Chiến dịch Bắc Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến dịch Bắc Kỳ
Campagne du Tonkin
Taking-of-bac-ninh.jpg
Chiếm Bắc Ninh, 12 tháng 3 năm 1884
.
Thời gian 1883–1886
Địa điểm Phía Bắc Việt Nam
Kết quả Pháp chiến thắng
Thay đổi lãnh thổ Vùng Bắc BộAn Nam do Pháp bảo hộ trong Liên bang Đông Dương.
Tham chiến
Cờ của Pháp Pháp Cờ của Nhà Thanh Nhà Thanh
Flag of Vietnam (1802-78).gif Nhà Nguyễn
Black Flag Army Flag.jpg Quân cờ đen
Lực lượng
35.000 quan vào mùa hè năm 1885 50.000 quân Trung Hoa, 10.000 quân An Nam, 3.000 quân Cờ đen
Tổn thất
2.100 người bị giết hoặc bị thương 10.000 người bị giết hoặc bị thương
.

Chiến dịch Bắc Kỳ (tiếng Pháp: campagne du Tonkin) là một chiến dịch diễn ra từ tháng 6 năm 1883 đến tháng 4 năm 1886 do Pháp tổ chức, nhằm chống lại các đội quân của người Việt, quân cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc và đội quân Quảng TâyVân Nam của nhà Thanh, với mục tiêu chiếm đóng Bắc Kỳ và giữ vững sự bảo hộ của Pháp tại đó. Với những diễn biến phức tạp của chiến dịch xảy ra vào tháng 8 năm 1884 do bùng phát Chiến tranh Pháp - Thanh và vào tháng 7 năm 1885 do phong trào Cần Vương tại An Nam, chiến dịch cần đến sự tham gia của rất nhiều quân Pháp, dưới cái tên Quân đoàn viễn chinh Bắc Kỳ và sự hỗ trợ từ Đội tàu chiến Bắc Kỳ. Chiến dịch chính thức kết thúc vào tháng 4 năm 1886, khi lực lượng viễn chinh giảm số lượng quân đội chiếm đóng, nhưng tình hình Bắc Kỳ vẫn không ổn định cho đến tận năm 1896.

Trong khoảng thời gian từ năm 1881 cho tới 1885, người Pháp đã tiêu tốn vào xứ Đông Dương 334 triệu franc, trong khi tổng mậu dịch của xứ này chỉ là 350 triệu franc trong năm 1879[1].

Hà Nội và Nam Định (tháng 6-7 năm 1883)[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ Bắc Kỳ

9 năm sau thất bại của Francis Garnier trong việc xâm chiếm Bắc Kỳ, quân đội Pháp và Việt Nam lại đụng độ ở Bắc Kỳ vào ngày 25 tháng 4 năm 1882, khi sĩ quan chỉ huy Henri Rivière chiếm được thành Hà Nội chỉ với một lực lượng nhỏ lính thủy đánh bộ[2].

Sau vài tháng tạm lắng, quân tiếp viện từ Pháp đã đến vào tháng 2 năm 1883 cho phép Rivière leo thang chiến tranh bằng việc chiếm đánh thành Nam Định (27/03/1883). Chiếm đóng được Nam Định là chiến lược quan trọng của người Pháp nhằm đảm bảo thông tin liên lạc của họ ra biển[3].

Phần lớn lực lượng của Rivière đóng tại Nam Định trong khoảng thời gian ông ta vắng mặt. Tiểu đoàn trưởng Berthe de Villers đã đánh bại một cuộc tấn công của người Việt ở các vị trí người Pháp chiếm đóng tại Hà Nội, do phò mã Hoàng Kế Viêm chỉ huy tại trận Gia Cúc (27-28/02/1883)[4].

Thuật ngữ Chiến dịch Bắc Kỳ trong bài này quy ước cuộc chiến bắt đầu từ tháng 6/1883 tuy những xung đột trước đó tại Bắc Kỳ đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch. Chiến dịch này được đánh dấu bằng sự quyết định của chính phủ Pháp gửi quân tiếp viện đến Bắc Kỳ, để trả thù cho thất bại và cái chết của Rivière trong cuộc chiến với quân cờ đen tại trận Cầu Giấy (19/05/1883). Quân tiếp viện đã được tổ chức thành Quân đoàn viễn chinh Bắc Kỳ, đặt dưới quyền chỉ huy của tướng Alexandre-Eugène Bouët (1833-1887), các sĩ quan cao cấp lính thủy đánh bộ đã có mặt sẵn ở thuộc địa Nam Kỳ[5].

Trận chiến tại Nam Định, 19/07/1883.

Tình cảnh của lính Pháp trước cuộc đổ bộ của Bouët đầu tháng 6 năm 1883 vô cùng bấp bênh. Người pháp lúc đó chỉ có duy nhất trại lính nhỏ tại Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định và các điểm bị cô lập tại Hòn Gai và Quy Nhơn tại Nam Kỳ. Bouët ngay lập tức thấy cần phải tấn công đội quân cờ đen và quân người Việt của Hoàng Kế Viêm. Bước đầu, Bouët's cho rút các căn cứ bị cô lập tại Hòn Gai và Quy Nhơn. Ông ta cũng cho phép từ bỏ Nam Định khi thấy cần thiết, những cố gắng bảo vệ 3 cứ điểm chính. Tháng 6, ông ta cũng dập tắt các cuộc biểu tình nửa vời của người Việt tại Hà Nội và Nam Định[6].

Lực lượng tăng cường từ Pháp và quần đảo Nouvelle-Calédonie, lực tuyển mộ ở Nam Kỳ, và lực lượng người Bắc Kỳ theo Pháp đến nhanh chóng đã cho phép Bouët phản công. Ngày 19/07, tiểu đoàn trưởng Pierre de Badens, chỉ huy cao cấp người Pháp tại Nam Định đã tấn công và đánh bại lực lượng quân vây hãm của Hoàng Kế Viêm, làm giảm áp lực của quân Việt lên Nam Định[7]

Thiết lập chế độ bảo hộ của Pháp (tháng 8 năm 1883)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trận Cửa Thuận An
Courbet and Harmand tại Huế, tháng 8 năm 1883

Sự xuất hiện của đô đốc Amédée Courbet vào tháng 7 năm 1883 cùng với lực lượng hải quân tiếp viện lớn càng củng cố thêm sức mạnh của quân Pháp tại Bắc Kỳ. Quân Pháp ở hoàn cảnh bắt buộc phải tấn công quân Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc và họ nhận ra rằng hành động quân sự đương đầu với quân Cờ đen phải đi kèm một giải pháp với triều đình Việt Nam tại Huế. Nếu cần thiết, phải dùng vũ lực để có được sự công nhận bảo hộ của Pháp với Bắc Kỳ.

Ngày 30 tháng 7 năm 1883, Đô đốc Courbet, tướng BouëtFrançois- Jules Harmand, được bổ nhiệm là Tổng Ủy Viên Hội Đồng Dân Sự Bắc Kỳ gần đây đã bổ nhiệm ủy viên dân sự Pháp - chung của Bắc Bộ, nắm giữ một hội đồng chiến tranh tại Hải Phòng. Cả 3 đều thống nhất rằng nên khởi động sớm nhất có thể cuộc chiến chống lực lượng quân cờ đen đang đóng ở Phủ Hoài bên bờ sông Đáy và lực lượng của Hoàng Kế Viêm đối kháng với quân Pháp tại Nam Định. Vì vậy họ đã đi đến quyết định, chủ yếu là sự thúc giục của Harmand, đề nghị chính phủ Pháp cho phép thực hiện một cuộc tấn công vào hệ thống phòng thủ tại trung ương Huế, sau đó gửi một tối hậu thư yêu cầu Việt Nam phải chấp nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn Bắc Kỳ hoặc phải đối mặt với cuộc tấn công ngay lập tức[8].

Đề xuất này được Bộ chấp thuận vào ngày 11 tháng 8, và ngày 18 tháng 8, một số tàu chiến thuộc nhóm lực lượng hải quân duyên hải tại Bắc Kỳ của Courbet đã bắn phá các cửa phòng thủ Thuận An, lối vào của sông Huế. Ngày 20 tháng 8, tại trận Cửa Thuận An, 2 nhóm lính thủy đánh bộ Pháp và các nhóm lính trong 3 tàu chiến Pháp đã cập vào bờ và nã pháo vào các công sự phòng thủ. Trong suốt buổi chiều, pháo hạm Lynx và Vipère đã chọc thủng hàng rào phòng ngự tại cửa sông Hương, tạo điều kiện cho quân Pháp tấn công trực tiếp Huế nếu họ họ muốn[9].

Ký kết Hòa ước Quý Mùi, 25/08/1883

Triều đình Việt Nam đã yêu cầu một hiệp ước đình chiến, ngày 25 tháng 8, Harmand tự thảo cho triều đình hèn nhát Huế một hiệp ước có tên là Hòa ước Quý Mùi. Việt Nam công nhận tính hợp pháp của sự chiếm đóng của Pháp tại Nam Kỳ, chấp nhận sự bảo hộ của Pháp đối với cả Trung Kỳ và Bắc Nam Kỳ và hứa sẽ rút quân khỏi Bắc Kỳ. Việt Nam, gia đình hoàng gia, triều đình vẫn tồn tại nhưng phải nằm dưới sự chỉ đạo của Pháp. Pháp có đặc quyền đóng quân đồn trú tại Huế. Để đảm bảo không có biến cố, một đơn vị lính đồn trú Pháp sẽ chiếm giữ lâu dài tại cửa phòng thủ Thuận An. Một dải lãnh thổ lớn thuộc Trung Kì được chuyển sang Bắc Kì, và Nam Kì nơi chịu sự quản lý trực tiếp của người Pháp. Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh được nhập vào Bắc Kì và các tỉnh phía Nam Bình Thuận vào Nam Kì. Người Pháp hủy bỏ mọi khoản nợ quốc gia. Người Pháp tiến hành loại bỏ quân Cờ Đen tại Bắc Kì và kiểm soát thương mại trên sông Hồng[10].

Phủ Hoài, Palan và Hải Dương (tháng 8–11 năm 1883)[sửa | sửa mã nguồn]

Sơn Tây (tháng 12 năm 1883)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trận Sơn Tây (1883)

Bắc Ninh và Hưng Hóa (tháng 1-7 năm 1884)[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc chiến Pháp- Thanh (Tháng 8 năm 1884- tháng 4 năm 1885)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chiến tranh Pháp-Thanh

Sự 'lặng sóng' tại Bắc Kỳ (tháng 4 năm 1885 - tháng 4 năm 1886)[sửa | sửa mã nguồn]

Chuẩn bị lên tàu ở Algiers để đến Bắc Kỳ, tháng 1 năm 1885

Chiến tranh Trung-Pháp kết thúc với việc quân Trung Quốc bị đẩy lùi ra khỏi Bắc Bộ và hiệp ước hòa bình được ký kết giữa Pháp và Trung Quốc tại Thiên Tân vào ngày 09 tháng 6 năm 1885, buộc Trung Quốc phải từ bỏ ảnh hưởng lịch sử quyền bá chủ của nó với Việt Nam và thừa nhận chế độ bảo hộ của Pháp trên cả Nam Kì và Bắc Kì. Theo lý thuyết, điều này củng cố đòi hỏi của họ đối với Bắc Kì. Nhưng thực tế điều này không dễ dàng như thế. Một chính khách Anh đã nhận xét vào thời điểm đó:

Pháp đã giành chiến thắng trong tuyên bố chủ quyền với Bắc Kỳ; và bây giờ toàn bộ công việc phải làm là chế ngự nó.

Một lực lượng mạnh quân tiếp viện đã được gửi đến Bắc Kỳ khi xảy ra cuộc nổi dậy Lạng Sơn (tháng 3 năm 1885), nâng tổng số binh sĩ Pháp tại Bắc Kỳ lên đến 35.000 vào mùa hè năm 1885. Trong tháng 5 và tháng 6 năm 1885, thêm hàng ngàn lính Pháp mới đổ vào Bắc Kỳ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kratoska, trang 295
  2. ^ Thomazi, Conquête, 140–44
  3. ^ Thomazi, Conquête, 149–50
  4. ^ Thomazi, Conquête, 150–51
  5. ^ Thomazi, Conquête, 158–62
  6. ^ Huard, 84–8
  7. ^ Duboc, 156–7; Huard, 88–92
  8. ^ Thomazi, Conquête, 162–3
  9. ^ Huard, 103–22; Loir, 13–22; Thomazi, Conquête, 165–6; Histoire militaire, 62–4
  10. ^ Huard, 122–30; Thomazi, Conquête, 166

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Pháp

  • Duboc, E., Trente cinq mois de campagne en Chine, au Tonkin (Paris, 1899)
  • Dukay, P., Les héros de Tuyen-Quan (Paris, 1933)
  • Fourniau, C., Annam–Tonkin 1885–1896: lettrés et paysans vietnamiens face à la conquête coloniale (Paris, 1989)
  • Huard, La guerre du Tonkin (Paris, 1887)
  • Huguet, L., En colonne: souvenirs de l'Extrême-Orient (Paris, 1888)
  • Lecomte, J., Lang-Son: combats, retraite et négociations (Paris, 1895)
  • Loir, M., L'escadre de l'amiral Courbet (Paris, 1886)
  • Lung Chang [龍章], Yueh-nan yu Chung-fa chan-cheng [越南與中法戰爭, Vietnam and the Sino-French War] (Taipei, 1993)
  • Thomazi, A., Histoire militaire de l’Indochine française (Hanoi, 1931)
  • Thomazi, A., La conquête de l'Indochine (Paris, 1934)

Tiếng Anh