Somaliland

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jamhuuriyadda Soomaaliland
جمهورية صومالي لاندகுடியரசு
Jumhūrīyat Arḍ Aṣ-ṣūmāl
Cộng hòa Somaliland
Flag of Somaliland.svg National Emblem of Somaliland.gif
Quốc kỳ Huy hiệu
Vị trí của Cộng hoà Somaliland
Khẩu hiệu
Là ilāhā Illa-llāhu; muhammadun rasūlu-llāhi
(tiếng Ả rập: "Không có Thiên Chúa nào khác ngoài Ðức Ala; Muhammad là tiên tri của Đức Ala")
Quốc ca
Sama và Waar
Hành chính
Chính phủ Cộng hòa tổng thống
Tổng thống
Phó tổng thống
Ahmed M. Mahamoud Silanyo
Abdirahman Saylici
Ngôn ngữ chính thức tiếng Somali, tiếng Ả Rập, tiếng Anh
Thủ đô Hargeisa
9°33′B, 44°03′Đ
Thành phố lớn nhất Hargeisa
Địa lý
Diện tích 137.600 km²
Múi giờ EAT (UTC +3) (UTC+3)
Lịch sử
Ngày thành lập Tách ra từ Somalia: 18 tháng năm năm 1991
Công nhận: chưa được công nhận
Dân số (2008) 3.500.000 người
Đơn vị tiền tệ Somaliland shilling (SLSH)
Thông tin khác
Tên miền Internet không có

Bảng xếp hạng không có sẵn bởi Somaliland là nhà nước không được công nhận

Somaliland map.png

Somaliland (Tiếng Somali:Soomaaliland, tiếng Ả Rập: أرض الصومالArḍ aṣ-Ṣūmāl) là một khu tự trị,[1] được tất cả các quốc gia coi là một phần của Cộng hòa Somali.[2][3] Những người gọi khu vực này là Cộng hòa Somaliland coi đây là quốc gia kế tục của lãnh thổ Somaliland thuộc Anh cũ. Với chính phủ được công nhận trong Somalia từ năm 1991, vùng đất này đã tuyên bố độc lập nhưng chưa được một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào công nhận.[4][5] Somaliland đã xin gia nhập Khối thịnh vượng chung Anh với vị trí quan sát viên, nhưng chưa được chấp thuận.[6]

Somaliland giáp với Ethiopia ở phía Nam và phía Tây. giáp với Djibouti ở phía Tây Bắc, giáp vịnh Aden ở phía Bắc, và ở phía Đông là Puntland (một vùng đất Somali tranh chấp chủ quyền ở một số vùng với Somaliland).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các đồ tạo tác sớm nhất của con người trong khu vực Somaliland xuất hiện trong các bức tranh hang động Laas Geel, có niên đại từ hơn 3000 năm trước công nguyên. Khu vực này đôi khi được cho là một phần của vùng đất Punt. Hồi giáo đã được truyền bá đến khu vực từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 10, và thành bang Hồi giáo nhỏ mọc lên trong khu vực. Năm 1548, Đế chế Ottoman sáp nhập một phần của phí Tây Somaliland. Năm 1888, sau khi ký kết điều ước quốc tế liên tiếp với Sultan Somalia sau đó cai trị như Shire Ali Mohamoud của Vương quốc Hồi giáo Warsangali, người Anh thành lập một chế độ bảo hộ trong khu vực được gọi là Anh Somaliland. Anh bảo hộ từ Aden và quản lý như là một phần của Ấn Độ thuộc Anh cho tới năm 1898. Anh Somaliland sau đó đã được quản lý bởi Bộ Ngoại giao Anh cho đến năm 1905, và sau đó à Văn phòng thuộc địa.

Nói chung, người Anh đã không có quan tâm nhiều trong khu vực tài nguyên cằn cổi. Mục đích quy định của cơ sở của bảo hộ đã được "an toàn một thị trường cung cấp, kiểm tra lưu lượng nô lệ, và để loại trừ sự can thiệp của các cường quốc nước ngoài ". Anh chủ yếu xem sự bảo hộ cho Somaliland như là một nguồn cho các nguồn cung cấp thịt cho tiền đồn Ấn Độ của người AnhAden thông qua các bảo trì trật tự trong các khu vực ven biển và bảo vệ các tuyến đường caravan từ bên trong. Do đó, trong khu vực biệt danh của "cửa hàng bán thịt của Aden của" chính quyền thuộc địa trong thời gian này đã không mở rộng cơ sở hạ tầng hành chính vượt ra ngoài bờ biển và đối chiếu với kinh nghiệm thuộc địa can thiệp của Ý ở Somaliland.

Somaliland bảo hộ của Anh đã trở thành một thời gian ngắn độc lập vào ngày 26 tháng 6 năm 1960, với vùng lãnh thổ ủy thác của Somalia (phù hợp với Somaliland của Ý) sau năm ngày sau đó Ngày 1 tháng 7 năm 1960, hai vùng lãnh thổ thống nhất theo kế hoạch để hình thành Somalia. Cộng hòa Somalia được thành lập bởi Abdullahi Issa, với Aden Abdullah Osman DaarTổng thốngAbdirashid Ali Shermarke làm Thủ tướng (sau này trở thành Tổng thống, 1967-1969). Ngày 20 tháng 7 năm 1961 và thông qua một cuộc trưng cầu dân ý, người dân Somalia phê chuẩn một hiến pháp mới, lần đầu tiên được soạn thảo vào năm 1960. Năm 1967, Muhammad Haji Ibrahim Egal trở thành Thủ tướng, một vị trí mà ông được bổ nhiệm bởi Shermarke. Shermarke sẽ bị ám sát hai năm sau đó bởi một trong những vệ sĩ riêng của của ông. Cái chết của ông đã nhanh chóng theo sau một cuộc đảo chính quân sự vào ngày 21 tháng 10 năm 1969 (một ngày sau tang lễ của ông), trong đó quân đội Somalia nắm quyền mà không gặp phải sự chống đối vũ trang. Cuộc nổi dậy này được dẫn đầu bởi Thiếu tướng Mohamed Siad Barre, người chỉ huy quân đội vào thời điểm đó. Các chế độ mới sẽ đi vào quy tắc ở Somalia trong 21 năm tới. Đến năm 1990, chế dộ của chính phủ Barre đã sụp đổ. Nhiều người Somalia đã trở nên vỡ mộng với cuộc sống dưới chế độ độc tài quân sự. Chính phủ đã trở nên ngày càng độc tài toàn trị, và phong trào kháng chiến, với sự khuyến khích của Ethiopia, mọc lên trên khắp đất nước, cuối cùng dẫn đến cuộc nội chiến Somalia. Trong số các nhóm dân quân có nhóm quân Phong trào quốc gia Somalia (SNM) do do tướng Isaaq lãnh đạo, trụ sở tại Hargeisa.

Mặc dù SNM ngay từ đầu đã có một hiến pháp đoàn viên, cuối cùng nó bắt đầu theo đuổi một chương trình nghị sự ly khai, đòi tách ra khỏi phần còn lại của Somalia. Dưới sự lãnh đạo của Abdirahman Ahmed Ali Tuur, chính quyền địa phương tuyên bố các vùng lãnh thổ Somali Tây Bắc độc lập ngày 18 tháng 9 năm 1991. Tuur sau đó trở thành Tổng thống đầu tiên của Somaliland, nhưng sau đó từ bỏ các nền tảng ly khai vào năm 1994 và bắt đầu thay vào đó công khai tìm kiếm và ủng hộ hòa giải với phần còn lại của Somalia dưới một hệ thống liên bang chia sẻ quyền lực. Muhammad Haji Ibrahim Egal đã được bổ nhiệm là người kế nhiệm Tuur năm 1993. Hội nghị hòa giải quốc gia ở Borama diễn ra trong bốn tháng, dẫn đến một sự cải thiện dần dần trong an ninh, cũng như củng cố một lãnh thổ mới. Egal đã được tái bổ nhiệm làm tổng thống vào năm 1997, và vẫn nắm quyền cho đến khi ông qua đời vào ngày 3 tháng 5 năm 2002. Phó tổng thống Dahir Riyale Kahin, người đã được bổ nhiệm các chức vụ cao nhất trong ngành an ninh quốc gia trong những năm 1980 cựu sĩ quan trong quân đội dân quân Berbera trong chính phủ của Siad Barre, đã tuyên thệ nhậm chức trong làm tổng thống ngay sau đó. Trong năm 2003, Kahin đã trở thành tổng thống được bầu đầu tiên của Somaliland.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Somaliland nằm tại vùng Sừng Châu Phi. Lãnh thổ này giáp với Djibouti ở phía tây, Ethiopia ở phía nam và vùng Puntland của Somalia ở phía đông. Somaliland có 740 km (460 mi) bờ biển và phần lớn giáp với vịnh Aden.

Khí hậu Somaliland pha trộn giữa các điều kiện ẩm và khô. Phần phía bắc của khu vực có nhiều đồi núi và nhiều chỗ có các dãy núi cao từ 900 đến 2100 mét so với mực nước biển. Các vùng Awdal, Saaxil và Maroodi Jeex có đất đai phì nhiêu và đồi núi, trong khi Togheer hầu hết là bán hoang mạc với một ít cây cỏ xung quanh. Vùng Awdal được biết đến nhiều vì có các hòn đảo ngoài khơi, các rặng san hô và cây đước.

10 km ở phía bắc của Ceerigaabo là dãy Cal Madow, chạy dọc và có các dốc đứng xuống vịnh Aden. Dóc đứng cao khoảng 2000 mét so với mực nước biển, tại đây đường từ Ceerigaabo đi xuống bờ biển. 2 km ở phía tây nó nâng lên thành điểm cao nhất tại Somaliland cùng Somali; với cao độ 3416 mét, nó được biết đến với cái tên Shimbiris hay Shimbir Beris, được dịch thành “nơi ở của các con chim”. Dãy Cal Madow nhận được lượng mưa đáng kể so với phần còn lại của Somaliland, có các khu rừng rậm với nhiều loài sinh vật đặc hữu.

Do sự màu mỡ và có cây cỏ tại một số khu vực tại Somaliland, các loài động vật hoang dã như ngựa vằn đến khu vực để sinh đẻ hay ăn cỏ tại các xa van đồng cỏ. Có nhiều loài động vật bản địa tại Somaliland, nổi bật là linh dương Kudu, lợn rừng, lừa hoang Somali, linh dương, cừu Somali, dê hoang dã, lạc đà, sư tử và loài báo gepa. Somaliland có số lượng cá thể linh miêu đông nhất trên thế giới ở vùng Burco. Nhiều loài chim và cá khác nhau cũng được tìm thấy tại Somaliland.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệt độ cực độ từng được ghi nhận xuống dưới -3,3 °C tại Ceerigaabo cho đến 47,7 °C tại Berbera. Với nhiệt độ trung bình năm khoảng 31 °C cùng độ ẩm cao đã khiến cho Berbera trở thành một trong những thành phố nóng nhất trên thế giới.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế Somaliland còn đang trong giai đoạn phát triển. Đồng Shilling Somaliland mặc dù ổn định song không phải là một loại tiền tệ được quốc tế công nhận và hiện không cỏ tỷ giá hối đoái chính thức. Đồng tiền này do Ngân hàng Somaliland quy định.

Lượng kiều hối từ một lượng đông đảo kiều dân Somali đã đóng góp quan trọng cho nền kinh tế Somaliland.[7] Kiều hối đến Somaliland thông qua các công ty chuyển tiền (người địa phương gọi là “hawaladd”). Ngân hàng Thế giới ước tính rằng lượng kiều hối chảy về Somalia lên tới 1 tỷ Đô-la Mỹ từ những di dân lao động tại Hoa Kỳ, Châu Âu và các nước Vùng Vịnh.

Nông nghiệp thường được coi là một ngành kinh tế có tiềm năng, đặc biệt là sản xuất ngũ cốc và trồng hoa. Khai mỏ cũng có tiềm năng, dẫu cho việc khai thác đá giản đơn đã dẫn đến việc chúng có chứa hỗn tạp nhiều loại khoáng sản khác nhau.

Nghiên cứu gần đây tại Somaliland cho thấy rằng khu vực có dự trữ lớn về dầu mỏ và khí thiên nhiên ở ngoài khơi và ven bờ. Cũng có một vài giếng đã được khoan trong những năm gần đây, song do tình trạng không được công nhận của khu vực, các công ty dầu mỏ nước ngoài không thể kinh doanh tại đây.

Từ sau chiến tranh Eritrea-Ethiopia, Somaliland trở thành nơi quá cảnh xuất khẩu chính của Ethiopia. Ethiopia đã ký một hợp đồng với chính phủ Somaliland, ghi rõ rằng thành phố cảng Berbera sẽ xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa đi và đến từ Ethiopia.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết người dân tại Somaliland nói hai ngôn ngữ chính thức của khu vực: tiếng Somalitiếng Ả Rập. Điều 6 trong Hiến pháp năm 2001 quy định rằng ngôn ngữ chính thức của Somaliland là tiếng Somali, mặc dù tiếng Ả Rập là một môn học bắt buộc trong trường học và được sử dụng tại các nhà thờ Hồi giáo quanh khu vực. Tiếng Anh cũng được sử dụng và được dạy trong trường học.

Tiếng Somali là một tập hợp các ngôn ngữ gọi là Các ngôn ngữ Đất thấp Đông Cushitic bởi người Somali sống tại Somalia, Djibouti và các lãnh thổ lân cận. Đông Cushitic là một nhánh của Nhóm ngôn ngữ Cushitic, một phần của Ngữ hệ Á-Phi rộng lớn.

Phơng ngữ Somali được sử dụng rộng rãi nhất là tiếng Somali tiêu chuẩn, một thuật ngữ được dùng để chỉ một vài phương ngữ nhỏ, những người sử dụng có thể hiểu lẫn nhau một cách dễ dàng. Tiếng Somali tiêu chuẩn được nói tại hầu hết Somali và các lãnh thổ lân cận (Djibouti, Ogaden, đông bắc Kenya) và được các đài truyền thông tại Somaliland sử dụng.

Khả năng ngôn ngữ có ý nghĩa lớn trong xã hội Somali, khả năng có thể cầu hôn, được chiến đấu, tở thành một chính trị gia hay lãnh đạo tôn giáo một phần dựa trên sự khéo léo về mặt ngôn ngữ của người đó. Thời kỳ trước cách mạng, tiếng Anh là ngôn ngữ chiếm ưu thế tại hệ thống trường học và trong chính quyền.

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Với một vài ngoại lệ, toàn bộ người dân Somaliland là người Hồi giáo, phần lớn thuộc hệ phái Hồi giáo Sunni và phái Shài’i của luật học Hồi giáo. Hồi giáo cũng đóng vai trò là tôn giáo quốc gia. Có những dầu tích về tôn giáo truyền thống tiền Hồi giáo từng tồn tại ở Somaliland, song hiện Hồi giáo đóng vai trò vô cùng quan trọng trong ý thức dân tộc của người Somali. Nhiều quy tắc xã hội của người Somali xuất phát từ tôn giáo của họ. Nhiều phụ nữ Somali mang hijab khi họ ở nơi công cộng. Thêm vào đó, người Somali không dùng thịt lợn, cờ bạc và đồ uống có cồn. Người Hồi giáo thường tụ tập vào chiều thứ sáu để nghe thuyết pháp và cầu nguyện tập thể.

Hệ thống thị tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Có khoảng 3,5 triệu cư dân tại Somaliland. Xã hội Somaliland được tổ chức thành các thị tộc. Thị tộc lớn nhất tại Somaliland là Isaaq và thị tộc lớn thứ hai là Gadabuursi Dir, một số thị tộc lớn khác hiện diện tại Somaliland là Issa, Gabooye, và Harti Darod (như Warsangali và Dhulbahante). Người Warsangali và Dhulbahante chủ yếu cư trú tại Sool, một số phần ở Đông Sanaag và một phần nhỏ ở đông nam Togdheer, trong khi người Isaaq tập trung chủ yếu tại các vùng Maroodi Jeex, Sanaag, Gabiley, Togdheer và Saaxil. Các thị tộc được chia tiếp thành các dòng tộc.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Somaliland tại Wikimedia Commons