Trận Nam Định (1883)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Nam Định
Một phần của Chiến dịch Bắc Kỳ
Combat de Lang-Kep.jpg
Trận đồn Kép
.
Thời gian 27 tháng 3 năm 1883
Địa điểm Bắc kỳ
Kết quả Quân Pháp chiến thắng
Thay đổi lãnh thổ Thành Nam Định rơi vào tay quân Pháp
Tham chiến
Cờ của Pháp Pháp Early Nguyen Dynasty Flag.svg Nhà Nguyễn
Black Flag Army Flag.jpg Quân cờ đen
Chỉ huy
Cờ của Pháp Henri Rivière Early Nguyen Dynasty Flag.svg Vũ Trọng Bình
Early Nguyen Dynasty Flag.svg Đề đốc Lê Văn Điếm
Early Nguyen Dynasty Flag.svg Án sát Hồ Bá Ôn
Black Flag Army Flag.jpg Vinh Thong Chat
Lực lượng
6 pháo thuyền
520 thủy binh đánh bộ
20 lính mộ
60 thủy thủ
6.200 quân Việt
600 quân cờ đen
Tổn thất
4 người bị thương 200 chết và bị thương
.

Trận Nam Định (27 tháng 3 năm 1883), là một cuộc chạm trán giữa quân Pháp và quân Việt Nam, trong giai đoạn đầu của Chiến dịch Bắc Kỳ thuộc chiến tranh Pháp-Việt (1858-1884). Trong một chiến dịch ngắn ngủi vào tuần cuối cùng của tháng 3 năm 1883, Chỉ huy Henri Rivière đánh hạ thành Nam Định, thành phố lớn thứ nhì ở Bắc Kỳ, với một hạm đội pháo thuyền nhỏ và một tiểu đoàn thủy quân đánh bộ.[1]

Việc Rivière đánh chiếm Nam Định đánh dấu một bước leo thang quan trọng thể hiện tham vọng của người Pháp tại Bắc Kỳ, và có hệ quả nghiêm trọng. Nhà Thanh (Trung Quốc) bắt đầu ngầm hỗ trợ chính quyền nhà Nguyễn chống lại sự xâm lược của thực dân Pháp. Sự can thiệp của quân Thanh tại Bắc Kỳ cuối cùng dẫn đến cuộc chiến tranh Pháp-Thanh kéo dài 9 tháng (8 năm 1884 tới 4 năm 1885).

Mục lục

Bối cảnh [sửa]

Henri Rivière (1827–83)

Sự can thiệp quân sự của Pháp vào miền bắc Việt Nam là kết quả của các hành động quân sự thiển cận bởi Chỉ huy Henri Rivière, vốn được cử đi ra Hà Nội với một lực lượng quân sự nhỏ cuối năm 1881, để xem xét các phàn nàn từ phía phía Việt Nam về các thương gia Pháp.[2] Tuy nhiên, Riviere đã ngang nhiên đi ngược lại các chỉ thị của mình, và đánh thành Hà Nội ngày 25 tháng 4 năm 1882.[3] Mặc dù Rivière tiếp đó trao lại thành cho phía Việt Nam quản lý, thì việc ông ta sử dụng vũ lực cũng đã đặt cả Việt Nam và Trung Hoa vào tình trạng báo động.[4]

Chính quyền Việt Nam, do không thể ngăn chặn Rivière với quân đội yếu kém của mình, phải nhờ đến Lưu Vĩnh Phúc, với đạo quân cờ đen thiện chiến và dày dặn của mình, làm thành một cái gai trong mắt người Pháp. Phía Việt Nam cũng nhờ đến sự giúp sức của Trung Hoa, vì Việt Nam vốn là một nước chư hầu truyền thống, nên Trung Hoa cũng đồng ý giúp vũ khí và hỗ trợ cho quân Cờ đen, đồng thời ngấm ngầm chống lại các hoạt động của người Pháp ở miền Bắc Việt. Nhà Thanh cũng đánh tiếng với người Pháp rằng Trung Hoa sẽ không để Bắc Kỳ rơi vào tay Pháp. Mùa hè năm 1882, quân Thanh từ Vân NamQuảng Tây vượt biên giới tiến vào Bắc Kỳ, chiếm đóng Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hưng Hóa và nhiều thị trấn khác.[5] Bộ trưởng Pháp đặc trách Trung Hoa, Frédéric Bourée, lo ngại về khả năng xảy ra chiến tranh với Trung Quốc, nên trong tháng 11 và 12 năm 1882, thỏa thuận với quan đại thần nhà Thanh là Lý Hồng Chương nhằm chia cắt Bắc Kỳ thành các vùng ảnh hưởng của nhà Thanh và Pháp. Cả hai phía tham gia đàm phán đều bị chỉ trích là đã nhượng bộ quá nhiều, và thỏa thuận này tan vỡ. Phía Trung Quốc không thông qua nó, còn tại Pháp, chính phủ mới của Jules Ferry bác bỏ thỏa thuận này vào tháng 3 năm 1883, và triệu hồi Bourée về nước.[6]

Diễn biến [sửa]

Ngày 23 tháng 3 năm 1883, Henri Rivière để Berthe de Villers cùng 400 quân ở lại Hà Nội để chỉ huy quân Pháp tiến tới Nam Định. Tới ngày 25 thì Rivière đến Nam Định, một lần nữa kịch bản chiếm thành Hà Nội được lặp lại khi tổng đốc Nam Định không tới gặp Rivière theo thư yêu cầu và lập tức quân Pháp chiếm thành Nam Định vào ngày 27 tháng 3. Thiệt hại nặng nhất của quân Pháp trong trận này là cái chết của trung tá Carreau. Sự kiện này đã khiến chính phủ Pháp lo lắng và một lần nữa ra lệnh cho quân Pháp chỉ được can thiệp khi thực sự cần thiết. Quyết định của chính phủ Pháp chứng tỏ người Pháp vẫn đang lưỡng lự trước việc mở một cuộc chiến tranh toàn diện ở Đại Nam.[7]

Trong lúc Rivière ở Nam Định thì tại Hà Nội, lực lượng của de Villers bị 4.000 quân tấn công trong đêm ngày 26 và 27 tháng 3.[7] Tuy quân Pháp ở Hà Nội đẩy lui được hai cuộc tấn công buổi đêm này nhưng tình hình nghiêm trọng vẫn buộc Rivière phải trở về Hà Nội ngày 2 tháng 4 đồng thời đề nghị đô đốc Mayer, chỉ huy hải quân Pháp ở Trung Quốc, đưa quân ứng cứu.[8]

Chú thích [sửa]

  1. ^ Bastard, 160–71; Baude de Maurceley, 157–62; de Marolles, 178–92; Duboc, 97–112; Huard, 19–26; Nicolas, 254–7; Sarrat, 337–40; Thomazi, Histoire militaire, 53–4
  2. ^ Thomazi, Conquête, 140–57
  3. ^ Bastard, 152–4; Marolles, 75–92; Nicolas, 249–52
  4. ^ Eastman, 51–7; Lung Chang, 89–95
  5. ^ Lung Chang, 90–91; Marolles, 133–44
  6. ^ Eastman, 57–65
  7. ^ a b Antonini, Paul, tr. 272
  8. ^ Antonini, Paul, tr. 273

Tài liệu tham khảo [sửa]

  • Antonini, Paul (1890). Annam, le Tonkin et l'Intervention de la France en Extrême Orient. Paris: Librairie Bloud et Barral. 
  • Bastard, G., Défense de Bazeilles, suivi de dix ans après au Tonkin (Paris, 1884)
  • Baude de Maurceley, C., Le Commandant Rivière et l’expédition du Tonkin (Paris, 1884)
  • Duboc, E., Trente cinq mois de campagne en Chine, au Tonkin (Paris, 1899)
  • Eastman, L., Throne and Mandarins: China's Search for a Policy during the Sino-French Controversy (Stanford, 1984)
  • Huard, La guerre du Tonkin (Paris, 1887)
  • Lung Chang [龍章], Yueh-nan yu Chung-fa chan-cheng [越南與中法戰爭, Vietnam and the Sino-French War] (Taipei, 1993)
  • Marolles, Vice-Amiral de, La dernière campagne du Commandant Rivière (Paris, 1932)
  • Nicolas, V., Livre d'or de l'infanterie de la marine (Paris, 1891)
  • Sarrat, L., Journal d'un marsouin au Tonkin, 1883–1886 (Paris, 1887)
  • Thomazi, A., Histoire militaire de l’Indochine française (Hanoi, 1931)
  • Thomazi, A., La conquête de l'Indochine (Paris, 1934)