Djibouti
| جمهورية جيبوتي Jumhuriyaa Jibuti République de Djibouti |
||||||
|---|---|---|---|---|---|---|
|
|
||||||
| Khẩu hiệu Djibouti by Choice |
||||||
| Quốc ca Ca Cờ |
||||||
| Thủ đô (và là thành phố lớn nhất) |
Thành phố Djibouti |
|||||
| Ngôn ngữ chính thức | Tiếng Ả Rập, và Tiếng Pháp | |||||
| Chính phủ | Dân Chủ | |||||
| • | Tổng thống Thủ tướng |
Ismail Omar Guelleh Dileita Mohamed Dileita |
||||
| Độc lập | ||||||
| • | từ Pháp | |||||
| Diện tích | ||||||
| • | Tổng số | 23,000 km² (hạng 147) |
||||
| • | Nước (%) | 0,09% (20 km²) | ||||
| Dân số | ||||||
| • | Ước lượng 2005 | 476.703 (hạng 161) | ||||
| • | Điều tra 2000 | 460.700 (hạng 161) | ||||
| • | Mật độ | 21 /km² (hạng 154) |
||||
| GDP (PPP) | Ước tính | |||||
| • | Tổng số | 0,619 tỷ đô la Mỹ | ||||
| HDI (2003) | 0,495 (thấp) (hạng 150) | |||||
| Đơn vị tiền tệ | Franc Djibouti (DJF) |
|||||
| Tên miền Internet | .dj | |||||
Cộng hòa Djibouti (tiếng Ả Rập: جمهورية جيبوتي Jumhuriyaa Jibuti; tiếng Pháp: République de Djibouti) là một quốc gia ở Đông Châu Phi (sừng châu Phi). Quốc gia này giáp Eritrea về phía bắc, Ethiopia về phía tây và nam, và Somalia về phía đông nam. Phần còn lại của biên giới là Biển Đỏ và vịnh Aden.
Djibouti lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 30 tháng 4 năm 1991.
Mục lục |
[sửa] Lịch sử
Khoảng thế kỉ thứ 3 TCN, người Ablé từ bán đảo Ả Rập di cư sang vùng lãnh thổ hiện nay của Djibouti. Con cháu họ là người Afar, một trong hai nhóm sắc tộc chính ở quốc gia này. Sau đó, người Somal Issa cũng đến định cư ở đây. Hồi giáo được truyền bá vào vùng này từ năm 825.
Việc khai thông kênh đào Suez (1869) đã làm tăng tầm quan trọng của cảng Obock xưa mà người Pháp giành quyền sở hữu từ năm 1862. Năm 1896, vùng Bờ biển Soomaaliya thuộc Pháp được thành lập do Ethiopia nhượng lại cho Pháp để đổi lấy việc xây dựng đường sắt nối liền Adis Abeba đến cảng Djibouti, trở thành lãnh thổ hải ngoại năm 1946 và hưởng quyền tự trị năm 1956. Ethiopia và Soomaaliya đòi lại chủ quyền lãnh thổ, nhưng sau cuộc trưng cầu ý dân năm 1967, vùng này trở thành lãnh thổ của người Afar và Issa thuộc Pháp. Djibouti giành độc lập năm 1977 nhưng vẫn còn duy trì một căn cứ quân sự của Pháp.
Năm 1991, xung đột giữa người Afar và Chính phủ do người Issa cầm quyền đã bùng nổ, cuộc chiến kéo dài đã tàn phá đất nước. Năm 1999, Tổng thống Hassan Gouled Aptidon, nhà lãnh đạo từ ngày độc lập, rút khỏi chính trường, nhường chức cho Ismail Omar Guelleh. Tháng 3-2000, phe nổi dậy thuộc sắc tộc Afar kí hiệp ước hòa bình với Chính phủ.
[sửa] Chính trị
Djibouti là quốc gia theo chính thể Cộng hòa Tổng thống.
Bản Hiến pháp hiện nay được thông qua bởi cuộc trưng cầu ý dân ngày 4-9-1992.
Cơ quan hành pháp : Đứng đầu nhà nước là Tổng thống. Đứng đầu chính phủ là Thủ tướng. Tổng thống được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 6 năm; Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm.
Cơ quan lập pháp của Djibouti là Quốc hội gồm 65 thành viên, các thành viên được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kì 5 năm.
Cơ quan tư pháp là Tòa án Tối cao.
Chế độ bầu cử ở Djibouti là Phổ thông đầu phiếu.
Hiện nay Djibouti tham gia nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Liên minh châu Phi AU, Tổ chức Lương thực Thế giới FAO, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, Tổ chức Cảnh sát Quốc tế Interpol, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNESCO, Liên minh Bưu chính Quốc tế UPU, Tổ chức Y tế Thế giới WHO, Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.
[sửa] Tôn giáo
Hồi giáo 94% dân số, Kitô giáo 6% dân số.
[sửa] Vùng và khu hành chính
Djibouti được chia thành 5 quận là : Ali Sabih, Dikhil, Djibouti, Obock, và Tadjoura.
[sửa] Địa lý
Djibouti nằm ở khu vực Đông Phi, ở vào vị trí chiến lược bên vịnh Aden, gần lối vào biển Đỏ và có chung biên giới với Ethiopia, Eritrea, Somalia. Lãnh thổ Djibouti phần lớn là sa mạc, địa hình gồm núi và cao nguyên, ven biển là những đồng bằng hẹp.
Tài nguyên thiên nhiên ở Djibouti chỉ có các vùng địa nhiệt, ngoài ra không hề có nguồn tài nguyên nào khác.
Do chịu ảnh hưởng của sa mạc Sahara nên Djibouti có khí hậu sa mạc, khô và nóng, nhiệt độ trung bình 27-32 độ, lượng mưa trung bình năm chỉ khoảng 100-150 mm.
[sửa] Kinh tế
Kinh tế của Djibouti dựa vào ngành dịch vụ nhờ vị trí chiến lược của quốc gia này và nhờ tư cách vùng tự do thương mại ở đông bắc châu Phi. Hai phần ba dân số ở thủ đô, còn lại sống ở các làng du mục. Do mưa không đủ nên hạn chế canh tác nông nghiệp trồng rau quả, phần lớn thực phẩm phải nhập cảng.
Tháng 4 năm 2005, Chương trình lương thực thế giới Liên Hiệp Quốc khuyến cáo rằng 30.000 người ở Djibouti phải đối mặt với nạn thiếu hụt lương thực nghiêm trọng sau 3 năm ít mưa.[1]
[sửa] Dân số
Dân số của Djibouti hiện nay là 476.703 người với mật độ dân số khoảng 21 người/km², gồm các sắc tộc chính là người Somali chiếm 60%, người Afar chiếm 35%, các dân tộc khác 5% (bao gồm người Pháp, người Ả Rập, người Ethiopia, và người Ý). Hơn 2/3 dân số Djibouti sống ở Thành phố Djibouti.
[sửa] Văn hóa
[sửa] Xem khác
[sửa] Đọc thêm
[sửa] Chú thích
- ^ Djibouti drought threatens 30.000 with grave food shortages, 29 tháng 4 năm 2005, World Food Programme. Truy cập 4 tháng 8 năm 2007.
[sửa] Liên kết ngoài
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về: Djibouti. |
|
|||||||||||||||||||||||||||||
| Bài này còn sơ khai. Mời bạn góp sức viết thêm để bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp về cách sửa bài. |
