Lạng Sơn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lạng Sơn
Tỉnh
Logo Lang Son.PNG
Biểu trưng
Mau Son.JPG
Địa lý
Tọa độ: 21°51′14″B 106°45′40″Đ / 21,853851°B 106,761189°Đ / 21.853851; 106.761189Tọa độ: 21°51′14″B 106°45′40″Đ / 21,853851°B 106,761189°Đ / 21.853851; 106.761189
Diện tích 8.320,8 km²[1]
Dân số (2011)  
 Tổng cộng 741.200 người[1]
 Mật độ 89 người/km²
Dân tộc Việt, Tày, Dao, Nùng
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Đông Bắc
Tỉnh lỵ Thành phố Lạng Sơn
 Chủ tịch HĐND Phùng Thanh Kiểm
 Bí thư Tỉnh ủy Phùng Thanh Kiểm
Phân chia hành chính 1 thành phố và 10 huyện
Mã hành chính VN-09
Mã bưu chính 24xxxx
Mã điện thoại 25
Biển số xe 12
Website http://www.langson.gov.vn/

Lạng Sơn còn gọi là xứ Lạng là một tỉnh ở vùng Đông Bắc Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

sông Kỳ Cùng và tuyến phố nằm bên sông

Đồi núi chiếm hơn 80% diện tích cả tỉnh. Dạng địa hình phổ biến ở Lạng Sơn là núi thấp và đồi, độ cao trung bình 252 m so với mặt nước biển. Nơi thấp nhất là 20 m ở phía nam huyện Hữu Lũng và nơi cao nhất là núi Mẫu Sơn 1541m. Mẫu Sơn cách thành phố Lạng Sơn 30 km về phía đông, được bao bọc bởi nhiều ngọn núi lớn nhỏ, thỉnh thoảng có tuyết rơi vào mùa đông.

Khí hậu, thời tiết[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu của Lạng Sơn thể hiện rõ nét khí hậu cận nhiệt đới ẩm của miền Bắc Việt Nam. Khí hậu phân mùa rõ rệt, ở các mùa khác nhau nhiệt độ phân bố không đồng đều do sự phức tạp của địa hình miền núi và sự biến tính nhanh chóng của không khí lạnh trong quá trình di chuyển ở vùng nội chí tuyến đã gây nên những chênh lệch đáng kể trong chế độ nhiệt giữa các vùng.

  • Nhiệt độ trung bình năm: 17-22 °C
  • Lượng mưa trung bình hàng năm: 1200–1600 mm
  • Độ ẩm tương đối trung bình năm: 80-85%
  • Lượng mây trung bình năm khoảng 7,5/10 bầu trời
  • Số giờ nắng trung bình khoảng 1600 giờ

Hướng gió và tốc độ gió của Lạng Sơn vừa chịu sự chi phối của yếu tố hoàn lưu, vừa bị biến dạng bởi địa hình. Mùa lạnh thịnh hành gió Bắc, mùa nóng thịnh hành gió Nam và Đông Nam. Tốc độ gió nói chung không lớn, trung bình 0,8–2 m/s song phân hoá không đều giữa các vùng trong tỉnh.

Hệ thống sông ngòi[sửa | sửa mã nguồn]

Mật độ sông suối của Lạng Sơn thuộc loại trung bình đến khá dày, qua địa phận có các sông chính là:

  • Sông Kỳ Cùng Độ dài: 243 km, Diện tích lưu vực: 6660 km², bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao 1166 m thuộc huyện Đình Lập, sông Kỳ Cùng thuộc lưu vực sông Tây Giang Trung Quốc. Đây là con sông duy nhất ở miền Bắc Việt Nam chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, do vậy mảnh đất xứ Lạng còn được gọi là "nơi dòng sông chảy ngược".
  • Sông Bản Thí, phụ lưu của sông Kỳ Cùng.Độ dài: 52 km, Diện tích lưu vực: 320 km², bắt nguồn từ vùng núi cao thuộc Quảng Tây (Trung Quốc) đổ vào bờ phải sông Kỳ Cùng ở xã Khuất Xá huyện Lộc Bình.
  • Sông Bắc Giang, phụ lưu của sông Kỳ Cùng.Độ dài: 114 km, Diện tích lưu vực: 2670 km²,
  • Sông Bắc Khê, phụ lưu của sông Kỳ Cùng, Độ dài: 54 km, Diện tích lưu vực: 801 km²
  • Sông Thương là sông lớn thứ hai của Lạng Sơn, bắt nguồn từ dãy núi Na Pa Phước (huyện Chi Lăng) chảy trong máng trũng Mai Sao - Chi Lăng và chảy vào địa phận tỉnh Bắc Giang, Độ dài: 157 km, Diện tích lưu vực: 6640 km²
  • Sông Hoá, Độ dài: 47 km, Diện tích lưu vực: 385 km²
  • Sông Trung, Độ dài: 35 km, Diện tích lưu vực: 1270 km²

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Lạng Sơn có một thành phố tỉnh lỵ là thành phố Lạng Sơn (gồm 5 phường, 3 xã) và 10 huyện. Lạng Sơn có 226 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 207 xã, 5 phường và 14 thị trấn

Tên Loại hành chính Dân số (2003) Diện tích (km²) thị trấn (đậm)
Lạng Sơn (thành phố) 148,000 (2007) 79[2]
Bắc Sơn (huyện) 65,073[2] 698[2] Bắc Sơn, Long Đống, Quỳnh Sơn, Bắc Sơn, Hữu Vĩnh, Chiêu Vũ, Hưng Vũ, Trấn Yên, Nhất Tiến, Nhất Hòa, Vũ Lăng, Vũ Sơn, Vũ Lễ, Tân Thành, Tân Hương, Tân Lập, Tân Tri, Chiến Thắng, Đồng Ý, Vạn Thủy.
Bình Gia (huyện) 54,349[2] 1091[2] Bình Gia, Tô Hiệu, Hoàng Văn Thụ, Tân Văn, Hồng Thái, Mông Ân, Hồng Phong, Thiện Hòa, Thiện Long, Thiện Thuật, Yên Lỗ, Hưng Đạo, Hoa Thám, Bình La, Minh Khai, Quang Trung, Quý Hòa, Tân Hòa, Hòa Bình, Vĩnh Yên.
Cao Lộc (huyện) 75,980[2] 644[2] Cao Lộc, Đồng Đăng, Tân Thành, Xuân Long, Yên Trạch, Tân Liên, Gia Cát, Cống Sơn, Mẫu Sơn, Xuất Lễ, Cao Lâu, Hải Yến, Lộc Yên, Thanh Lòa, Hòa Cư, Hợp Thành, Thạch Đạn, Bảo Lâm, Thụy Hùng, Song Giáp, Phú Xá, Bình Trung, Hồng Phong.
Chi Lăng (huyện) 77,910[2] 703[2]
Đình Lập (huyện) 28,125[2] 1183[2] Đình Lập, Nông Trường Thái Bình, Lâm Ca, Đồng Thắng, Bắc Lãng, Châu Sơn, Cường Lợi, Thái Bình, Đình Lập, Bính Xá, Kiên Mộc, Bắc Xa.
Hữu Lũng (huyện) 114,638[2] 805[2] Hữu Lũng, Hòa Thắng, Minh Hòa, Minh Sơn, Sơn Hà, Hồ Sơn, Tân Thành, Hòa Sơn, Hòa Lạc, Yên Sơn, Cai Kinh, Đồng Tân, Nhật Tiến, Minh Tiến, Đô Lương, Vân Nham, Đồng Tiến, Thanh Sơn, Thiện Ky, Tân Lập, Quyết Thắng, Yên Bình, Hòa Bình, Yên Vượng, Yên Thịnh, Hữu Liên.
Lộc Bình (huyện) 80,517[2] 998[2] Lộc Bình, Na Dương, Ái Quốc, Xuân Dương, Hữu Lân, Nam Quan, Minh Phát, Đông Quan, Hiệp Hạ, Xuân Tình, Như Khuê, Nhượng Bạn, Quan Bản, Lục Thôn, Vân Mộng, Bằng Khánh, Xuân Lễ, Xuân Mãn, Đồng Bục, Hữu Khánh, Mẫu Sơn, Yên Khoái, Tú Mịch, Tú Đoạn, Khuất Xá, Tam Gia, Tĩnh Bắc, Sàn Viên, Lợi Bác.
Tràng Định (huyện) 62,869[2] 995[2] Thất Khê, Khánh Long, Đoàn Kết, Cao Minh, Tân Yên, Vĩnh Tiến, Tân Tiến, Bắc Ái, Kim Đồng, Chí Minh, Chi Lăng, Đề Thám, Hùng Sơn Hùng Việt, Kháng Chiến, Đại Đồng, Tri Phương, Quốc Khánh, Đội Cấn, Tân Minh, Trung Thành, Quốc Việt, Đào Viên.
Văn Lãng (huyện) 50,210[2] 561[2]

Na Sầm, Tân Việt, Trùng Quán, Trùng Khánh, Thụy Hùng, Thanh Long, Nam La, Hội Hoan, Gia Miễn, Bắc Ba, Tân Tác, Tân Lang, An Hùng, Thành Hòa, Hoàng Việt, Tân Thanh, Tân Mỹ, Hoàng Văn Thụ, Hồng Thái, Nhạc Kỳ.

Văn Quan (huyện) 57,050[2] 549[2] Văn Quan, Hữu Lễ, Tri Lễ, Yên Phúc, Bình Phúc, Lương Năng, Tú Xuyên, Tràng Sơn, Xuân Mai, Tràng Phái, Tân Đoàn, Tràng Các, Đồng Giáp, Chu Túc, Đại An, Văn An, Vĩnh Lai, Hòa Bình, Vân Mộng, Việt Yên, Phú Mỹ, Trấn Ninh, Song Giang, Khánh Khê.

Thay đổi hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Hữu Nghị Quan

Sau khi Thăng long thất thủ 1592 nhà Mạc chạy về Cao bằng trong thời gian từ 1593-1677 đã xây dựng thành nhà Mạc tại Lạng sơn để chống lại tiến công của Nhà Lê Trịnh. Lạng Sơn là một trong 13 tỉnh được vua Minh Mạng thành lập đầu tiên ở Bắc Kỳ (năm 1831).

Từ ngày 9 tháng 9 năm 1891 đến ngày 20 tháng 6 năm 1905, là Tiểu quân khu Lạng Sơn thuộc Đạo Quan binh II Lạng Sơn. Sau đó tái lập tỉnh.

Ngày 7 tháng 6 năm 1949, huyện Lộc Bình của tỉnh Hải Ninh nhập vào tỉnh Lạng Sơn.

Trong kháng chiến chống Pháp, Lạng Sơn thuộc Liên khu Việt Bắc. Năm 1950, tỉnh Lạng Sơn có 10 huyện: Bằng Mạc, Bắc Sơn, Bình Gia, Cao Lộc, Điềm He, Lộc Bình, Ôn Châu, Thoát Lãng, Tràng Định, Văn Uyên.

Ngày 1 tháng 7 năm 1956, huyện Hữu Lũng của tỉnh Bắc Giang nhập vào tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Lạng Sơn thuộc Khu tự trị Việt Bắc (được thành lập cùng ngày). Khu tự trị Việt Bắc tồn tại đến ngày 27 tháng 12 năm 1975.

Ngày 16 tháng 12 năm 1964, huyện Điềm He cùng 6 xã của huyện Bằng Mạc hợp nhất thành huyện mới Văn Quan; huyện Ôn Châu cùng 8 xã còn lại của huyện Bằng Mạc hợp nhất thành huyện mới Chi Lăng; hợp nhất 2 huyện Văn Uyên và Thoát Lãng thành huyện Văn Lãng.[3]

Từ ngày 27 tháng 12 năm 1975 đến ngày 29 tháng 12 năm 1978 nhập với tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng, rồi lại tách ra như cũ.

Ngày 29 tháng 12 năm 1978 tái lập tỉnh Lạng Sơn, đồng thời sáp nhập huyện Đình Lập của tỉnh Quảng Ninh vào tỉnh Lạng Sơn.[4]

Ngày 17 tháng 10 năm 2002, chuyển thị xã Lạng Sơn thành thành phố Lạng Sơn[5]. Như vậy tỉnh Lạng Sơn có 1 thành phố và 10 huyện với tên gọi như hiện nay.

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Một con đường tại trung tâm thành phố Lạng Sơn

Dân số 831.887 người (điều tra dân số 01/04/2009));có 7 dân tộc anh em, trong đó người dân tộc Nùng chiếm 42,97%, Tày chiếm 35,92%,Kinh 16,5%,còn lại là các dân tộc Dao, Hoa, Sán Chay, H'Mông...

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Lạng Sơn xếp ở vị trí thứ 53/63 tỉnh thành.[6]

Văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Du khách đi qua Hữu Nghị Quan

Lạng Sơn có nhiều thắng cảnh nổi tiếng, được nhắc đến nhiều trong thi ca Việt Nam, ví dụ như bài ca dao truyền khẩu dưới đây

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác mẹ sinh thành ra em
Tay cầm bầu rượu nắm nem
Mảng vui quên hết lời em dặn dò.[7]

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q “s of Vietnam”. Statoids. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2010. 
  3. ^ Quyết định 177-CP năm 1964 về việc điều chỉnh địa giới của một số huyện thuộc tỉnh Lạng Sơn
  4. ^ Nghị quyết về việc phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới các tỉnh Cao Lạng, Bắc Thái và Quảng Ninh do Quốc hội ban hành
  5. ^ Nghị định 82/2002/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Lạng Sơn, thuộc tỉnh Lạng Sơn
  6. ^ “PCI 2011: Lào Cai và Bắc Ninh 'vượt vũ môn' ngoạn mục”. Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012. 
  7. ^ Nguồn: [1].
  8. ^ Đền Ký Cùng nằm bên tả ngạn sông Kỳ Cùng và ở ngay đầu cầu Kỳ Lừa, thuộc thành phố Lạng Sơn. Năm 1993, ngôi đền đã được công nhận là di tích cấp quốc gia (1993). Nguồn: Bảng giới thiệu di tích treo tại đền.
  9. ^ Bến đá Kỳ Cùng nằm bên hữu ngạn sông Kỳ Cùng, gần cầu Kỳ Lừa và đối diện với đền Kỳ Cùng. Khoảng năm 1778, đền đã được Đốc trấn Ngô Thì Sĩ liệt là một trong 8 cảnh đẹp của trấn lỵ Lạng Sơn (Trấn doanh bát cảnh). Năm 1993, Bến đá Kỳ Cùng đã được công nhận là di tích cấp quốc gia.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]