Hoàng Kế Viêm
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hoàng Kế Viêm tên thật là Hoàng Tá Viêm (1820-1909), tự Nhật Trường, hiệu Tùng An, là một danh tướng nhà Nguyễn, người làng Văn Đa, tổng Văn Đại, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Mục lục |
[sửa] Tiểu sử
Hoàng Kế Viêm là con của Hoàng Kim Xán, bố chánh tỉnh Khánh Hòa. Sau khi Hoàng Kế Viêm thi đỗ cử nhân vào năm 1843 đang thời vua Minh Mạng, ông được bổ Tư vụ, hàm Quang Lộc tự khanh Ông kết duyên với con gái thứ 5 của vua Minh Mạng là công chúa Hương La, nhưng chẳng bao lâu thì vợ mất. Đời Thiệu Trị , năm 1846, ông làm Lang trung Bộ Lại, đến thời Tự Đức, năm 1850, mẹ mất, ông về chịu tang thì được chiếu triệu về kinh, sung chức Án sát tỉnh Ninh Bình (1952). Năm 1854, ông thăng Bố chính Thanh Hóa , Bố chánh kiêm Tuần phủ Hưng Yên (1859) , Tổng đốc An Tịnh (1863). Suốt thời gian trên, ông có công trị an, mở mang kinh tế, thủy lợi…
Năm cuối thập niên 1860, dư đảng của Thái Bình Thiên quốc là Ngô Côn chạy tràn sang miền bắc Việt Nam, đầu tiên xin hàng, rồi sau đem quân đi cướp phá các tỉnh, quan quân nhà Nguyễn đánh mãi không được mà còn mất nhiều binh tướng. Triều đình nhà Nguyễn phải nhờ quân nhà Thanh phối hợp để tiễu trừ. Đến khi Ngô Côn bị giết, dư đảng là Hoàng Sùng Anh, hiệu cờ vàng, Lưu Vĩnh Phúc, hiệu cờ đen, Bàn văn Nhị, Lương văn Lợi, hiệu cờ trắng, vẫn cứ quấy nhiễu ở mạn Tuyên Quang, Thái Nguyên, quan quân nhà Nguyễn phải hết sức chống giữ rất vất vả.
Đến khi đảng cướp người Tàu là Tô Tứ nổi lên, cướp thành Lạng Sơn, bắt giết Tổng thống quân vụ Bắc kỳ là Đoàn Thọ. Năm 1870, Triều đình Huế phải phái Hoàng kế Viêm ra làm Lạng-Bình-Ninh-Thái Thống đốc quân vụ đại thần, cùng với quan Tán tương Tôn Thất Thuyết đi dẹp ở Bắc Kỳ. Qua tháng Tư năm sau (1871), Tự Đức lại sai quan Hình bộ thượng thư là Lê Tuấn làm chức Khâm sai thị sự để cùng với Hoàng Kế Viêm lo việc đánh dẹp. Hoàng Kế Viêm vừa tìm cách đánh vừa dụ hàng, đâ thu phục được Lưu Vĩnh Phúc, đánh tan giặc cờ trắng và cờ vàng. Hoàng Sùng Anh cũng bị quân cờ đen truy lùng và giết chết khi tìm cách trốn chạy. Nhờ công lao này, ông được phong Đại học sĩ lãnh Tổng thống Tam Tuyên, sung Tiết chế quân vụ miền Bắc
Vì đất Bắc Kỳ cứ có giặc giã luôn cho nên Triều đình đặt ra chức Tĩnh biên sứ để giữ các nơi về đường ngược. Năm Canh Thìn (1880), đặt ra Lạng Giang đạo và Đoan Hùng đạo sai hai viên Tĩnh biên phó sứ là Trương Quang Đản đóng ở Lạng Giang và Nguyễn Hữu Độ đóng ở Đoan Hùng. Phong cho Hoàng Kế Viêm là Tĩnh biên sứ, kiêm cả hai đạo.
Khi quân Pháp xâm chiếm Đại Nam, ông đứng về phe chủ chiến. Năm 1873, đại úy hải quân Pháp Francis Garnier đem quân theo sông Hồng lên chiếm thành Hà Nội và sửa soạn đánh các tỉnh khác ở đồng bằng sông Hồng. Triều đình sai Hoàng Kế Viêm Tiết chế quân vụ phòng thủ các nơi. Ông liền đem quân của mình và gọi thêm quân Cờ Đen đến phục kích ở Cầu Giấy (Hà Nội) và khiêu chiến với Garnier. Viên sĩ quan Pháp đem quân ra đánh liền bị giết chết ngày 21 tháng 11 năm 1873.[1]
Năm 1883, đến lượt đại tá hải quân Pháp Henri Rivière đánh và chiếm được thành Hà Nội, song cũng lại bị quân của Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc giết chết ở Cầu Giấy ngày 19 tháng 5 năm 1883.
Năm 1883, vua Kiến Phúc lên ngôi, triều đình ký hiệp ước Harmand với Pháp, rồi ra lệnh cho Hoàng Kế Viêm lúc đó đang đóng ở Sơn Tây rút quân về Kinh, nhưng ông không nghe lệnh, tiếp tục ở lại phối hợp với quân Thanh đánh lại quân Pháp. Mãi đến khi Sơn Tây và Hưng Hóa thất thủ, ông mới chịu về Huế, nhưng cương quyết không hợp tác với phe chủ hòa và quân Pháp.
Năm 1884, ông được phong làm Thái tử Thiếu bảo, Cơ mật viên Đại thần. Chẳng bao lâu ông xin về trí sĩ nhưng không được, mãi đến đời Thành Thái, năm 1889, ông mới được nghỉ hưu, về quê sống đến khi mất (1909), thọ 89 tuổi.
[sửa] Tác phẩm
Ông là tác giả của một số tác phẩm có giá trị về văn học, lịch sử.
-
- Phê thị trần hoàn: Ghi chép về đời Tự Đức
- Tiên công sự tích biệt lục: Ghi lại thân thế và sự nghiệp của cha ông
- Khổn y lục: Ghi lại tiểu sử công chúa Hương La, vợ ông
- Bát tiên công gia huấn từ: Ghi lời dạy con cái theo di cảo của thân phụ ông
- Chi chi thi thảo
- Vân vân văn tập
- An phủ trấp lược
[sửa] Thơ tưởng niệm
Khi ông mất, nhà soạn tuồng Đào Tấn có bài thơ tưởng niệm
- Tặng Tướng quân Hoàng Kế Viêm
- Trong quân không rượu để khuyên sầu
- Bến Cát đành cam phụ cặp bầu
- Nam Bắc bao năm dong ruổi ngựa,
- Quan hà muôn thưở tiễn đưa nhau
- Gió hiu nâng gối tan buồn vặc
- Trăng lụa xuyên rèm tỉnh mộng thu
- Thức giấc, núi xưa người chẳng thấy
- Trên sông sáng sớm bóng non cao[2]
[sửa] Chú thích
- ^ Ngày F. Garnier chết ghi theo sách hỏi đáp Lịch sử VN, tập 4, Nxb Trẻ, 2007, tr.160. Có sách ghi ngày 22 tháng 11 năm 1873
- ^ Theo Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế, Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội, 1992, tr.240

