Quốc ca Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Quốc ca Việt Nam là bài Tiến Quân Ca do Văn Cao sáng tác, bắt nguồn từ lúc phong trào Việt Minh sử dụng bài hát này cho tới khi trở thành quốc ca Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó sử dụng cho toàn nước Việt Nam sau khi Quốc hội Việt Nam họp và chính thức thống nhất năm 1976. Bài quốc ca đem lại không khí hào hùng, sôi nổi, vẻ vang của những năm nhân dân ta anh dũng chiến đáu bảo vệ quê hương

Trong quá khứ, Việt Nam chỉ mới bắt đầu có quốc ca từ giữa thế kỷ 20. Trước đó, Việt Nam không có truyền thống chỉ định một bài nhạc làm quốc ca, theo nghĩa được hiểu hiện nay.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bản quốc ca đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Đăng đàn cung

Theo Nguyễn Ngọc Huy[1], đến thời Đệ nhị thế chiến, hoàng đế Bảo Đại xuống chiếu chọn một quốc kỳ và quốc ca. Quốc kỳ là cờ long tinh còn quốc ca là bài Đăng đàn cung.

Đăng đàn cung là một bản cổ nhạc Việt Nam, hiện vẫn được sử dụng trong hầu hết các giáo trình dạy cổ nhạc và nhạc cụ cổ truyền. Đây là bài nhạc nằm trong nghi thức lễ tế Nam Giao, được dùng khi vua ngự đến đài tế lễ. Lễ tế Nam Giao, thực hiện ba năm một lần vào ngày đông chí, là lễ quan trọng nhất trong nghi thức của triều đình, khi nhà vua thay mặt quốc dân làm lễ tế trời.

Bài Đăng đàn cung được dùng cho nước Đại Nam, gồm Trung kỳ và Bắc kỳ, chứ không dùng cho Nam kỳ vì Nam kỳ là đất thuộc địa, một lãnh thổ hải ngoại của Pháp.

Khi được chọn làm quốc ca, bài Đăng đàn cung có lời bắt đầu với:

Bên núi sông hùng vĩ trời Nam.
Đã bao đời vết anh hùng chưa hề tan.
Vì đâu máu ai ghi ngàn thu.
Còn tỏ tường bên núi sông.
Xác thân tan tành.
Vì nước quên mình.

Giai đoạn 1945 - 1954[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, chính quyền Nhật tuyên bố "trao trả độc lập" cho Việt Nam. Chính phủ Đế quốc Việt Nam được thành lập, tuyên bố độc lập trên danh nghĩa, và đổi quốc kỳ ra cờ Quẻ Ly nhưng vẫn giữ quốc ca là bài Đăng đàn cung.[2]

Đồng thời, tại Nam kỳ, sau khi Nhật đảo chánh Pháp thì tại đây dấy lên Đoàn Thanh niên Tiền phong, quy tụ thanh niên yêu nước muốn giành độc lập thật sự. Nhiều người từng là sinh viên tại Viện đại học Hà Nội, là đại học duy nhất cho toàn cõi Đông Dương khi đó. Tại đây, họ đã quen với bài Sinh viên hành khúc hay Tiếng gọi sinh viên, bài nhạc tranh đấu của Tổng hội sinh viên. Bài nhạc có lời (cả tiếng Pháp tên Marche des étudiants và tiếng Việt) do một nhóm sinh viên soạn, gồm Đặng Ngọc Tốt, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Thanh Hòa, Hoàng Xuân Nhị, và nhạc do Lưu Hữu Phước soạn. Do đó, phong trào Thanh niên Tiền phong lấy bài Tiếng gọi sinh viên, đổi chữ "sinh viên" thành "thanh niên," và dùng làm đoàn ca. Đoàn kỳ là cờ vàng sao đỏ. Đoàn Thanh niên Tiền phong sau đó gia nhập Việt Minh để chống Pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sau Cách mạng tháng Tám, khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì bài Tiến quân ca được chọn làm quốc ca Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều này được ghi vào hiến pháp ngày 9 tháng 11 năm 1946.[3]

Trong khi đó, năm 1946, tại Nam kỳ, Pháp thành lập Nam Kỳ quốc. Chính phủ Nam kỳ Cộng hòa quốc được thành lập ngày 23 tháng 6 do Nguyễn Văn Thinh lãnh đạo. Chính phủ này dùng quốc ca là một bài hát của giáo sư Võ Văn Lúa, lời dựa trên đoạn đầu Chinh phụ ngâm khúc. Chính phủ này tồn tại hai năm.

Năm 1948, chính phủ Quốc gia Việt Nam ra đời, với Bảo Đại làm quốc trưởng và tướng Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng. Chính phủ này sau đó đã chọn bài Tiếng gọi thanh niên, đồng thời thay chữ "thanh niên" bằng chữ "công dân", thành bài Tiếng gọi công dân, làm quốc ca.

Giai đoạn 1954 - 1976[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1954, hiệp định Genève chia đất nước ra hai vùng tập kết quân sự. Tại miền Bắc, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục dùng bài Tiến quân ca làm quốc ca. Tại miền Nam, chính phủ Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại làm quốc trưởng tiếp tục sử dụng bài Tiếng gọi công dân.

Năm 1956, Quốc Hội Lập Hiến tại miền Nam lập nên chế độ cộng hòa, hiến pháp 1956 thành lập nước Việt Nam Cộng Hòa, bài Tiếng gọi công dân vẫn giữ làm quốc ca.

Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được thành lập. Năm 1969, mặt trận thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để đối chọi với Hoa Kỳ và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Chính phủ này sử dụng quốc ca là bài Giải phóng miền Nam, cũng của Lưu Hữu Phước viết dưới bút hiệu Huỳnh Minh Siêng, khi đó là Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, bài Giải phóng miền Nam trở thành quốc ca cho cả miền Nam trong nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cho tới khi hai miền thống nhất ngày 2 tháng 7 năm 1976 thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và quốc ca là Tiến quân ca.

Một số dự định đổi quốc ca không thành công[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng gọi công dân[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1956, khi Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng hòa soạn thảo hiến pháp, họ đã có ý chọn quốc ca mới. Bài Việt Nam minh châu trời Đông của Hùng Lân được chú ý nhiều nhất. Nhưng sau đó quốc hội tuyên bố không chọn được bài nào và giữ nguyên bài Tiếng gọi công dân. Việt Nam Quốc dân Đảng chọn Việt Nam minh châu trời Đông làm đảng ca.
  • Tại hải ngoại sau 1975, người Việt xuất thân từ Việt Nam Cộng hòa vẫn chào cờ Việt Nam Cộng hòa và hát bài Tiếng gọi công dân. Năm 1987 nhiều người muốn dùng bài Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy thay cho bài Tiếng gọi công dân vì họ phản đối việc sử dụng bài hát của Lưu Hữu Phước, nhạc sĩ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và là một đảng viên Cộng Sản. Nhưng việc này không thành và cho tới nay, trong các buổi hội họp, họ vẫn sử dụng bài Tiếng gọi công dân.

Tiến quân ca[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1981, chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam dự định thay đổi quốc ca. Một cuộc thi được mở ra nhưng sau hơn một năm, cuộc thi này không được nhắc tới nữa và cũng không có tuyên bố chính thức gì về kết quả. Tiến quân ca tiếp tục là quốc ca của Việt Nam.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nhiều phần trong bài này dựa trên Nguyễn Ngọc Huy, Quốc kỳ và quốc ca Việt Nam, Báo Tự Do Dân Bản, tháng 3 và 4, 1988
  2. ^ Trần Trọng Kim. Một cơn gió bụi. 
  3. ^ , điều 3