Seychelles

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Repiblik Sesel
République des Seychelles
Flag of Seychelles.svg Coat of arms of the Seychelles.svg
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Seychelles
Khẩu hiệu
"Finis Coronat Opus"  (Latin)
"The End Crowns the Work"
Quốc ca
'Koste Seselwa'
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa tổng thống
Tổng thống James Michel
Ngôn ngữ chính thức Anh, Pháp, Seychellois Creole
Thủ đô Victoria
4°37′N, 55°27′Đ
Thành phố lớn nhất Victoria
Địa lý
Diện tích 451 km² (hạng 197)
Diện tích nước không đáng kể %
Múi giờ SCT (UTC+4); mùa hè: không dùng (UTC+4)
Lịch sử
Ngày thành lập 29-6-1976
Dân cư
Dân số ước lượng (2005) 82.247 (ước 7-2008)[1] người (hạng 205)
Mật độ 178 người/km² (hạng 60)
Kinh tế
GDP (PPP) (2005) Tổng số: $1,382 tỷ đôla Mỹ[2]
HDI (2004) Green Arrow Up Darker.svg 0,843 cao (hạng 47)
Đơn vị tiền tệ Seychellois rupee (SCR)
Thông tin khác
Tên miền Internet .sc

Seychelles (phiên âm tiếng Việt: Xây-sen; phát âm tiếng Anh ["say shells"]: /seɪˈʃɛl/ hay /seɪˈʃɛlz/, phát âm tiếng Pháp: /seʃɛl/), tên chính thức là Cộng hòa Seychelles (tiếng Việt: Cộng hòa Xây-sen; tiếng Pháp: République des Seychelles; tiếng Creole: Repiblik Sesel), là một quốc đảo với 155 hòn đảo lớn nhỏ thuộc châu Phi nằm trên Ấn Độ Dương, cách 1.500 km về hướng đông của đại lục Châu Phi, nằm ở phía đông bắc đảo Madagascar. Các quốc gia và vùng lãnh thổ lân cận khác bao gồm Zanzibar về phía tây, MauritiusRéunion về phía nam, ComorosMayotte về phía tây nam, Suvadives của Maldives về phía tây bắc. Seychelles là quốc gia có dân số ít nhất tại châu Phi.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dầu được các thương gia Bồ Đào NhaẢ Rập biết đến, nhưng quần đảo này không có dân cư sinh sống.

Đầu thế kỷ 16, người Bồ Đào Nha đã đến Seychelles. Năm 1760, Pháp chiếm quần đảo này. Năm 1794, Anh cũng chiếm một số đảo trong quần đảo Seychelles. Sau nhiều tranh chấp và thương lượng, cuối cùng Seychelles trở thành "lãnh thổ thuộc Anh" ở Ấn Độ Dương.

Năm 1903, Seychelles được hưởng quyền tự trị, nhưng một số đảo bị tách ra nằm dưới sự cai trị của Anh.

Đến giữa thế kỉ 18, người Pháp đến chiếm làm thuộc địa đưa dân cư và nô lệ sang, rồi nhượng lại cho thực dân Anh sau cuộc Chiến tranh Napoléon (1814).

Đảo quốc này giành độc lập năm 1976 và là thành viên Khối Liên hiệp Anh. Năm 1977, Thủ tướng France A. René lật đổ Tổng thống James Mancham và lập chế độ độc đảng. Năm 1991, Albert René lập lại thể chế đa đảng và đảng của ông giành đa số phiếu trong cuộc tuyển cử năm 1992. Năm 1998, Tổng thông France Albert René tái đắc cử với 66,6% số phiếu.[3]

Chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chính trị của Seychelles diễn ra trong khuôn khổ của một nước cộng hòa tổng thống, theo đó Tổng thống Seychelles là nguyên thủ quốc gia và đứng đầu chính phủ, và một hệ thống đa đảng. Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Quyền lập pháp trong cả chính phủQuốc hội.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia ở Đông Phi, nằm trong vùng Ấn Độ Dương, cách Madagascar 11.000 km về hướng Tây Bắc. Seychelles là quần đảo san hônúi lửa tập hợp trên 100 đảo lớn nhỏ, các đảo chính gồm: Mahé (142 km2), Praslin (38 km2), La Digue (10 km2). 90% dân số tập trung ở đảo Mahé. Các nhóm đảo Aldadbra, FarquharDesroches cũng thuộc lãnh thổ Seychelles.[4]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ 25 huyện của Seychelles

Seychelles được chia thành 25 huyện hành chính bao gồm tất cả các hòn đảo. Tám trong số các huyện thuộc khu vực Greater Victoria. Thêm 14 huyện được coi là vùng nông thôn nằm ở hòn đảo chính Mahé với 2 huyện ở đảo Praslin và một ở La Digue. Các đảo nhỏ nằm bên ngoài ngoài không được coi là một phần của huyện nào.

STT[a] Huyện Thủ phủ Diện tích  (km²) Dân số Khu vực
** Mahe Islands Mahe Islands 163.2 78333
01 Anse aux Pins Anse Aux Pins 2.2 3673 East Mahé
02 Anse Boileau Anse Boileau 12.0 4183 West Mahé
03 Anse Etoile Anse Etoile 5.8 5018 North Mahé
04 Au Cap La Plaine St. André? 8.7 3743 East Mahé
05 Anse Royale Anse Royale 6.6 3818 South Mahé
06 Baie Lazare Baie Lazare 12.1 3227 South Mahé
08 Beau Vallon Beau Vallon 4.3 4142 North Mahé
09 Bel Air Bel Air 4.7 3015 Greater Victoria
10 Bel Ombre Bel Ombre 9.2 4163 West Mahé
11 Cascade capital 10.4 4088 East Mahé
12 Glacis capital 7.0 4157 North Mahé
13 Grand'Anse Grand'Anse 15.4 2842 West Mahé
16 English River English River 1.7 4252 Greater Victoria
17 Mont Buxton Mont Buxton 1.2 3173 Greater Victoria
18 Mont Fleuri Mont Fleuri 6.1 3966 Greater Victoria
19 Plaisance Plaisance 3.4 3690 Greater Victoria
20 Pointe La Rue Pointe La Rue 3.9 3245 East Mahé
21 Port Glaud Port Glaud 28.7 2378 West Mahé
22 Saint Louis Saint Louis 1.1 3436 Greater Victoria
23 Takamaka Takamaka 14.4 2580 South Mahé
24 Les Mamelles Les Mamelles 1.8 2537 Greater Victoria
25 Roche Caïman Roche Caïman 1.2 2893 Greater Victoria
** Praslin Islands Praslin Islands 42.2 7682
07 Baie Sainte Anne Anse Volbert 25.1 3626 Inner Islands
14 Grand'Anse Praslin Grand Anse 14.4 4056 Inner Islands
** La Digue Islands La Digue Islands 41.8 3506
15 La Digue and Inner Islands La Passe 41.8 3506 Inner Islands
** Outer Islands Victoria, Seychelles 211.8 503
26 Outer Islands (Coëtivy) 211.8 503 Outer Islands
  Seychelles Victoria 459.0 90024  

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi độc lập (1976), thu nhập bình quân đầu người ở Seychelles tăng gần 7 lần so với trước. Sự phát triển nhờ vào du lịch (sử dụng 30% lực lượng lao động và cung cấp trên 70% số thu ngoại tệ mạnh) và đánh bắt cá ngừ. Trong những năm gần đây, chính phủ khuyến khích đầu tư nước ngoài để nâng cấp khách sạn và các dịch vụ khác, đồng thời tài trợ cho việc phát triển trang trại, nghề cá, công nghiệp nhỏ.

Mặc dù công nghiệp có dấu hiệu khởi sắc nhưng chính phủ cần tiếp tục đầu tư khu vực kinh tế này. Từ năm 1999-2001, các vấn đề tài chính đã lên đến cực điểm, nợ nước ngoài không ngừng gia tăng. Hiện nay, chính phủ đang phải đối đầu với sự thâm hụt ngân sách, tình hình cạnh tranh quốc tế gay gắt và ra sức thúc đẩy tiến trình tư nhân hóa.[4]

GDP khoảng 408 triệu USD năm 2008. GDP bình quân đầu người: 6.700 USD. Tỷ lệ lạm phát: 49,8% năm 2009. Tỷ lệ thất nghiệp: 4%.

Thâm hụt cán cân thương mại: 343 triệu USD

Các khách hàng chính: Anh, Pháp, Italia

Các nước cung cấp chính: Ả Rập Xê Út, Đức, Pháp

Tỷ trọng của các lĩnh vực hoạt động chính trong GDP: Nông nghiệp: 2,3%, công nghiệp 25,7% và dịch vụ 71,9%.

Với quy mô nhỏ (40.000 người lao động) và có vị trí địa lý xa xôi, nền kinh tế Seychelles chủ yếu dựa vào hai lĩnh vực du lịch (với trên 120.000 khách tham quan mỗi năm và chiếm 25,4% GDP) và đánh bắt chiếm 7,65 GDP năm 2008. Hoạt động vận tải dầu lửa cũng chiếm phần quan trọng là lĩnh vực đứng thứ ba đem lại nguồn thu ngoại tệ (35 triệu USD thu nhập ròng mỗi năm).

Việc tái đầu tư các khoản thu nhập này và viện trợ quốc tế cũng đã cho phép Seychelles có bước phát triển mạnh mẽ trong những năm 70-80. Sau khi độc lập (1976), GDP đầu người đã tăng 8 lần trong vòng 20 năm, lên tới 8.600 USD năm 2007 biến Seychelles thành một nước có thu nhập trung bình thuộc nhóm trên. Tuy nhiên, những hậu quả của cuộc khủng hoảng quốc tế và việc thực hiện các cuộc cải cách kinh tế đã làm giảm thu nhập người dân xuống còn 6.700 USD năm 2009. Mức phát triển xã hội (chỗ ở, trường học, dịch vụ xã hội) cũng vẫn còn cao.

Vì những lý do bên trong và bên ngoài, tình hình tài chính đã xấu đi từ những năm 90. Seychelles đã bị nợ chồng chất đối với các nhà cho vay vốn công và nợ nhiều với những điều kiện không nhượng bộ của các ngân hàng tư nhân (40% nợ nước ngoài hiện nay liên quan đến thương mại). Tổng số nợ công chiếm gần 807 triệu USD.

Do Seychelles đã ở trong tình trạng không thể thanh toán vào giữa năm 2008 nên nước này đã phải bình thường hóa quan hệ tài chính với bên ngoài và một hiệp định xác nhận đã được Hội đồng quản trị IMF đưa ra vào ngày 14 tháng 11 năm 2008. Trước đó, Seychelles đã quyết định tự do chuyển đổi đồng tiền roupie của mình đã tiến hành từ ngày 1 tháng 11 năm 2008.

Tổng thống James Michel đã giữ lịch mà ông đã ấn định về các hoạt động kinh tế vào giữa nhiệm kỳ. Chương trình tham vọng này thực hiện một cách ngay lập tức phần lớn những yêu cầu của IMF (trong đó có việc từ chức của Thống đốc Ngân hàng Trung ương Seychelles vào tháng 10 năm 2008). Chương trình này đặc biệt dựa vào việc giá đồng roupie sẽ ổn định nhanh chóng xung quanh việc 20-21 roupie cho 1 euro rồi 18/19 roupie/1 euro và chi phí cho người dân sẽ được kiểm soát và có thể chịu đựng được về mặt xã hội (không hề có biến động xã hội nào cho đến nay).

Tính đến những tiến bộ đã đạt được, IMF đã chấp nhận vào tháng 11 năm 2008 việc cấp 25,9 triệu USD cho Seychelles để giúp nước này đáp ứng những nhu cầu về tài chính cho năm 2008. Mặt khác, ngày 16 tháng 4 năm 2009, Câu lạc bộ Paris đã nhất trí loại bỏ 45% nợ công của Seychelles đối với những nước thành viên của mình.

Chính sách cải cách kinh tế đã được tiếp tục với một loạt các

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Khi người Anh giành quyền kiểm soát các đảo trong chiến tranh Napoleon, họ cho phép các tầng lớp thượng lưu người Pháp giữ lại đất đai của mình. Cả những người định cư Pháp và Anh đều sử dụng nô lệ châu Phi và mặc dù chế độ nô lệ bị cấm ở Anh vào năm 1835, nhưng những công nhân người châu Phi vẫn tiếp tục bị đưa đến đây. Do đó, Người Gran'bla ("người da trắng") có nguồn gốc Pháp thống trị đời sống kinh tếchính trị. Chính quyền Anh cũng đưa người Ấn Độ đến quần đảo này. Người Ấn Độ như một thiểu số tương tự người Trung Quốc, hiện nay được giới hạn trong một tầng lớp thương nhân.[5] Ngày nay, con cháu của người Ấn Độ, Trung Quốc, và Gran'bla là ba cộng đồng dân tộc chính, mặc dù hầu hết mọi người có nguồn gốc châu Phi, thường trộn với người châu Âu hoặc châu Á.

Quần đảo Seychelles không có dân cư bản địa, người Seychellois hiện nay được tạo thành từ những cuộc di cư. Các nhóm dân tộc lớn nhất là người gốc châu Phi, người Pháp, Ấn Độ, và người gốc Trung Quốc. Tiếng Pháptiếng Anh là ngôn ngữ chính thức cùng với ngôn ngữ Creole mà chủ yếu dựa trên tiếng Pháp.

Theo điều tra dân số năm 2002, hầu hết người Seychellois là Kitô hữu: 82,3% là người Công giáo La Mã, 6,4% là Anh giáo, và 4,5% là của các giáo phái Kitô giáo khác. Có dân tộc thiểu số nhỏ là những người thực hành Ấn Độ giáo (2,1%) và Hồi giáo (1,1%). Các tín ngưỡng khác chiếm 1,5% dân số trong khi hơn 2,1% là người không tôn giáo hoặc không xác định một tôn giáo. Độ tuổi trung bình của người Seychellois là 32.[6]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Field Listing - Population. The World Factbook. Tra cứu 3-2-2009.
  2. ^ “Seychelles”. IMF. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2008. 
  3. ^ The World Factbook
  4. ^ a ă Thế giới
  5. ^ Culture of Seychelles - history, people, clothing, women, beliefs, food, customs, family, social
  6. ^ CIA - The World Factbook -- Seychelles cập nhật 8/7/2013 bản lưu 12/6/2007
  1. ^ The number relates to ISO-Code for districts 01 through 23

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]