Saint Vincent và Grenadines
Saint Vincent và Grenadines |
|||||
|---|---|---|---|---|---|
|
|||||
| Khẩu hiệu | |||||
| "Pax et justitia" (Latin) "Hòa bình va Công lý" |
|||||
| Quốc ca | |||||
| St Vincent Land So Beautiful | |||||
| Hành chính | |||||
| Chính phủ | Dân chủ nghị viện (quân chủ lập pháp) | ||||
| Quốc vương | nữ hoàng Elizabeth II | ||||
| Toàn quyền | Frederick Ballantyne | ||||
| Thủ tướng | Ralph Gonsalves | ||||
| Ngôn ngữ chính thức | Tiếng Anh | ||||
| Thủ đô | Kingstown |
||||
| Thành phố lớn nhất | Thủ đô | ||||
| Địa lý | |||||
| Diện tích | 389 km² 150 mi² |
||||
| Diện tích nước | không đáng kể % | ||||
| Múi giờ | UTC-4 | ||||
| Lịch sử | |||||
| 27 tháng 10 1979 | từ Vương quốc Anh | ||||
| Dân cư | |||||
| Tên dân tộc | Vincentian | ||||
| Dân số ước lượng (2005) | 119.000 người (hạng 190) | ||||
| Mật độ | (hạng 39)792 người/mi² | ||||
| Kinh tế | |||||
| GDP (PPP) (2002) | Tổng số: $342 triệu (hạng 212) Bình quân đầu người: $7.493 (hạng 82) |
||||
| HDI (2004) | |||||
| Đơn vị tiền tệ | Dollar Đông Caribe (XCD) |
||||
| Thông tin khác | |||||
| Tên miền Internet | .vc | ||||
| Mã điện thoại | 1 784 | ||||
Saint Vincent và Grenadines là một đảo quốc thuộc chuỗi đảo Tiểu Antilles trong lòng biển Caribe. Vùng lãnh thổ rộng 389 km² này bao gồm phần đảo chính Saint Vincent và phần lớn phía bắc Grenadines. Trước kia, trong suốt một thời gian dài từ thế kỷ 18 đến nửa cuối thế kỷ 20, nơi đây từng là thuộc địa cũ của thực dân Anh. Mãi tới năm 1979, đảo quốc này mới được trao trả nền độc lập. Ngày nay, Saint Vincent và Grenadines là một thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Khối Thịnh Vượng Chung và Cộng đồng Caribe.
Mục lục |
Lịch sử [sửa]
Người Carib định cư trên đảo St. Vincent từ trước khi người châu Âu đặt chân đến. Đảo này vẫn còn nhiều những đồ tạo tác của người Carib xưa. Đảo này do Cristoforo Colombo phát hiện năm 1498 bị Anh và Pháp tranh giành quyền sở hữu, trở thành thuộc địa của Anh thông qua Hiệp ước Paris 1763. Năm 1773, đảo bị phân chia giữa người Anh và người Carib, nhưng xung đột vẫn kéo dài dai dẳng. Năm 1776, người Carib nổi dậy và bị đánh bại. Sau đó, thực dân Anh trục xuất họ sang các đảo trong vùng vịnh Honduras, và đem hàng ngàn người nô lệ châu Phi sang để phát triển các đồn điền mía.
Đảo này thuộc Liên hiệp Tây Ấn từ năm 1958 cho đến khi Liên hiệp này bị giải tán năm 1962, giành được độc lập năm 1979. Các đợt phun trào của núi lửa La Soufrière (1979), rồi đến cơn bão Allen (1980) gây thiệt hại trầm trọng đến nền kinh tế, đặc biệt là các vụ thu hoạch chuối.
Kinh tế bắt đầu phục hồi trong thập niên 1990 với sự phát triển của ngành du lịch.
Năm 1996, St. Vincent và Grenadines và Hoa Kỳ kí một hiệp định qua đó cho phép nhân viên của Cảnh sát liên bang Mỹ truy nã bọn buôn lậu ma tuý trong vùng lãnh hải nước này và cung cấp việc dẫn độ tội phạm.[1]
Chính trị [sửa]
Saint Vincent và Grenadines là một nền dân chủ nghị viện và chế độ quân chủ lập hiến với Nữ hoàng Elizabeth II là người đứng đầu nhà nước, mang danh hiệu Nữ hoàng của Saint Vincent và Grenadines. Nữ hoàng có đại diện trong nước là Tòa quyền Sir Frederick Ballantyne.
Toàn quyền có chức năng chủ yếu là nghi lễ bao gồm việc khai mạc các cuộc họp của quốc hội và bổ nhiệm các quan chức chính phủ khác nhau. Quyền kiểm soát chính phủ thuộc về Thủ tướng được bầu trực tiếp và có quyền bổ nhiệm các vị trị trong nội các của mình. Thủ tướng hiện nay là Ralph Gonsalves.
Kinh tế [sửa]
Kinh tế quốc gia chủ yếu dựa vào trồng trọt và xuất khẩu chuối, dừa, các loại cây trồng cung cấp gia vị và hương liệu. Công nghiệp gồm các ngành khai thác (cát, sỏi) và sản xuất (bột, thuốc lá và rượu rum). Đánh bắt cá biển cũng giừ vai trò quan trọng. Du lịch phát triển ở các đảo phía Bắc (Grenadines).
Ngành nông nghiệp bị chi phối bởi sản xuất chuối, là lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế. Lĩnh vực dịch vụ, chủ yếu dựa vào một ngành công nghiệp du lịch phát triển, cũng rất quan trọng. Chính phủ đã giới thiệu một số ngành công nghiệp mới nhưng không thành công, và tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục tăng cao đến 22%. Sự phụ thuộc liên tục vào một loại cây trồng duy nhất đại diện cho cả nền kinh tế là những trở ngại lớn nhất để phát triển kinh tế của quốc đảo này.
Ngành du lịch có tiềm năng phát triển đáng kể. Việc bộ phim nổi tiếng Cướp biển Caribbean được quay trên đảo quốc này đã giúp cho ngành du lịch nước này phát triển. Tăng trưởng GDP gần đây đã được kích thích bởi hoạt động mạnh mẽ trong ngành xây dựng và cải thiện trong ngành du lịch .
Hành chính [sửa]
| Giáo xứ hành chính | Diện tích (km²) | Dân số (2000) | Thủ phủ |
|---|---|---|---|
| Charlotte | 149 | 38.000 | Georgetown |
| Grenadines | 43 | 9.200 | Port Elizabeth |
| Saint Andrew | 29 | 6.700 | Layou |
| Saint David | 80 | 6.700 | Chateaubelair |
| Saint George | 52 | 51.400 | Kingstown |
| Saint Patrick | 37 | 5.800 | Barrouallie |
| Tổng cộng | 390 | 117.800 |
Xem thêm [sửa]
- Quan hệ ngoại giao của Saint Vincent và Grenadines
- Vận tải tại Saint Vincent và Grenadines
- Hội hướng đạo sinh Saint Vincent và Grenadines
- Wesley Charles
Tham khảo [sửa]
- Bobrow Jill & Jinkins Dana. 1985. St. Vincent and the Grenadines. 4th Edition Revised and Updated, Concepts Publishing Co., Waitsfield, Vermont, 1993.
- Gonsalves Ralph E. 1994. History and the Future: A Caribbean Perspective. Quik-Print, Kingstown, St. Vincent.
- Williams Eric. 1964. British Historians and the West Indies, Port-of-Spain.
- CIA Factbook entry
- US Dept of State Profile
Liên kết ngoài [sửa]
- St. Vincent Paper Money
- St Vincent and the Grenadines Genealogy Research
- Official website of the Government of St. Vincent and the Grenadines
- Official website of the SVG Indian Heritage Foundation
|
||||||||||||||||||||||||||||
Chú thích [sửa]
- ^ ^ a b c d "Saint Vincent and the Grenadines". International Monetary Fund. Retrieved 2010-04-21.
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Saint Vincent và Grenadines. |
