo hội Phật giáo Việt Nam
2 Công giáo Hội đồng Giám mục Việt Nam
3 Tin Lành Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc)
Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam)
Hội thánh Cơ đốc Truyền giáo Việt Nam
Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam
Tổng hội Báp-tít Việt Nam
Hội thánh Báp-tít Việt Nam
Hội thánh Tin Lành Trưởng lão Việt Nam
Hội thánh Tin Lành Men-nô-nai
Hội thánh Liên hữu Cơ Đốc Việt Nam
Hội thánh Phúc Âm Ngũ tuần Việt Nam
4 Cao Đài Hội thánh Cao Đài Tiên Thiên
Hội thánh Minh Chơn đạo Hậu Giang
Hội thánh Chiếu Minh Long Châu
Hội thánh Truyền giáo Cao Đài
Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh
Hội thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo
Hội thánh Cao Đài Bạch y Liên đoàn Chơn Lý
Hội thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan
Cơ quan Phổ thông giáo lý Đại đạo Tam kỳ Phổ độ
Giáo hội Cao Đài Việt Nam
Pháp Môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi
5 Phật Giáo Hòa Hảo Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo
6 Hồi giáo Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo Thành phố Hồ Chí Minh
Ban Đại diện Cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang
Hội đồng Giáo cả Hồi giáo Bani tỉnh Ninh Thuận
7 Bahá'í Hội đồng Tinh thần Đạo Bahá'í Việt Nam
8 Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam
9 Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa Đại hội Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
10 Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương
11 Minh Sư Đạo Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư đạo
12 Minh Lý Đạo Minh Lý Đạo Tam Tông Miếu
13 Bà-la-môn Hội đồng chức sắc Chăm Bà-la-môn tỉnh Ninh Thuận

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trần Đình Hượu, Đến hiện đại từ truyền thống. 1994, trang ?
  2. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, phần 1
  3. ^ a ă â , Lê Đức Hạnh, Vấn đề thờ cúng tổ riên của người Công giáo vùng đồng bằng Bắc bộ
  4. ^ “Global Religious Landscape table”. The Pew Forum. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014. 
  5. ^ The Global Religious Landscape 2010. The Pew Forum.
    The Global Religious Landscape 2010 - Buddhism. The Pew Forum.
    The Global Religious Landscape 2010 - Folk religions. The Pew Forum.
    The Global Religious Landscape 2010 - Unaffiliated. The Pew Forum.
  6. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng Cục Thống kê Việt Nam
  7. ^ a ă â b c d Tổng Cục Thống Kê (năm ?)
  8. ^ Theo số liệu thống kê của Ban Hướng dẫn Phật tử, Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong bài phát biểu của HT Thích Thiện Nhơn Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đọc trong ngày kỷ niệm 27 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (07/11/1981 – 07/11/2008) được đăng trên báo Giác Ngộ cơ quan ngôn luận của Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh [1]
  9. ^ Phật tử Việt Nam
  10. ^ Hữu Ngọc, Phật giáo phủ hộp với tư tưởng người Việt, Đại Học Văn Hóa Hà Nội
  11. ^ Theo Hoa Sen
  12. ^ GSTS. Nguyễn Chung Tú Vị trí của Phật giáo trong cộng đồng tôn giáo
  13. ^ [2]
  14. ^ a ă Mai Lý Quảng, tr. 119
  15. ^ Theo linh mục Antôn Nguyễn Ngọc Sơn, Giáo hội Công giáo tại Việt Nam hiện có 5 triệu 700 ngàn giáo dân trong tổng số dân 82 triệu, với 3.100 linh mục, 14.400 tu sĩ, 1.249 đại chủng sinh, và 53.800 giáo lý viên [3]
  16. ^ Đăng ký hoạt động và công nhận tổ chức tôn giáo

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mai Lý Quảng, Glimpses of Vietnam, NXB Thế Giới, Hà Nội 2004

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]