Đế quốc thực dân Pháp

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đế quốc thực dân Pháp
Empire colonial français
Liên minh thuộc địa

1799–1946
Quốc kỳ Quốc huy
Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu
Liberté, égalité, fraternité
(Tự do, bình đẳng, bác ái)
Quốc ca
La Marseillaise
Vị trí của Đại Pháp
Phạm vi lãnh thổ Đế quốc thực dân Pháp.
Thủ đô Paris
Ngôn ngữ Tiếng Pháp
Chính thể Liên minh thuộc địa
Thời đại lịch sử Chiến tranh Napoleon
 - Đệ nhất Cộng hòa Pháp 9 tháng 11, 1799
 - Đệ tứ Cộng hòa Pháp 27 tháng 10, 1946
Tiền tệ Franc Pháp

Đế quốc thực dân Pháp (tiếng Pháp: Empire colonial français) - hay Đại Pháp (tiếng Pháp: Grande france) - là tên gọi liên minh các lãnh địathuộc địa do nước Pháp khống chế từ thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX.

Trong hai thế kỷ XIX và XX, diện tích các thuộc địa toàn cầu của Pháp đứng thứ nhì sau Đế quốc Anh. Vào thời kỳ cao điểm khoảng những năm 1919-39, đế quốc thực dân của Pháp bao phủ trên 12.898.000 km² mặt đất. Nếu tính cả nước Pháp chính quốc thì diện tích đất thuộc chủ quyền của Pháp lên đến 13.000.000 km² tròn giai đoạn này, tức chiếm 8,7% diện tích đất trên toàn thế giới. Ngày nay, chứng tích còn sót lại của đế quốc rộng lớn này là hàng trăm hòn đảo và quần đảoBắc Đại Tây Dương, biển Caribe, Ấn Độ Dương, Nam Thái Bình Dương, Bắc Thái Bình DươngBắc Băng Dương cũng như nhiều lãnh thổ ở Nam châu Phi với tổng diện tích 123.150 km² - tức chỉ khoảng 1% của diện tích Đế quốc cũ ngày xưa trước năm 1939. Dân số các lãnh thổ ngày nay thuộc quyền cai trị của Pháp là khoảng 2.543.000 người. Tất cả các vùng này đều được quyền đại diện chính trị đầy đủ ở cấp quốc gia và các cơ quan lập pháp.

Đế quốc thực dân Pháp thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Thời đó, nước Pháp đã trải qua cuộc Cách mạng, rồi Chế độ đốc chính (Directoire). Ngày 18 tháng Sương mù, tức ngày 9.11.1799, Napoléon làm một cuộc đảo chính và lập ra Chế độ tổng tài (Consulat) gồm 3 người cai trị nước Pháp do Napoléon làm Đệ nhất tổng tài (Premier consul), cùng với Emmanuel J. SieyèsRoger Ducos.

Cuộc trưng cầu dân ý (plébiscite) ngày 6 tháng 11 năm 1804 đã hợp thức hóa việc chuyển sang Đệ nhất đế chế. Nghị viện nguyên lão công bố nghị quyết tôn Napoléon lên làm hoàng đế nước Pháp từ ngày 18.5.1804. Napoléon Bonaparte được giáo hoàng Pius VII làm lễ phong vương tại Nhà thờ Đức Bà Paris ngày 2 tháng 12 năm 1804 với danh hiệu Napoléon đệ nhất. Tuy nhiên, khi đội vương miện thì chính Napoléon đã giật lấy từ tay giáo hoàng và tự đội lên đầu mình.

Tiếp theo cuộc chiến tranh với một số vương quốc ở châu Âu trong Liên minh thứ nhất từ thời Cách mạng, rồi sau đó với Liên minh thứ hai, nên ngay từ ngày đầu, Đệ nhất đế chế đã phải đương đầu với Liên minh thứ ba. Chiến thắng quyết định của Napoléon trong trận Austerlitz đã chỉ có thể làm giảm sự đe dọa đó trong một thời gian ngắn.

Năm 1806, Đại quân Pháp đã khuất phục được nước Phổ trước khi vào Ba Lan, và cuối cùng đánh bại Nga trong trận Friedland (nay là Pravdinsk, Nga) ngày 14.6.1807. Trên nền tảng này Napoléon đã buộc Nga phải ký hòa ước Tilsit ngày 7.7.1807, tạm chấm dứt 2 năm chiến tranh liên tục trên lục địa châu Âu.

Việc chen chân của Pháp vào bán đảo Iberia đã gây ra cuộc chiến tranh giành độc lập của Tây ban nha, một cuộc chiến tranh tàn bạo, kéo dài xấp xỉ 6 năm (từ 24.5.1808 tới 10.4.1814) làm cho đế quốc Pháp bị suy yếu trầm trọng.

Năm 1809, Pháp lại đánh nhau với Áo trong Liên minh thứ năm. Pháp thắng và Áo phải ký hiệp ước Schönbrunn (Viên) ngày 14.10.1809.

Năm 1812, các căng thẳng ngoại giao với Nga, khiến Pháp xâm lấn Nga. Đây là thảm họa cho Napoléon và Đế chế, vì hao tổn rất nhiều quân sĩ trong các trận chiến và dịch bệnh, đói rét

Năm 1813, trận chiến với Liên minh thứ sáu khiến Pháp bị đuổi ra khỏi Đức và ngày 6.4.1814 hoàng đế Napoléon phải thoái vị, chịu đi đày ở đảo Elba (Ý)

Tiếp theo Đệ nhất đế chế là Thời Phục hưng thứ nhất (Première Restauration) ngắn ngủi của vương triều Bourbons từ 6.4.1814 tới 20.3.1815. Napoléon mưu toan trốn khỏi đảo Elba, quay về Pháp lấy lại quyền hành từ tay vua Louis XVIII, đây là Thời kỳ 100 ngày (Cent-Jours), từ 20.3.1815 tới 22.6.1815. Napoléon lại đối đầu với Liên minh thứ bảy và cuộc đại bại của quân Pháp trong Trận Waterloo đã chấm dứt hẳn những gì còn sót lại của Đệ nhất đế chế. Trở về Pháp 3 ngày sau, hoàng đế Napoléon đệ nhất lại phải thoái vị lần thứ hai và bị đưa đi đày ở đảo Saint Helena trên Đại Tây Dương cho tới chết.

Vào thời cực thịnh - năm 1812 - Đế quốc Pháp có 130 tỉnh (Départements), cai trị trên 44 triệu dân, có các đội quân trú đóng ở các nước Ý, Đức, Tây ban nha và đại công quốc Warsawa (Ba lan ngày nay).

Đế chế cũng mang đậm nét bành trướng bá quyền (xâm lấn nhiều nước châu Âu) và gia đình trị. Các anh em, họ hàng của hoàng đế Napoléon đệ nhất được phong làm vua ở một số nước châu Âu.

Chiến tranh với Anh quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đế quốc thực dân Pháp thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Đế chế thứ hai bắt đầu từ năm 1830 khi Pháp xâm chiếm Algerie, cuộc xâm lăng kéo dài 17 năm. Trong khoảng thời gian 1861-1867, hoàng đế Napoléon III muốn biến México thành một đất bảo hộ, nhưng sau nội chiến Hoa Kỳ, Tổng thống 17 của Hoa Kỳ là Andrew Johnson dùng Chủ thuyết Monroe mà cấm cản nên Pháp bỏ ý định này. Chính quyền Napoléon III cũng cho quân xâm chiếm Nam Kỳ vào những năm 1867-1874, và năm 1863 đặt chế độ bảo hộ trên đất Campuchia.

Đế quốc Pháp thứ hai bành trướng mạnh nhất sau Chiến tranh Pháp-Phổ 1870-1871 và trong thời Đệ tam Cộng hòa (1871-1940). Sau khi chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa, Pháp từ từ tiến ra Bắc Kỳ (1884) và Trung Kỳ (1885) để lập ra chế độ bảo hộ. Cộng hai đất này với Campuchia và Nam Kỳ, Pháp đã lập ra Đông Dương thuộc Pháp năm 1887 (năm 1893 thêm Lào và năm 1900 thêm Quảng Châu Loan). Năm 1849, Pháp chiếm thêm một khu nhượng địa ở Thượng Hải cho đến năm 1946.

Ảnh hưởng Pháp cũng lan tràn sang Bắc Phi, thiết lập bảo hộ ở Tunisie năm 1881 (Hiệp ước Bardo). Dần dần lan tràn khắp Bắc, Tây, và Trung Phi trong cuối thế kỷ 19 (gồm các quốc gia ngày nay là Mauritanie, Sénégal, Guinée, Mali, Côte d'Ivoire, Bénin, Niger, Tchad, Cộng hòa Trung Phi, Cộng hòa Congo), và một thuộc địa nhỏ ở bờ biển Đông Phi là Djibouti. Một cuộc viễn chinh có tên là Sứ mệnh Voulet-Chanoine được gửi đến Sénégal năm 1898 hầu chinh phục khu lòng chảo Tchad và thống nhất tất cả các thuộc địa Pháp ở Tây Phi.

Đế quốc tan rã[sửa | sửa mã nguồn]

Một bích họa tuyên truyền có tiêu đề Ba màu sắc, một lá cờ, một đế chế.

Đế quốc thực dân Pháp bắt đầu đổ vỡ trong thế chiến thứ hai, khi các bộ phận khác nhau của đế chế của họ đã bị chiếm đóng bởi nước ngoài Nhật BảnĐông Dương, Anh tại Syria, LibanMadagascar, MỹAnh tại MarocAlgérie, ĐứcÝTunisia. Tuy nhiên, quyền kiểm soát của Pháp được tái lập bởi Charles de Gaulle. Liên hiệp Pháp được thành lập theo Hiến pháp mới năm 1946, thay thế đế quốc thực dân cũ. Tuy nhiên, Pháp đã ngay lập tức phải đối mặt với sự khởi đầu của phi thực dân hóa. Ở châu Á, Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh tuyên bố Việt Nam độc lập ngay từ năm 1945, dù rất mềm mỏng nhưng cương quyết không thừa nhận quyền thống trị của Pháp, dẫn đến cuộc chiến tranh Pháp-Việt. Năm 1947, nội các của thủ tướng Paul Ramadier đã rất vất vả để đàn áp các cuộc nổi dậy vùng Thượng Malagasy (nay phần lớn là Madagascar), mở đầu cho sự tan rã thuộc địa tại châu Phi.

Chiến tranh Đông Dương kết thúc với thất bại của Pháp, người Việt Nam thu hồi lại quyền kiểm soát của đất nước mình từ năm 1954. Liên bang Đông Dương thuộc Pháp sụp đổ hoàn toàn. Người Pháp gần như ngay lập tức phải đối đầu với phong trào độc lập mới tại châu Phi. Cameroon khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Ruben Um Nyobé. Ngay cả chính thuộc địa lâu đời nhất của Pháp cũng chống lại họ: Algeri. Năm 1956, cả MarocTunisia tuyên bố độc lập. Dù Charles de Gaulle trở lại nắm quyền lực vào năm 1958, với sự tái lập Liên hiệp Pháp sau đó đổi tên thành Cộng đồng Pháp (Communauté française) theo mô hình Khối Thịnh vượng chung Anh, đã đưa ra những nhân nhượng với các thuộc địa nhằm giữ gìn quyền lợi của Pháp, cuộc khủng hoảng giữa chính quốc với thuộc địa vẫn không thể hòa giải. Năm 1960, Madagascar và Cameroon độc lập; Algeri vào năm 1962. Trên thực tế, Cộng đồng Pháp tự giải thể từ giữa của Chiến tranh Algérie. Một số ít thuộc địa đã chọn hình thức tự trị như là vùng lãnh thổ hải ngoại (départements d'outre-mer) thay cho cai trị trực tiếp như là một phần của chính quốc Pháp. Đế quốc thực dân Pháp chỉ còn lại cái bóng của ánh hào quang cũ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]