Quảng Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quảng Nam
Tỉnh
Logo Quang Nam.PNG
Quảng Nam banner.jpg
Chùa CầuMỹ Sơn
Địa lý
Tọa độ: 15°33′25″B 108°02′12″Đ / 15,556898°B 108,036804°Đ / 15.556898; 108.036804Tọa độ: 15°33′25″B 108°02′12″Đ / 15,556898°B 108,036804°Đ / 15.556898; 108.036804
Diện tích 10.438,4 km²[1]
Dân số (2011)  
 Tổng cộng 1.435.000 người[1]
 Thành thị 263.123
 Nông thôn 1.234
 Mật độ 137 người/km²
Dân tộc Việt, Hoa, Cơ-tu, Xơ-đăng, Giẻ-triêng, Cor
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Nam Trung Bộ
Tỉnh lỵ Thành phố Tam Kỳ Hội An
Thành lập 1997
 Chủ tịch UBND Lê Phước Thanh
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Văn Sỹ
 Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Đức Hải
Phân chia hành chính 2 thành phố, 16 huyện
Mã hành chính VN-27
Mã bưu chính 56xxxx
Mã điện thoại 510
Biển số xe 92
Website http://www.quangnam.gov.vn/

Quảng Nam hay gọi âm địa phương là Quảng Nôm là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, Việt Nam, là vùng đất còn lưu giữ nhiều dấu tích của nền Văn hóa Chămpa. Tên gọi Quảng Nam có nghĩa là mở rộng về phương Nam. Quảng Nam nằm ở chính trung điểm đất nước theo trục Bắc - Nam, là nơi giao thoa của những sắc thái văn hóa giữa hai miền và giao lưu văn hóa với bên ngoài, điều này góp phần làm cho Quảng Nam giàu truyền thống văn hóa, độc đáo về bản sắc văn hóa.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Nam nằm ở miền Trung của Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội 860 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 865 km về phía Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng; phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum, phía tây giáp các tỉnh Sekong (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào); phía Đông giáp biển Đông. Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 2 thành phố và 16 huyện, với 244 xã/phường/thị trấn (năm 2010, huyện Tây Giang đã thành lập thêm 03 xã mới). Nhìn chung, vị trí địa lý của tỉnh khá thuận lợi không những cho phát triển kinh tế, xã hội mà còn cho việc giao lưu văn hóa, nghệ thuật với các địa phương trong nước và quốc tế.

Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.043.836,96 ha, trong đó đất chưa qua sử dụng là 2.932,98 ha. Địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 3 vùng rõ rệt: vùng núi - trung du, vùng đồng bằng và ven biển. Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình đạt 25,40C, lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2.000-2.500mm, tập trung vào các tháng 9-10-11-12. Hệ thống sông ngòi tự nhiên dài khoảng 900 km, phân bố khá đều trong toàn tỉnh với 2 hệ thống sông chính là sông Thu Bồnsông Tam Kỳ. Ngoài ra, tỉnh còn có nhiều hồ lớn, như: Phú Ninh, Khe Tân, Việt An, Thạch Bàn, Phú Lộc, Vĩnh Trinh, Phước Hà, Cao Ngạn,... Đường bờ biển dài 125 km, ven biển có nhiều bãi tắm đẹp, nổi tiếng, như: Hà My (Điện Bàn), Cửa Đại (Hội An), Bình Minh (Thăng Bình), Tam Thanh (Tam Kỳ), Bãi Rạng (Núi Thành)... Nhìn chung, điều kiện tự nhiên của Quảng Nam (thời tiết-khí hậu, địa hình, tài nguyên nước, biển) có nhiều thuận lợi, tiềm năng cho phát triển sự nghiệp văn hóa đa dạng, độc đáo (phát triển những tiểu vùng văn hóa), phát triển ngành du lịch (du lịch văn hóa, du lịch sinh thái).

Dân số và nguồn nhân lực[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến hết năm 2010, dân số Quảng Nam là 1.435.629 người, với mật độ dân số trung bình là 139 người/km2; có 4 tộc người thiểu số cư trú lâu đời là người Cơ Tu, người Co, người Gié Triêng, người Xê Đăng và một số tộc người thiểu số mới di cư đến với tổng số dân trên 10 vạn người, chiếm 7,2% dân số toàn tỉnh. Với 81,4% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước.

Quảng Nam có lực lượng lao động dồi dào, với trên 887.000 người (chiếm 62% dân số toàn tỉnh), trong đó lao động ngành nông nghiệp chiếm 61,57%, ngành công nghiệp và xây dựng là 16,48% và ngành dịch vụ là 21,95%.

Chất lượng nguồn lao động đang được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề chiếm 30% tổng số lao động, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là gần 18.000 người.

Là một tỉnh với qui mô dân số trung bình, nhưng cơ cấu dân số trẻ và đa phần trong độ tuổi lao động sẽ đặt ra nhu cầu lớn về tiêu dùng và hưởng thụ văn hoá, nhất là các hoạt động văn hoá công cộng, các loại hình văn hoá, nghệ thuật mới, các hoạt động thể thao.

Giai đoạn 2000-2010, dân số đô thị của tỉnh tăng chậm, từ 207.000 người (2000) lên hơn 260.000 người (2010). Việc hình thành các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế mở Chu Lai cùng với quá trình phát triển kinh tế nhằm đưa tỉnh trở thành tỉnh công nghiệp trước năm 2020 sẽ đẩy nhanh quá trình đô thị hóa. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa cùng với lực lượng lao động dồi dào sẽ làm tăng mức độ di động dân số trong nội tỉnh cũng như ngoại tỉnh. Quá trình di động dân số (nội tỉnh và ngoại tỉnh) sẽ làm tăng mức độ giao thoa văn hóa.

Quá trình đô thị hóa và di động dân số trong những năm tới đặt ra những vấn đề cho phát triển sự nghiệp Văn hóa của tỉnh, như: xây dựng môi trường văn hóa ở các khu công nghiệp, khu dân cư; nhu cầu văn hóa ở các khu đô thị, cụm dân cư (các sản phẩm văn hóa, dịch vụ văn hóa,...).

Địa hình[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Nam có hướng địa hình nghiên dần từ Tây sang Đông hình thành 3 kiểu cảnh quan sinh thái rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằng ven biển. Vùng đồi núi chiếm 72% diện tích tự nhiên với nhiều ngọn cao trên 2.000m như núi Lum Heo cao 2.045m, núi Tion cao 2.032m, núi Gole - Lang cao 1.855m (huyện Phước Sơn)[2]. Núi Ngọc Linh cao 2.598m nằm giữa ranh giới Quảng Nam, Kon Tum là đỉnh núi cao nhất của dãy Trường Sơn [3] Ngoài ra, vùng ven biển phía đông sông Trường Giang là dài cồn cát chạy dài từ Điện Ngọc, Điện Bàn đến Tam Quan, Núi Thành. Bề mặt địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi khá phát triển gồm sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ và sông Trường Giang.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa khô, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc. Nhiệt độ trung bình năm 25,4oC, Mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới 20oC. Độ ẩm trung bình trong không khí đạt 84%. Lượng mưa trung bình 2000-2500mm, nhưng phấn bố không đều theo thời gian và không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra lở đất, lũ quét ở các huyện trung du miền núi và gây ngập lũ ở các vùng ven sông.

Hệ thống sông ngòi[sửa | sửa mã nguồn]

Do nằm trong vùng có lượng mưa lớn, hệ thống sông ngòi trong tỉnh khá phát triển. Hệ thống sông Thu Bồn là một trong những hệ thống sông lớn của Việt Nam với tổng diện tích lưu vực khoảng 9.000 km2. Sông Tam Kỳ với diện tích lưu vực 800 km2 là sông lớn thứ hai. Ngoài ra còn có các sông có diện tích nhỏ hơn như sông Cu Đê 400 km2, Tuý Loan 300 km2, LiLi 280 km2...,

Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn, đầy nước quanh năm. lưu lượng dòng chảy sông Vu Gia 400m3/s, Thu Bồn 200m3/s có giá trị thủy điện, giao thông và thủy nông lớn. Hiện tại trên hệ thống sông Thu Bồn, nhiều nhà máy thủy điện công suất lớn như Sông Tranh 1 và 2, Sông A Vương, Sông Bung... đang được xây dựng góp phần cung cấp điện cho nhu cầu ngày càng tăng của cả nước.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiển sử[sửa | sửa mã nguồn]

Văn hóa Sa Huỳnh[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Chăm Pa[sửa | sửa mã nguồn]

Thời nhà Trần[sửa | sửa mã nguồn]

Trước kia Quảng Nam là đất Chiêm Thành. Năm 1306 theo thỏa ước giữa vua Chiêm Thành là Chế Mân và vua Đại ViệtTrần Nhân Tông thì vua Chế Mân dâng hai châu Ô tức Thuận Châu (nam Quảng Trị, Huế) và châu Rí tức Hóa Châu (một phần Huế, bắc sông Thu Bồn) làm sính lễ cưới con gái vua Trần Nhân Tông là công chúa Huyền Trân. Người Việt dần định cư tại hai vùng đất mới; người Chiêm Thành lùi dần về vùng đất còn lại phía Nam của vương quốc.

Năm 1402, nhà Hồ thay thế nhà Trần. Nhà Hồ chia Hóa Châu thành 4 châu nhỏ hơn là Thăng Châu, Hóa Châu, Tư Châu và Nghĩa Châu và đặt An Phủ Sứ cai trị.[4]

Năm 1408, Trần Ngỗi khởi nghĩa ở Nghệ An, hai viên quan Đặng Tất ở Hóa Châu (Huế) và Nguyễn Cảnh Chân ở Thăng Hoa (Quảng Nam). Tháng Giêng âm lịch năm 1408, Trần Ngỗi đánh 4 vạn quân Trương Phụ ở Bô Cô (Nam Định). Các nông dân Phạm Tất Đại, Phạm Chấn, Trần Nguyệt Hồ, Lê Ngã kéo về theo quân Trần Ngỗi. Nhưng có người gièm pha với Trần Ngỗi rằng hai viên quan kia là con hoàng xà đã biến thành nên Trần Ngỗi giết chết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Dị đưa con Trần Ngạc là Trần Quý Khoáng tiếm quyền.

Thời Lê[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1471, sau khi chiếm vùng đất phía Nam Thuận Hóa cho đến đèo Cù Mông, vua Lê Thánh Tông lập thêm đơn vị hành chính thứ 13 - Thừa Tuyên Quảng Nam gồm 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định). Danh xưng Quảng Nam xuất hiện từ đây.

Thời chúa Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ đường qua xứ Quảng Nam thời Lê trung hưng, theo Thiên Nam lộ đồ vẽ lại năm 1741(bản sao chép của Dumoutier). Bãi cát vàng (鐄葛𣺽) trên bản đồ tức là Hoàng Sa.

Sang thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, Quảng Nam thuộc quyền cai quản của chúa Nguyễn (từ năm 1570). Hội An được nhà chúa chọn là điểm giao thương duy nhất với thế giới khi đó nên nhiều thương gia nước ngoài hay gọi vùng đất này là "Quảng Nam Quốc". Biên niên sử thời Nguyễn đã chép về giai đoạn này như sau: "Chúa ở trấn hơn 10 năm, (chúa Tiên Nguyễn Hoàng) chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm trang, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên một đô hội lớn".

Đến giữa thế kỷ 17, việc triều chính xứ Đàng Trong suy đồi. Thuế thì nặng; quan lại thì lợi dụng địa vị, sinh sự làm khổ dân. Trước hoàn cảnh đó, khi phong trào Tây Sơn bùng nổ, dân Quảng Nam cũng nổi dậy. Mùa thu năm 1773 khi quân Tây Sơn kéo ra Quảng Nam, dân Quảng Nam đã phối hợp cùng nghĩa quân phục kích ở Bến Đá (Thạch Tân, Thăng Hoa, Quảng Nam) đánh bại quân của chúa Nguyễn do các tướng Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Hữu Sách chỉ huy. Nhà Tây Sơn tuy vậy chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi.

Thời nhà Nguyễn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1806 vua Gia Long thống nhất đất nước. Về hành chính, vua chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Trực Lệ-Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam doanh [4].

Bản đồ tỉnh Quảng Nam của nhà Nguyễn Việt Nam in trong Đại Nam nhất thống chí.

Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh. Quảng Nam chính thức trở thành tỉnh từ năm này. Tỉnh Quảng Nam được chia thành 2 phủ Thăng Bình (升平) (trước là Thăng Hoa gồm các huyện Lễ Dương (醴陽) (Tam Kỳ 三期), Hà Đông (河東), Quế Sơn (桂山)) và Điện Bàn 奠盤 (với các huyện Hòa Vang (和榮), Duy Xuyên (維川), Diên Phúc (筵福) (sau đổi là Tiên Phước), Đại Lộc (大禄)).

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1888, dưới triều vua Thành Thái Đà Nẵng bị tách khỏi Quảng Nam để trở thành đất nhượng địa của thực dân Pháp.

Thời Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Hiệp định Genève, tỉnh Quảng Nam thời Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1956 lại chia thành hai tỉnh mới là Quảng Nam ở phía Bắc gồm chín quận. Sáu quận phía nam sông Rù Rì thuộc tỉnh Quảng Tín.

Chín quận của Quảng Nam là:

  1. Hòa Vang (nay thuộc thành phố Đà Nẵng)
  2. Đại Lộc,
  3. Điện Bàn,
  4. Duy Xuyên,
  5. Đức Dục (nay thuộc huyện Duy Xuyên và Đại Lộc)
  6. Hiếu Nhơn (nay thuộc huyện Núi Thành)
  7. Quế Sơn,
  8. Hiếu Đức
  9. Thường Đức.

Tỉnh lỵ là thị xã Hội An.

Sau năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thống nhất đất nước, chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập hai tỉnh Quảng Nam, Quảng TínThành phố Đà Nẵng thành lập tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng với Đà Nẵng là tỉnh lỵ. Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng gồm Thành phố Đà Nẵng và các huyện Hoà Vang, Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Đại Lộc, Quế Sơn, Tiên Phước, Tiên Phước, Phước Sơn, Trà My.

Năm 1997, tại kỳ họp thứ X của Quốc Hội, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được chia thành hai đơn vị hành chính độc lập gồm Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Tỉnh Quảng Nam mới có 14 huyện gồm Giằng, Hiên, Đại Lộc, Phước Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Thăng Bình, Hiệp Đức, Tiên Phước, Trà My, Núi Thành và 2 thị xã: Tam Kỳ (tỉnh lị) và Hội An.

Ngày 16 tháng 8 năm 1999, huyện Giằng được đổi tên thành huyện Nam Giang[5].

Ngày 20 tháng 6 năm 2003, chia huyện Trà My thành 2 huyện: Bắc Trà MyNam Trà My; chia huyện Hiên thành 2 huyện: Đông GiangTây Giang[6].

Ngày 5 tháng 1 năm 2005, chia thị xã Tam Kỳ thành thị xã Tam Kỳ và huyện Phú Ninh[7].

Ngày 29 tháng 9 năm 2006, chuyển thị xã Tam Kỳ thành thành phố Tam Kỳ[8].

Ngày 29 tháng 1 năm 2008, chuyển thị xã Hội An thành thành phố Hội An[9].

Ngày 8 tháng 4 năm 2008, chia huyện Quế Sơn thành 2 huyện: Quế SơnNông Sơn[10].

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Theo kết quả điều tra ngày 01/04/2009 dân số tỉnh Quảng Nam là 1.419.503 người. Quảng Nam hiện có 18 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 2 thành phố và 16 huyện:

Huyện, thành phố Diện tích (km2) Dân số (nghìn người) Mật độ (người/km2) Số đơn vị hành chính cấp xã
Thành phố Tam Kỳ 92,02 103.730 1.127 09 phường, 04 xã
Thành phố Hội An 60,68 90.543 1.492 09 phường, 04 xã
huyện Điện Bàn 214,28 195.048 910 19 xã, 01 thị trấn
Huyện Thăng Bình 384,75 186.964 486 21 xã, 01 thị trấn
Huyện Bắc Trà My 823,05 36.650 45 12 xã, 01 thị trấn
Huyện Nam Trà My 822,53 21.139 26 10 xã
Huyện Núi Thành 533,03 142.020 266 16 xã, 01 thị trấn
Huyện Phước Sơn 1.142,27 20.114 18 16 xã, 01 thị trấn
Huyện Tiên Phước 453,22 73.717 163 14 xã, 01 thị trấn
Huyện Hiệp Đức 491,77 39.696 81 12 xã, 01 thị trấn
Huyện Nông Sơn 455,92 34.524 78 07 xã
Huyện Đông Giang 811,29 21.192 26 10 xã, 01 thị trấn
Huyện Nam Giang 1.836,50 20.111 11 08 xã, 01 thị trấn
Huyện Đại Lộc 585,55 158.237 270 17 xã, 01 thị trấn
Huyện Phú Ninh 251,47 84.477 336 10 xã, 01 thị trấn
Huyện Tây Giang 910,2 13.992 15 10 xã
Huyện Duy Xuyên 297,85 131.242 441 13 xã, 01 thị trấn
Huyện Quế Sơn 250,75 97.537 389 13 xã, 01 thị trấn
Tổng 18 huyện - thành phố, 216 xã, 13 thị trấn (247 đơn vị cấp xã)

Nguồn: Sở Nội Vụ Quảng Nam, 2007

Biển số xe[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thành phố Tam Kỳ 92-B1 XXX.XX
  2. Thành phố Hội An 92-C1 XXX.XX 92-H1 XXXX
  3. Huyện Điện Bàn 92-D1 XXX.XX 92-H2 XXXX, 92-S2 XXXX
  4. Huyện Thăng Bình 92-H1 XXX.XX 92-H6 XXXX
  5. Huyện Bắc Trà My 92-V1 XXX.XX 92-L6 XXXX
  6. Huyện Nam Trà My 92-X1 XXX.XX
  7. Huyện Núi Thành 92-N1 XXX.XX
  8. Huyện Phước Sơn 92-P1 XXX.XX. 92-L2 XXXX
  9. Huyện Tiên Phước 92-M1 XXX.XX. 92-H9 XXXX
  10. Huyện Hiệp Đức 92-K1 XXX.XX 92-H7 XXXX
  11. Huyện Nông Sơn 92-Y1 XXX.XX
  12. Huyện Đông Giang 92-T1 XXX.XX
  13. Huyện Nam Giang 92-S1 XXX.XX 92-L1 XXXX
  14. Huyện Đại Lộc 92-E1 XXX.XX 92-H3 XXXX 92-S3 XXXX
  15. Huyện Phú Ninh 92-L1 XXX.XX 92-H8 XXXX
  16. Huyện Tây Giang 92-U1 XXX.XXX
  17. Huyện Duy Xuyên 92-F1 XXX.XX 92-H4 XXXX
  18. Huyện Quế Sơn 92-G1 XXX.XX 92-H5 XXXX

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên đất[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng diện tích tự nhiên của Quảng Nam là 1.040.683ha được hình thành từ chín loại đất khác nhau gồm cồn cát và đất cát ven biển, đất phù sa sông, đất phù sa biển, đất xám bạc màu, đất đỏ vàng, đất thung lũng, đất bạc màu xói mòn trơ sỏi đá,... Nhóm đất phù sa ven sông là nhóm đất quan trọng nhất trong phát triển cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày. Nhóm đất đỏ vàng vùng đồi núi thuận lợi cho trồng rừng, cây công nghiệp và cây ăn quả dài ngày. Nhóm đất cát ven biển đang được khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản.

Trong tổng diện tích 1.040.683ha, diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nhất (49,4%), kế tiếp là đất dành cho sản xuất nông nghiệp, đất thổ cư và đất chuyên dùng. Diện tích đất trống đồi trọc, đất cát ven biển chưa được sử dụng còn chiếm diện tích lớn.

Loại đất Tổng diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Đất lâm nghiệp 430.033 41,33
Đất chuyên dùng 26.133 2,5
Đất thổ cư 6.980 0.67
Đất chưa sử dụng 466.951 44,87

Nguồn: Sở Khoa học công nghệ Quảng Nam, 2006.

Tài nguyên rừng[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Quảng Nam có 425.921 ha rừng, tỷ lệ che phủ đạt 40,9%; trữ lượng gỗ của tỉnh khoảng 30 triệu m3. Diện tích rừng tự nhiên là 388.803 ha, rừng trồng là 37.118 ha. Rừng giàu ở Quảng Nam hiện có có khoảng 10 nghìn ha, phân bố ở các đỉnh núi cao, diện tích rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo, rừng trung bình và rừng tái sinh, có trữ lượng gỗ khoảng 69 m3/ha. Các khu bảo tồn thiên nhiên trên địa bàn tỉnh nằm ở sông Thanh thuộc huyện Nam Giang.

Tháng Tư năm 2011 nhà chức trách tỉnh Quảng Nam cho thành lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên Sao La (tiếng Anh: Saola Nature Reserve), mở hành lang cho các sinh vật vùng núi giữa Lào và Việt Nam, nhất là loài sao la đang bị đe dọa.[11]

Tiềm năng thủy điện[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Nam có hệ thống sông suối phát triển với tiềm năng thủy điện lớn. Hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn với phần lớn lưu vực nằm trong địa giới tỉnh được đánh giá là có tiềm năng thủy điện lớn thứ tư cả nước đang được đầu tư khai thác [12]. Hiện nay tỉnh có các nhà máy thủy điện đã và đang xây dựng như NMTĐ A Vương (210 MW - Tây Giang), NMTĐ "Sông Boung 2" (100 MW), NMTĐ "Sông Boung 4" (220 MW), NMTĐ "Sông Giằng" (60 MW), NMTĐ "Đak Mi 1" (255 MW), NMTĐ "Đak Mi 4" (210 MW), NMTĐ "Sông Côn 2" (60 MW), NMTĐ "Sông Tranh 2" (135 MW)....

Việc xây dựng các công trình thủy điện thượng lưu Vu Gia Thu Bồn đã tác động tiêu cực đến việc quản lý tổng hợp tài nguyên nước trong vùng. Việc thủy điện Dak Mi 4 chuyển nước từ Vu Gia sang Thu Bồn làm suy giảm đáng kể dòng chảy hạ lưu Vu Gia. Vào mùa kiệt từ tháng 3 đến tháng 8 8, các vùng Đại Lộc, Điện Bàn và Đà Nẵng nguồn nước mặt bị nhiễm mặn do nước thượng nguồn về thấp. Đầu mùa khô 2012,nhà máy nước Cầu Đỏ trên sông Cẩm Lệ, nguồn cung cấp nước chủ yếu cho thành phố Đà Nẵng, liên tục bị nhiễm mặn trong thời gian dài do nước thượng nguồn Vu Gia về quá ít. Việc chủ đầu tư dự án Dak Mi 4, công Ty IDICO không trả nước về Vu Gia theo cam kết là 25 m3/sec đã làm thay đổi hoàn toàn dòng chảy hạ lưu.

Nhà máy thủy điện "Sông Tranh 2" được xây dựng trên sông Tranh, thượng lưu sông Thu Bồn hiện (2012) đang bị rò rỉ thân đập chính mà chủ đầu tư chưa có hướng khắc phục triệt để gây ra rất nhiều lo lắng cho chính quyền và nhân dân vùng hạ lưu đập.

Văn hóa - Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lễ hội Bà Thu Bồn là một lễ hội dân gian của cư dân ven sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam với mục đích cầu nguyện một năm mới đất trời thuận hòa, người dân ấm no hạnh phúc. Lễ hội được tổ chức hằng năm vào ngày 12 tháng 2 âm lịch [13]. Xen lẫn các tiết mục văn nghệ dân gian là tiếng hò reo cổ vũ của cư người xem hội hai bên bờ. Nghi thức quan trọng nhất là lễ tế Bà và lễ rước nước về đền. Đền thờ Bà Thu Bồn nằm trong một vùng đồng bằng ven sông thuộc huyện Duy Xuyên. Phần hội quan trọng nhất là hội đua thuyền Lệ Bà (Nam-Nữ), hội thả hoa đăng và đốt lửa thiêng trên những bãi bồi của dòng Thu Bồn.
  • Lễ Hội Bà Chiêm Sơn là lễ hội của cư dân làm nghề nuôi tằm dệt vải của xã DUY TRINH, huyện Duy Xuyên. Lễ được tổ chức ngày 10-12 tháng Giêng âm lịch tại Dinh bà Chiêm Sơn [14]. Lễ hội là dịp bày tỏ niềm tôn kính với người đã khai sinh ra nghề ươm tằm dệt lụa cho địa phương. Người tham gia lễ hội có cơ hội thưởng thức các món ăn đặc trưng của người Quảng Nam. Lễ hội còn là dịp để tham gia các trò chơi dân gian như đá gà, ném bóng vào rổ, hát bài chòi [15].
  • Carneval Hội An là lễ hội đường phố được tổ chức lần đầu tiên tại thành phố Hội An vào Giao thừa năm 2009 (dương lịch). Lễ hội mô phỏng theo các lễ hội Carneval đường phố vốn rất nổi tiếng tại các nước Châu Âu và Mỹ Latin [16]
  • Lễ hội Rước cộ Bà Chợ Được được tổ chức hằng năm vào ngày 11 tháng Giêng (âm lịch) tại xã Bình Triều, huyện Thăng Bình. Đây là một kiểu lễ hội tâm linh để tỏ lòng tôn kính với bà Nguyễn Thị Của. Theo tài liệu "Thần Nữ Linh Ứng Truyện", bà sinh năm 1799 tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Bà mất năm 1817, hưởng dương 18 tuổi. Theo cư dân địa phương, bà rất linh thiêng. Trong một lần ngao du đến làng Phước Ấm (nay là Chợ Được, xã Bình Triều), thấy cảnh sông nước hữu tình, bà chọn nơi này họp chợ để giúp cư dân có cuộc sống sung túc hơn. Bà hóa thân thành một thiếu nữ xinh đẹp chừng 18 tuổi làm nghề bán nước đổi trầu. Dần dần cư dân xung quanh tập trung buôn bán, Chợ Được được hình thành và phát triển. Để ghi nhớ công ơn bà, cư dân trong vùng lập đền thờ "Lăng Bà" và được triều đình phong tặng sắc phong "Thần Nữ Linh Ứng-Nguyễn Thị Đẳng Thần".
  • Lễ Hội Nguyên Tiêu là lễ hội của Hoa Kiều tại Hội An. Lễ được tổ chức tại Hội Quán Triều Châu và Quảng Triệu vào ngày 16 tháng Giêng (âm lịch) hằng năm [17]
  • Lễ Hội Đêm Rằm Phố Cổ được tổ chức vào ngày 14 âm lịch hằng tháng tại đô thị cổ Hội An. Tại thời điểm đó, cư dân trong thành phố sẽ tắt hết điện chiếu sáng, thay vào đó là ánh sáng rực rỡ từ đèn lồng. Thành phố sống trong không gian tĩnh mịch của quá khứ. Các phương tiện có động cơ không được tham gia lưu thông. Đường phố được dành cho người đi bộ thưởng lãm.

Làng nghề truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

  • Làng gốm Thanh Hà (Ngoại ô Hội An)
  • Làng mộc Kim Bồng
  • Làng đúc đồng Phước Kiều (xã Điện Phương, huyện Điện Bàn)
  • Làng dệt Mã Châu(Duy Xuyên)
  • Làng dâu tằm Đông Yên - Thi Lai (xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên)
  • Làng dệt chiếu cói Bàn Thạch (Xã Duy Vinh, Duy Xuyên)
  • Làng rau Trà Quế (Ngoại ô Hội An
  • Làng trống Lam Yên (xã Đại Minh, huyện Đại Lộc)
  • Làng nghề làm bún (Tân Thạnh, Tp.Tam Kỳ)

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống các trường đại học và cao đẳng[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc lộ 1A đi qua địa phận các huyện, thành phố: Núi Thành, Tam Kỳ, Phú Ninh, Thăng Bình, Quế Sơn, Duy XuyênĐiện Bàn. Quốc lộ 14 đi qua địa phận các huyện: Phước Sơn, Nam Giang, Đông GiangTây Giang. Quốc lộ 14B đi qua địa phận các huyện Đại Lộc và Nam Giang. Quốc lộ 14E đi qua địa phận các huyện: Thăng Bình, Hiệp Đức và Phước Sơn. Ngoài ra tỉnh còn có 1 hệ thống đường bộ gồm các tỉnh lộ như 604, 607, 609, 610, 611, 614, 615, 616, 617, 618 (mới và cũ), 620 và nhiều hương lộ, xã lộ....

  • Quốc lộ 1A: Điểm đầu tại km 942 là ranh giới giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Điểm cuối tại km 1027 là ranh giới giữa tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Ngãi.

Tổng chiều dài 85 km, tiêu chuẩn đường cấp III đồng bằng với bề rộng nền đường 12 m, mặt đường 11 m kết cấu mặt bê tông nhựa.

Tổng chiều dài toàn tuyến 190 km tiêu chuẩn đường cấp IV miền núi với bề rộng nền đường 7,5 m, mặt đường 5,5 m kết cấu bê tông nhựa. Đoạn qua thị trấn, thị tứ có mặt cắt 22,5 m.

  • Quốc lộ 14B: Điểm đầu tại km 32 là ranh giới giữa thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam thuộc địa phận 2 huyện Hòa Vang và huyện Đại Lộc. Điểm cuối tại km 74 điểm giao với đường Hồ Chí Minh thuộc huyện Nam Giang.

Tổng chiều dài toàn tuyến 42 km tiêu chuẩn cấp IV với bề rộng nền đường 9 m, mặt đường 8 m kết cấu mặt bê tông nhựa.

  • Quốc lộ 14D: Điểm đầu lý trình km 0 tại Bến Giằng nối với đường Hồ Chí Minh, điểm cuối lý trình km 74,4 tại cửa khẩu Đắc ốc (huyện Nam Giang) ranh giới giữa tỉnh Quảng Nam - Việt Nam với tỉnh Xê Kông - Lào.

Tổng chiều dài toàn tuyến 74,4 km tiêu chuẩn đường cấp V với bề rộng nền đường 6,5 m, mặt đường 3,5 m kết cấu mặt đá dăm láng nhựa.

Tổng chiều dài toàn tuyến 78,4 km, đoạn km 0 - km 23 tiêu chuẩn đường cấp V nền đường 6,5 m, mặt 3,5 m kết cấu bê tông nhựa; đoạn km 23 - km 78,4 tiêu chuẩn đường cấp IV đồng bằng nền 9 m, mặt 6 m kết cấu bê tông nhựa.

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Trục đường sắt Bắc Nam đi qua tỉnh Quảng Nam. Ngoài nhà ga chính ở Tam Kỳ, còn có ga Nông Sơn, ga Phú Cang (Bình Quý, Thăng Bình), ga Núi Thành (Núi Thành), ga Trà Kiệu (Duy Xuyên)...

Đường hàng không[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1965, người Mỹ xây dựng sân bay Chu Lai, nhằm mục đích phụ vụ các hoạt động quân sự ở miền Trung và Tây Nguyên. 40 năm sau, ngày 02 tháng 3 năm 2005, sân bay Chu Lai đón chuyến bay thương mại đầu tiên từ thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu một sự kiện lịch sử của tỉnh. Năm 2010, Vietnam Airlines có tuyến bay Chu Lai - Hà Nội. Việc sân bay Chu Lai vào hoạt động thương mại sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển không chỉ của Quảng Nam (với khu công nghiệp Chu Lai) mà còn của tỉnh Quảng Ngãi (với khu công nghiệp Dung Quất). Xa hơn nữa, sân bay Chu Lai sẽ được phát triển thành sân bay quốc tế phục vụ cho việc trung chuyển hành khách và hàng hóa trong khu vực. Ngoài ra, việc đưa sân bay Chu Lai vào hoạt động sẽ giúp cho du khách đến với hai di sản văn hóa thế giới Hội AnMỹ Sơn dễ dàng hơn.

Đường sông[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Nam có 941 km sông ngòi tự nhiên, đang quản lý và khai thác 307 km sông (chiếm 32,62%), gồm 11 sông chính. Hệ thống sông hoạt động chính gồm 2 hệ thống: sông Thu Bồn và sông Trường Giang, hai hệ thống sông này đều đổ ra biển Đông theo 3 cửa sông: sông Hàn, Cửa Đại và Kỳ Hà

- Sông Trung ương quản lý: dài 132 km, gồm: Đoạn 1 sông Thu Bồn, sông Trường Giang.

- Toàn bộ đường sông đang khai thác vận tải thuỷ của tỉnh Quảng Nam dài 207 km, gồm 11 tuyến: Sông Thu Bồn, sông Trường Giang, sông Vu Gia, sông Yên, sông Vĩnh Điện, sông Hội An, sông Cổ Cò, sông Duy Vinh, sông Bà Rén, sông Tam Kỳsông An Tân.

Sông Thu Bồn: dài 95 km gồm Đoạn:Đoạn 1 dài 65 km, điểm đầu là Nông Sơn, điểm cuối là Cửa Đại, do Trung ương quản lý. Đoạn 2: dài 30 km, điểm đầu là ngã ba sông Tranh, điểm cuối là Nông Sơn, do địa phương quản lý.

Sông Trường Giang: Dài 67 km, điểm đầu là ngã ba An Lạc và điểm cuối là Kỳ Hà, do Trung ương quản lý. Trong đó có 16 km thuộc sông cấp V, 51 km là sông cấp VI. Tuyến sông chạy dọc theo bờ biển phía Đông tỉnh Quảng Nam, nối liền với thị xã Hội An, Tam Kỳ và các huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành. Là tuyến sông có luồng lạch không ổn định do lòng sông bị bồi cạn, nguyên nhân do việc hình thành đập Cổ Linh làm ảnh hưởng đến chế độ thuỷ triều từ Cửa Đại tới cửa Kỳ Hà. Hiện tại trên tuyến có nhiều chướng ngại vật và nhiều bãi cạn do các công trình vượt sông như cầu, đập thuỷ lợi, đường điện... không đảm bảo các thông số kỹ thuật.

Sông Vu Gia: Dài 52 km, điểm đầu là ngã ba Quảng Huế, điểm cuối là bến Giằng, do địa phương quản lý. Là hợp lưu của sông Thu Bồn đạt tiêu chuẩn sông cấp VI, tuyến sông này chạy trên địa bàn huyện Nam Giang và huyện Đại Lộc. Đây là tuyến sông có vai trò quan trọng trong vận tải hàng hoá và hành khách đường sông của tỉnh Quảng Nam. Trên tuyến sông, vào mùa nước trung thì tàu thuyền có thể khai thác thuận lợi, sang mùa cạn chỉ khai thác được đến ngã ba Thượng Đức với chiều dài 23 km. Tuyến sông Vu Gia được chia thành 4 đoạn:

Sông Yên: Dài 12 km, có điểm đầu là ngã ba Quảng Huế và điểm cuối là ranh giới thành phố Đà Nẵng, do địa phương quản lý. Tuyến sông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam có dòng sông hẹp, nhiều đoạn cạn và có đập Pa Ra An Trạch chắn ngang. Đoạn từ ngã ba sông Yên đến Đại Hiệp đạt tiêu chuẩn VI.

Sông Vĩnh Điện: Dài 12 km, điểm đầu tại km 43 + 500 sông Thu Bồn và điểm cuối là cầu Tứ Câu, do địa phương quản lý. Là sông cấp V, chảy qua 5 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Điện Bàn. Đoạn sông này hẹp, có dòng chảy ổn định, thuận lợi cho việc khai thác vận tải thủy. Sông Vĩnh Điện nối giữa sông Thu Bồn và sông Hàn tạo thành tuyến vận tải thủy giữa thị xã Hội An, Vĩnh Điện và Đà Nẵng.

Sông Hội An (sông Hoài): Dài 11 km, điểm đầu là ngã ba sông Thu Bồn tại km 54 + 400 và điểm cuối là km 63 + 00 sông Thu Bồn, do địa phương quản lý. Nằm trên địa phận thị xã Hội An, lòng sông có độ sâu ổn định thuận tiện cho các loại phương tiện hoạt động. Đạt tiêu chuẩn kỹ thuật sông cấp III.

Sông Cổ Cò (sông Đế Võng): Dài 27,5 km có điểm đầu tại cửa Đại và điểm cuối nối vào sông Hàn thành phố Đà Nẵng do địa phương quản lý, tuyến chạy dọc bờ biển phía Bắc của tỉnh Quảng Nam bắt đầu từ ngã ba sông Hàn đến cửa Đại, được phân làm 2 nhánh.

Sông Duy Vinh: Dài 12 km, điểm đầu tại km 50 + 800 sông Thu Bồn và điểm cuối là km 5 + 700 sông Trường Giang, do địa phương quản lý. Là sông cấp V chiều rộng bình quân 100 m, độ sâu 1 - 1,5 m. Về mùa kiệt độ sâu chạy tàu chỉ đạt 1 m. Trên tuyến có 2 bãi cạn và 2 cầu, đặc biệt cầu máng Duy Vinh có tĩnh không thông thuyền thấp hơn 2 m.

Sông Bà Rén: Dài 32 km, điểm đầu tại km 5 + 700 sông Trường Giang và điểm cuối là ngã ba Vạn Lý (phân lưu của sông Thu Bồn)..

Sông Tam Kỳ: Dài 16 km, điểm đầu tại km 58 + 200 sông Trường Giang và điểm cuối là đập phía trên cầu đường sắt Tam Kỳ, do địa phương quản lý, tuyến sông đạt cấp VI, bắt đầu từ hồ Phú Ninh đổ về sông Trường Giang (xã Tam Tiến - huyện Núi Thành).

Sông An Tân: Dài 7,5 km, điểm đầu tại ngã ba sông Trường Giang và điểm cuối là cầu Tam Mỹ, đây là tuyến sông đang khai thác ở dạng tự nhiên với chiều dài 7,0 km (từ ngã ba Trường Giang đến cầu đường sắt An Tân), dòng sông chảy uốn khúc, có nhiều chi lưu tạo thành những bãi cạn, độ sâu trung bình của sông -0,8 đến -1,0m.

Danh lam thắng cảnh - Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

- Đô thị cổ Hội An - Các di sản văn hóa Chăm: - Thánh địa Mỹ Sơn, Duy Xuyên - Phật viện Đồng Dương, Thăng Bình - Trà Kiệu, Duy Xuyên - Tháp Chiên Đàn - Tam Kỳ, Tháp Bằng An - Điện Bàn, Tháp Khương Mỹ - Núi Thành

Các địa điểm thắng cảnh và du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

  • Suối Tiên, Quế Sơn
  • Hòn Kẽm Đá Dừng,Hồ Việt An,Di tích Phước Trà Hiệp Đức
  • Nhà lưu niệm Huỳnh Thúc Kháng
  • Nhà lưu niệm Phan Châu Trinh
  • Nhà lưu niệm Nguyễn Thị Kim Oanh
  • Biển du lịch Tam Thanh, Tam Kỳ
  • Biển Rạng, Núi Thành
  • Biển Hà My, Điện Bàn
  • Hố Giang Thơm, Núi Thành

Đặc sản ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Ẩm thực Quảng Nam

Các món ăn đặc sắc:

Hình ảnh Quảng Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ http://www.vietnamtourism.com/v_pages/country/province.asp?mt=84510&uid=74
  3. ^ http://www.most.gov.vn/c_so_khcn/mlfolder.2006-07-05.8541258373/mldocument.2006-07-06.6074214174/mldocument_view
  4. ^ a ă http://www.xuquang.com/cms/index.php?option=com_content&task=view&id=166&Itemid=43, Lịch sử Quảng Nam
  5. ^ Nghị định 71/1999/NĐ-CP về việc đổi tên huyện Giằng thuộc tỉnh Quảng Nam thành huyện Nam Giang
  6. ^ Nghị định 72/2003/NĐ-CP về việc chia tách huyện Hiên thành các huyện Đông Giang và Tây Giang, huyện Trà My thành các huyện Bắc Trà My và Nam Trà My
  7. ^ Nghị định 01/2005/NĐ-CP về việc thành lập huyện Phú Ninh
  8. ^ Nghị định 113/2006/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam
  9. ^ Nghị định 10/2008/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam
  10. ^ Nghị định 42/2008/NĐ-CP về việc thành lập huyện Nông Sơn
  11. ^ "Reserve established for one of world's rarest animals" for CNN
  12. ^ http://www.ialyhpc.vn/index.php?mod=readn&id=83&m= EVN, Tiềm năng thủy điện Quảng Nam, 2007
  13. ^ http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=71211&ChannelID=10, Báo Tuổi Trẻ, Hàng vạn người tham dự lễ hội Quảng Nam-Hành trình di sản 2005, 21.03.2005
  14. ^ http://www.qrt.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=1478&Itemid=499, Đài phát thanh truyền hình Quảng Nam, Lễ hội Bà Chiêm Sơn, 09.02.2009
  15. ^ http://baoquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=16239&Itemid=133, Báo Quảng Nam, Tổ chức lễ hội Bà Chiêm Sơn
  16. ^ http://www.ngoaivuquangnam.gov.vn/index.php?option=com_content&task=view&id=887&Itemid=228, Sở Ngoại Vụ Quảng Nam, Đón năm mới với lễ hội đường phố kiểu Âu-Mỹ, 22.12.2008
  17. ^ http://www.vnnavi.com/hoian/lehoi.html, Các lễ hội truyền thống đặc trưng tại Quảng Nam, vnnavi

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ gió Sekong (Lào) Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng biển Đông Biểu đồ gió
Sekong (Lào) B biển Đông
T    Quảng Nam    Đ
N
Kon Tum Kon Tum, Quảng Ngãi Quảng Ngãi
Enclave: {{{enclave}}}