Nho giáo Việt Nam
Nho giáo Việt Nam được xem là một trong những tín ngưỡng quan trọng của Việt Nam, đóng góp trong việc xây dựng chỗ dựa vững chắc trong việc phát triển kinh tế, lịch sử, kiến trúc và tồn tại các triều đại phong kiến như Nhà Lý, Nhà Trần, Nhà Lê, Nhà Nguyễn,... Hiện nay có khoảng 3,5% đến khoảng 4% dân số theo Nho giáo, nhưng hầu hết là ở Bắc Bộ.
Mục lục |
Quá trình du nhập [sửa]
Đã có một số bằng chứng cho thấy Nho giáo được truyền vào thế kỷ 1 TCN khi ở Trung Quốc nhà Tây Hán đã đánh bại tập đoàn phong kiến họ Triệu và giành lấy quyền thống trị và cho lập 3 quận tại Bắc Bộ, tuy niên tầm ảnh hưởng Nho giáo còn rất hạn chế, song song đó Nho giáo là công cụ thống trị của chính quyền đô hộ và phục vụ cho chính quyền đô hộ, Nho giáo còn được xem để du nhập chữ Hán vào Việt Nam và dần Hán hóa ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam tạo ra về mặt kỹ thuật với một kho tàng tri thức về xã hội và tự nhiên, đó là nền văn học, sử học, triết học, thiên văn học và y học được tiếp thu từ người Trung Hoa cổ đại.[1]
Đến thế kỷ 9, sau chiến thắng Bạch Đằng vĩ đại của Ngô Quyền, khi dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên độc lập, tự chủ và thực sự bắt tay vào xây dựng nền văn minh Đại Việt trong khuôn khổ của một nhà nước phong kiến quân chủ tập quyền, thì xã hội Việt Nam lúc này mới đặt ra những yêu cầu đối với sự tồn tại và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam, đầu tiên phải kể đến là muốn tồn tại thì phải truyền bá Nho giáo đến người dân, củng cố quyền lực phong kiến lớn mạnh và không bị giặc ngoài tấn công.
Vì quyền lực của nhà nước đó nằm trong tay nhà vua, nên chữ “trung” của Nho giáo cần được tiếp thu để củng cố quyền lực của nhà vua. Ngay từ thời Lý – Trần, trung với vua không tách rời trung với nước, vì đó là những ông vua thực sự điều hành cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc Việt Nam đi đến thắng lợi. Ở Việt Nam, “trung” thường gắn với “nghĩa” nhằm đề cao trách nhiệm của con người đối với Tổ quốc, quê hương, làng xóm. Cũng chính vì thế, trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn thường gắn “trung” với “nghĩa”. Hơn nữa, nếu nhà nước phong kiến tập quyền muốn trở nên hùng mạnh thì phải quan tâm đến con người, đến nhân dân và do đó, “nghĩa” không tách rời “nhân”. Ngọn cờ nhân nghĩa là để “yên dân”, để giải phóng nhân dân khỏi áp bức của quân xâm lược.[2]
Thời kỳ khi chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng, Nho giáo không ngừng củng cố và phát triển cho đến vào giữa thế kỷ 19, yêu cầu tất yếu này dần như bị suy sụp và dần nhạt phai khi sự du nhập mạnh mẽ của phương Tây của thực dân Pháp, tuy nhiên Nho giáo vẫn là công cụ ảnh hưởng đối với những nhà yêu nước cách mạng như Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học hay Hồ Chí Minh,...
Ảnh hưởng đến nhân sinh [sửa]
Nho giáo đều ảnh hưởng đến con người, giúp cho người ta hiếu học và thành công hơn trong xã hội, đặc biệt, bản tính "Thiện" luôn đề cao các giá trị về chính trị, phẩm chất quý giá, phạm trù với chữ "Nhân" do Khổng Tử để lại, chữ "Nhân" được coi là nguyên lý để quy định bản tính, quan hệ giữa người với người, từ quý tộc đến nông dân[3]
Ảnh hưởng đến tác phẩm, văn học và châm ngôn [sửa]
Nho giáo được xem là có sức lan tỏa và ảnh hưởng đến Văn học Việt Nam, điển hình như hai bản tuyên ngôn độc lập như "Nam Quốc Sơn Hà" của Lý Thường Kiệt và "Bình Ngô Đại Cáo" của Nguyễn Trãi đề cao tính dân tộc, nguyện vọng dành độc lập của Nhân dân Việt Nam, trong đó ở tác phẩm "Nam Quốc Sơn Hà" có kể đến câu: "Sông núi nước Nam, vua Nam ở, rành rành định phận tại sách Trời" đã nhắc đến nước Nam đã có chủ quyền và luôn chống lại sự uy hiếp từ phía phương Bắc cho dù chứng mình với trời đất mà nhân dân kính phụng.
Câu châm ngôn "Tiên Học Lễ, Hậu Học Văn" đã có từ nghìn năm của dân tộc Việt Nam, đối với Nho giáo, chữ "Lễ" luôn nhắc đến người dân rằng phải học lễ độ, ứng xử tôn ti trật tự, đề cao tính lễ kính với người và phải có trên dưới rõ ràng, còn chữ "Văn" luôn nhắc nhở phải học Văn để sau này con cháu muôn thuở đời sau phải nhớ đến công lao của ông cha ta để lại trong suốt nhiều năm liền. Câu này đã phổ biến ở khắp trường học trên cả nước, không những thế nó còn là một công cụ hữu ích trong việc phát triển xã hội Việt Nam hiện nay.
Ảnh hưởng với tư tưởng Hồ Chí Minh [sửa]
Hồ Chí Minh từng nói: "khởi nghĩa nước ta luôn bị dập tắt là bởi vì chưa có đường lối đúng đắn" cho nên tư tưởng Hồ Chí Minh là một phần không thể thiếu đối với chính trị và xã hội Việt Nam hiện nay, bao gồm những tôn giáo, triết lý phương đông như Chủ nghĩa Tam Dân, tư tưởng Nho giáo, lối sống Phật Giáo với quan niệm "Từ bi Bác ái", "Thương người như thể thương thân" và triết lý phương Tây như xây dựng kinh tế, cuộc cách mạng tư sản, lối sống tự do. Hiện nay nhiều nhân dân Việt Nam không ngừng học hỏi, ra sức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về chủ trương xây dựng nhà nước và đảng trong sạch, vững mạnh và yêu thương lẫn nhau mặc dù là một quốc gia có nhiều sắc tộc và tôn giáo phong phú.
Chú thích [sửa]
- ^ http://vanhoanghean.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa/goc-nhin-van-hoa/1806-vi-tri-va-vai-tro-cua-nho-giao-trong-xa-hoi-viet-nam.html
- ^ Quyền lực Nho giáo được truyền vào tay Vua
- ^ Quan điểm với nhân sinh qua trang http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/de-tai-anh-huong-cua-nho-giao-tai-viet-nam-hien-nay-.673128.html