Đắk Nông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đắk Nông
Tỉnh
Draysap02.JPG
Thác Đray Sáp
Địa lý
Tọa độ: 12°15′25″B 107°42′06″Đ / 12,256812°B 107,701721°Đ / 12.256812; 107.701721Tọa độ: 12°15′25″B 107°42′06″Đ / 12,256812°B 107,701721°Đ / 12.256812; 107.701721
Diện tích 6.515,6 km²[1]
Dân số  
 Tổng cộng 516.300 người[1]
 Mật độ 79 người/km²
Dân tộc Việt, Ê-đê, Nùng, M'Nông, Tày
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Tây Nguyên
Tỉnh lỵ Thị xã Gia Nghĩa
 Chủ tịch UBND Lê Diễn
 Chủ tịch HĐND Điểu K’Ré
 Bí thư Tỉnh ủy Trần Quốc Huy
Phân chia hành chính 1 thị xã, 7 huyện
Mã hành chính VN-72
Mã bưu chính 64xxxx
Mã điện thoại 501
Biển số xe 48
Website Tỉnh Đắk Nông

Đắk Nông hay Đắc Nông là một tỉnhTây Nguyên. Tỉnh Đắk Nông được tái lập vào ngày 01 tháng 01 năm 2004, theo Nghị quyết số 23/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đăk Lăk thành 2 tỉnh mới là Đắk Nông và Đăk Lăk[2].

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Đắk Nông nằm ở cửa ngõ phía tây nam của Tây Nguyên, nằm trong vùng tọa độ từ 11°45 đến 12°50 vĩ độ bắc và từ 107°12 đến 108°07 kinh độ đông[3]. Trung tâm tỉnh Đắk Nông nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột với chiều dài 125 km theo đường quốc lộ 14, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 250 km về phía nam. Phía bắc và đông bắc của Đắc Nông giáp với địa phận tỉnh Đắk Lắk, phía đông và đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía nam giáp tỉnh Bình Phước[4], đồng thời phía tây tỉnh Đắk Nông giáp với Vương Quốc Campuchia với đường biên giới dài khoảng 120 km[5], qua hai cửa khẩu là cửa khẩu Đắk Per thuộc huyện Đắk Mil và Bup'rang thuộc địa phận Tuy Đức[3].

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Đắk Nông nằm trọn trên cao nguyên M’Nông, với độ cao trung bình từ 600 mét đến 700 mét so với mặt nước biển, cao nhất là ở Tà Đùng với độ cao lên đến 1.982 mét. Nhìn chung địa hình Đăk Nông chạy dài và thấp dần từ đông sang tây. Địa hình đa dạng, phong phú và bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ giữa các núi cao, với các cao nguyên rộng lớn, dốc thoải, lư­ợn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng[6].

Cao nguyên Mơ Nông

Khí hậu Đăk Nông chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Tây NguyênĐông nam bộ, chính vì vậy chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng có sự nâng lên của địa hình nên có đặc trưng của khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa tây nam khô nóng. Khí hậu phân hóa thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưamùa khô. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90% lượng mưa cả năm, Lượng mưa trung bình năm 2.513 mm. Mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể. Nhiệt độ trung bình năm 22-230C, nhiệt độ cao nhất 350C, thấp nhất 140C. Với điều kiện thời tiết này rất phù hợp với phát triển các cây trồng nhiệt đới lâu năm. Tuy nhiên khí hậu ở Đắc Nông cũng có những mặt bắt lợi là sự mất cân đối về lượng mưa trong năm và sự biến động lớn về biên độ nhiệt ngày đêm và theo mùa, nên yếu tố quyết định đến sản xuất và sinh hoạt là việc cấp nước, giữ nước và việc bố trí mùa vụ cây trồng[6].

Đắk Nông có mạng lưới sông suối, hồ, đập phân bố tương đối đều khắp, thuận lợi để khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng các công trình thủy điện. Đất đai Đăk Nông khá phong phú và đa dạng, được chia thành 5 nhóm đất chính gồm Nhóm đất xám, Đất đỏ bazan, Còn lại là đất đen bồi tụ. Đất nông nghiệp chiếm 47% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó đất trồng cây công nghiệp lâu năm chiếm phần lớn diện tích[6].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xóm nhỏ trên cao nguyên Mơ Nông

Thời Pháp thuộc năm 1893, người Pháp toàn quyền cai trị vùng cao nguyên Trung phần, trong đó có khu vực nay là tỉnh Đăk Nông. Hệ thống hành chính thực dân tập trung ở Đăk MilĐăk Song. Năm 1940, bên cạnh nhà tù Buôn Ma Thuột, Pháp cho xây dựng Ngục Đăk Mil (nay thuộc huyện Đăk Mil, Đăk Nông).

Khu vực này năm 1946 thuộc Xứ Thượng Nam Đông Dương rồi đến năm 1950 thì gom vào Hoàng triều Cương thổ trước khi đơn vị này bị xóa bỏ năm 1955 dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1959, khu vực Nâm Nung trở thành khu căn cứ của lực lượng quân cách mạng. Tháng 1 năm 1959, Việt Nam Cộng hòa cắt một phần phía Tây của tỉnh Đắk Lắk, một phần quận Kiến Hòa của Thủ Dầu Một để thành lập tỉnh Quảng Đức. Địa giới hành chính tỉnh Quảng Đức, về cơ bản giống như địa giới tỉnh Đắk Nông ngày nay, được chia làm 3 quận: Quận Đức Lập, quận Kiến Đức, quận Khiêm Đức và khu hành chính Đức Xuyên. Tháng 12 năm 1960, Chính quyền Cách mạng cũng đã quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức, giữa năm 1961, tỉnh Quảng Đức do khu VI trực tiếp chỉ đạo. Đầu năm 1962, Chính quyền Cách mạng quyết định giải thể tỉnh Quảng Đức, chuyển Đức Lập, Đức Xuyên nhập về tỉnh Đắk Lắk, Kiến Đức nhập về tỉnh Phước Long, Khiêm Đức nhập về tỉnh Lâm Đồng.

Sau ngày hai miền thống nhất, tháng 5 tháng 1975, tỉnh Quảng Đức được thành lập lại. Tháng 11 năm 1975, tỉnh Quảng Đức sáp nhập vào tỉnh Đắk Lắk. Từ ngày 1 tháng 1 năm 2004, tỉnh Đắk Nông được tái lập theo Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đăk Lăk. Khi tách ra, tỉnh Đắk Nông có 6 đơn vị hành chính gồm 6 huyện: Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Nông, Đắk R'lấp, Đắk Song, Krông Nô.

Ngày 27 tháng 6 năm 2005, chia huyện Đắk Nông thành thị xã Gia Nghĩa (thị xã tỉnh lị tỉnh Đắk Nông) và huyện Đắk Glong.[7]

Ngày 22 tháng 11 năm 2006, chia huyện Đắk R'lấp thành 2 huyện: Đắk R'lấpTuy Đức.[8]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Đắk Nông có 1 thị xã và 7 huyện trực thuộc, Trong đó, có 71 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 61 xã, 5 phường và 5 thị trấn[9].

Ðơn vị hành chính cấp Huyện Thị xã
Gia Nghĩa
Huyện
Cư Jút
Huyện
Đắk Glong
Huyện
Đắk Mil
Huyện
Đắk R'Lấp
Huyện
Đắk Song
Huyện
Krông Nô
Huyện
Tuy Đức
Diện tích (km²) --- --- --- --- --- --- --- ---
Dân số (người)2009 41.788 88.264 39.049 87.831 74.087 56.829 62.888 38.656
Mật độ dân số (người/km²) --- --- --- --- --- --- --- ---
Số đơn vị hành chính 5 phường và 3 xã 1 thị trấn và 7 xã 7 xã 1 thị trấn và 9 xã 1 thị trấn và 10 xã 1 thị trấn và 8 xã 1 thị trấn và 11 xã 6 xã
Năm thành lập 19/6/1990 6/2005 1975 22/2/1986 2007
Nguồn: Website tỉnh Đắc Nông
Thị xã Gia Nghĩa, Đắk Nông

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2011, tốc độ tăng trưởng GDP của Đắk Nông đạt 12,13%, trong đó khu vực công nghiệp xây dựng tăng 22,09%, nông lâm thủy sản tăng 5,95%, dịch vụ tăng 14,42%. Về Cơ cấu kinh tế năm 2011, công nghiệp xây dựng chiếm 26,66%, nông lâm thủy sản 50,21% và dịch vụ 23,13%. GDP theo giá hiện hành đạt 10.048 tỷ, tăng 1.619,5 tỷ so với năm 2010. Trong đó GDP ngành nông nghiệp 5.045 tỷ đồng, chiếm 50,2% so với giá trị tổng sản phẩm toàn tỉnh. GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt 18,96 triệu đồng (kế hoạch 16,95 triệu đồng)[10]/

Nhìn chung, công tác chỉ đạo trong một số lĩnh vực sản xuất đã cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản được giao. Trong đó, Tổng sản lượng lương thực đạt 317,5 ngàn tấn, bằng 99,97% kế hoạch. Sản lượng cà phê nhân 140.069 tấn, 75% hộ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch. Giá trị sản xuất trên 01 ha canh tác đạt 39,02 triệu, tăng 2,03 triệu so với năm 2010[10].

Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 ---
1996 ---
1997 ---
1998 ---
1999 ---
2000 ---
2001 ---
2002 ---
2003 ---
2004 403.400
2005 423.600
2006 440.900
2007 457.300
2008 474.400
2009 491.000
2010 505.200
2011 516.300
Nguồn:[11]

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Đắk Nông đạt gần 516.300 người, mật độ dân số đạt 79 người/km²[12] Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 78.300 người[13], dân số sống tại nông thôn đạt 438.000 người[14]. Dân số nam đạt 272.900 người[15], trong khi đó nữ đạt 243.400 người[16]. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 14,4 ‰[17]

Một phần Đắc Nông

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đắk Nông có 40 dân tộc. Trong đó, đông nhất là người kinh với 332.431 người, xếp thứ 2 là người Mnông với 39.964 người, vị trí thứ 3 là người Nùng với 27.333 người, người Mông ở vị trí thứ 4 với 21.952 người, cùng với các dân tộc khác như người Tày với 20.475 người, người Dao có 13.932 người, người Thái có 10.311 người, người Mạ có 6.456 người, Ê Đê có 5.271 người, người Hoa có 4.686 người, người Mường có 4.070 người[18]...cùng một số dân tộc ít người khác.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Nét đặc sắc của Đắk Nông có lẽ vẫn phần nào là rất nhiều của Đắk Lắk do một thời gian dài tỉnh này là một khu vực của Đắk Lắk.

Vùng đất này có nền văn hóa cổ truyền khá đa dạng của nhiều dân tộc đậm nét truyền thống và bản sắc riêng. Nơi đây còn lưu giữ nhiều pho sử thi truyền miệng rất độc đáo như sử thi Đam San dài hàng ngàn câu. Các luật tục cổ, kiến trúc nhà sàn, nhà rông và tượng nhà mồ còn chứa bao điều bí ẩn đầy hấp dẫn.

Trường học tại Đắc Nông

Các loại nhạc cụ dân tộc từ lâu đời đã trở nên nổi tiếng và là niềm tự hào của cả vùng Tây Nguyên, của văn hóa dân gian Việt Nam: bộ đàn đá của người M'Nông (huyện Lăk - Đăk Lăk), bộ chiêng đá được phát hiện tại Đắk R'lấp có niên đại hàng ngàn năm về trước, đàn T'rưng, đàn K'lông pút, đàn nước, kèn, sáo... Nếu đúng dịp, du khách sẽ được tham dự những lễ hội độc đáo còn nguyên chất dân gian. Trong lễ hội, cả buôn làng cầm tay nhau nhảy múa xung quanh đống lửa theo nhịp của cồng, chiêng.

Y tế & Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắc Nông có 240 trường học ở cấp phổ, trong đó có Trung học phổ thông có 22 trường, Trung học cơ sở có 82 trường, Tiểu học có 136 trường, bên cạnh đó còn có 89 trường mẫu giáo[19]. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Đắc Nông cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh[19].

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thống kê về y tế năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắc Nông có 79 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y Tế. Trong đó có 8 Bệnh Viện, 71 Trạm y tế phường xã, với 1029 giường bệnh và 258 bác sĩ, 596 y sĩ, 859 y tá và khoảng 483 nữ hộ sinh[20].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ Về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp.
  3. ^ a ă Vị trí địa lý tỉnh Đăk Nông, Trang Thông Tin Điện Tử TTXT - Đầu Tư, TM & DL Tỉnh Đắk Nông.
  4. ^ Vị trí địa lý, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
  5. ^ Chiều dài biên giới trên đất liền Việt Nam - Campuchia, Ủy ban Biên giới Quốc gia, Bộ Ngoại giao Việt Nam
  6. ^ a ă â Điều kiện tự nhiên tỉnh Đắc Nông, Cổng thông tin điện tử tỉnh Đắk Nông
  7. ^ Nghị định 82/2005/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Gia Nghĩa, thành lập các phường, xã thuộc thị xã Gia Nghĩa và đổi tên huyện Đắk Nông thành huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
  8. ^ Nghị định 142/2006/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, huyện; thành lập xã thuộc các huyện Đắk R'Lấp, Đắk Song, Đắk Mil và thành lập huyện Tuy Đức thuộc tỉnh Đắk Nông
  9. ^ Đơn vị hành chính, Đất đai và Khí hậu, Niên giám thống kê 2011, Tổng cục thống kê
  10. ^ a ă Năm 2011, tốc độ tăng trưởng GDP toàn tỉnh đạt 12,13%, UBND tỉnh Đắk Nông - Vụ Kế hoạch
  11. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  12. ^ Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  13. ^ Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  14. ^ Dân số nông thôn trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  15. ^ Dân số nam trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  16. ^ Dân số nữ trung bình phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  17. ^ Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam.
  18. ^ Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, Tổng Cục Thống kê Việt Nam.
  19. ^ a ă Thống kê về Giáo dục Việt Nam, Niên giám thống kê 2011, Theo tổng cục thống kê Việt Nam
  20. ^ Y tế, Văn hoá, Thể thao và Mức sống dân cư , Tổng cục thống kê