Đường sắt Bắc Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đường sắt Bắc Nam
Tàu hoả dừng tại ga Phù Mỹ, phía bắc Quy Nhơn
Tàu hoả dừng tại ga Phù Mỹ, phía bắc Quy Nhơn
Thông tin chung
Kiểu Đường sắt tải trọng lớn
Vị trí Việt Nam
Ga cuối Ga Hà Nội
Ga Sài Gòn
Hoạt động
Hoạt động 1936
Sở hữu Đường sắt Việt Nam
Thông tin kỹ thuật
Chiều dài tuyến 1.726 km (1.072 mi)
Khổ đường sắt 1000 mm
Đường sắt Bắc Nam
km Ga
0 Hà Nội
5 Giáp Bát
9 Văn Điển
Đi Hà Đông
18 Thường Tín
26 Chợ Tía
30 Đỗ Xá
34 Phú Xuyên
Ranh giới Hà Nội - Hà Nam
45 Đồng Văn
56 Phủ Lý
67 Bình Lục
Ranh giới Hà Nam - Nam Định
73 Cầu Họ
81 Đặng Xá
87 Nam Định
94 Trình Xuyên
101 Núi Gôi
108 Cát Đằng
Sông Đáy
Ranh giới Nam Định - Ninh Bình
115 Ninh Bình
121 Cầu Yên
125 Ghềnh
134 Đồng Giao
Ranh giới Ninh Bình - Thanh Hoá
142 Bỉm Sơn
153 Đò Lèn
161 Nghĩa Trang
Sông Mã
176 Thanh Hoá
188 Yên Thái
197 Minh Khôi
207 Thị Long
219 Văn Trai
229 Khoa Trường
238 Trường Lâm
Ranh giới Thanh Hoá - Nghệ An
245 Hoàng Mai
Sông Hoàng Mai
261 Cầu Giát (đi Thái Hoà)
Sông Lạch Vạn
272 Yên Lý
279 Chợ Si
292 Mỹ Lý
Sông Cửa Lò
309 Quán Hành
319 Vinh
325 Đò Yên
330 Yên Xuân
Sông Cả
Ranh giới Nghệ An - Hà Tĩnh
338 Yên Trung
345 Đức Lạc
352 Yên Duệ
358 Hoà Duyệt
370 Thanh Luyện
381 Chu Lễ
386 Hương Phố
397 Phúc Trạch
Ranh giới Hà Tĩnh- Quảng Bình
405 La Khê
409 Tân Ấp
415 Ga Đồng Chuối
426 Kim Lũ
437 Đồng Lê
450 Ngọc Lâm
453 Minh Cầm
459 Lạc Sơn
468 Lệ Sơn
482 Minh Lệ
Sông Son
489 Ngân Sơn
499 Thọ Lộc
507 Hoàn Lão
511 Phúc Tự
522 Đồng Hới
529 Lệ Kỳ
539 Long Đại
Sông Long Đại
551 Mỹ Đức
558 Phú Hoà
565 Mỹ Trạch
572 Thượng Lâm
Ranh giới Quảng Bình - Quảng Trị
588 Sa Lung
592 Vĩnh Thuỷ
599 Tiên An
Sông Bến Hải
609 Hà Thanh
622 Đông Hà
Sông Thạch Hãn
634 Quảng Trị
643 Diên Sanh
652 Mỹ Chánh
Ranh giới Quảng Trị - Thừa Thiên-Huế
660 Phò Trạch
670 Hiền Sỹ
678 Văn Xá
684 An Hoà
Sông Hương
688 Huế
691 An Cựu
699 Hương Thuỷ
702 Phú Bài
708 Nông
715 Truồi
724 Đá Bạc
729 Cầu Hai
732 Nước Ngọt
742 Thừa Lưu
755 Lăng Cô
761 Hải Vân Bắc
766 Hải Vân
Ranh giới Thừa Thiên-Huế - Đà Nẵng
772 Hải Vân Nam
776 Liên Chiểu
777 Kim Liên
Sông Cu Đê
788 Thanh Khê
791 Đà Nẵng
794 Liên Trì
799 Phong Lệ
Sông Cẩm Lệ
804 Lệ Trạch
Ranh giới Đà Nẵng - Quảng Nam
814 Nông Sơn
Sông Thu Bồn
819 Gò Nổi
820 Chiêm Sơn
825 Trà Kiệu
842 Phú Cang
857 An Mỹ
865 Tam Kỳ
879 Diêm Phố
890 Núi Thành
Ranh giới Quảng Nam - Quảng Ngãi
901 Trì Bình
909 Bình Sơn
920 Đại Lộc
Sông Trà Khúc
928 Quảng Ngãi
940 Hòa Vinh Tây
945 Lâm Điền
949 Mộ Đức
959 Thạch Trụ
968 Đức Phổ
977 Thủy Trạch
991 Sa Huỳnh
Ranh giới Quảng Ngãi - Bình Định
1004 Tam Quan
1017 Bồng Sơn
1033 Vạn Phú
1060 Khánh Phước
1070 Phù Cát
1084 Bình Định
Quy Nhơn
1096 Diêu Trì
1111 Tân Vinh
1123 Vân Canh
Ranh giới Bình Định - Phú Yên
1139 Phước Lãnh
1154 La Hai
1171 Chí Thạnh
1198 Tuy Hoà
Sông Đà Rằng
1202 Đông Tác
1211 Phú Hiệp
1221 Hảo Sơn
Ranh giới Phú Yên - Khánh Hoà
1232 Đại Lãnh
1242 Tu Bông
1254 Giã
1270 Hoà Huỳnh
1281 Ninh Hoà
1284 Phong Thạnh
1303 Lương Sơn
Sông Cái
1315 Nha Trang
1329 Cây Cầy (Suối Dầu)
1364 Ngã Ba (Ba Ngòi)
Ranh giới Khánh Hoà - Ninh Thuận
1408 Tháp Chàm
Sông Dinh
1436 Cà Ná
Ranh giới Ninh Thuận - Bình Thuận
1465 Sông Lòng Sông
1484 Sông Mao
Sông Lũy
1506 Sông Luỹ
1523 Long Thạnh
1533 Ma Lâm
Phan Thiết
1551 Bình Thuận
Sông Cà Ty
1560 Sông Dinh
1603 Suối Kiết
Ranh giới Bình Thuận - Đồng Nai
1631 Gia Ray
1640 Bảo Chánh
1649 Long Khánh
1661 Dầu Giây
1677 Trảng Bom
1688 Hố Nai
1697 Biên Hoà
Sông Đồng Nai
Ranh giới Đồng Nai - Bình Dương
1707 Dĩ An
1711 Sóng Thần
Ranh giới Bình Dương - Thành phố Hồ Chí Minh
1713 Thủ Đức
1718 Bình Triệu
Sông Sài Gòn
1722 Gò Vấp
1726 Sài Gòn
Đường sắt Bắc Nam đoạn Phú Yên
Cầu Ninh Bình bắc qua sông Đáy trên tuyến đường sắt Bắc - Nam

Đường sắt Bắc Nam, hay đường sắt Thống Nhất, là tuyến đường sắt bắt đầu từ thủ đô Hà Nội và kết thúc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đường sắt Bắc Nam chạy gần song song với quốc lộ 1A, có nhiều đoạn gặp nhau, nhất là tại các tỉnh lỵ.

Tổng chiều dài toàn tuyến: 1729 km, khổ rộng 1 m; đi qua các tỉnh và thành phố sau: Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh.

Cùng với tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng, tuyến đường sắt Bắc Nam là một phần của hệ thống tuyến đường sắt xuyên lục địa Á - Âu.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Việc xây dựng con đường sắt Trans-Indochinois (Xuyên Đông Dương) hoàn thành ngày 1 tháng 10 năm 1936 thời Pháp thuộc.[1] Ngày hôm sau, 2 tháng 10 là ngày chính thức khánh thành tuyến đường sắt Bắc Nam (từ Hà Nội đến Sài Gòn với chiều dài dài 1.730 km. Sau năm 1975 ga Sài Gòn dời về ga Hòa Hưng và ga này đổi tên ga thành ga Sài Gòn nên chiều dài chỉ còn 1.726 km).[2]

Những toa xe dùng lúc bấy giờ là voitures-couchettes, có toa voiture-restaurant chạy máy lạnh. Đầu máy thường là máy Mikado.[3]

1955-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Đệ nhị Thế chiến rồi Chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ thì đoạn đường phía nam vĩ tuyến 17 vào thập niên 1950, khoảng 1/3 bị hư hại nặng, không sử dụng được.[4] Còn lại là hai khúc từ Đông Hà vào Đà Nẵng và từ Sài Gòn ra Ninh Hòa. Việc tái thiết kéo dài bốn năm dưới thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam cho đến năm 1959 thì xe lửa mới chạy được suốt từ Sài Gòn ra Đông Hà, lần đầu tiên sau 12 năm gián đoạn.[5] Số liệu năm 1959 cho biết hệ thống đường sắt chuyên chở 2.658.000 lượt khách và 440.000 tấn hàng hóa. Số lượng sau đó giảm nhiều vì tình hình an ninh.[6]

Tính đến năm 1971-1972 thời Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam thì tổng cộng có 1.240 km đường sắt nhưng chỉ có 57% sử dụng được. Tổng lượng hành khách và hàng hóa chuyên chở bằng đường sắt giảm nhiều so với thập niên trước nhưng cũng tăng dần:[7]

Năm Tổng lượng hàng hóa vận tải (tấn) Số lượng hành khách (triệu)
1968 400.000 0,73
1969 530.000 1,75
1970 720.000 2,4

Sở Hỏa xa Việt Nam (tiếng Pháp: Regie des Chemins de fer du Viet-nam) điều hành các tuyến xe và tiếp tục dùng đầu máy Mikado, tăng thêm máy của General Electric chạy bằng diesel.[3]

Sau năm 1976[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 12 năm 1976, hoàn thành sửa lại do bị chiến tranh tàn phá.

Tồn tại: hiện tuyến đường sắt có tốc độ lưu thông thấp nhất thế giới do chạy qua nhiều đô thị đông dân cư, qua nhiều đèo có khúc cua gấp, giao cắt với đường bộ nhiều, đường đơn, đặc biệt là khổ đường hẹp (1 m).

Ngày 7 tháng 1 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ Việt nam Phan Văn Khải đã phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển ngành giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020".

Kế hoạch nâng cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Đường sắt Việt Nam, 2005

Nội dung và quy mô các yếu tố chính của Quy hoạch:

Giao thông vận tải đường sắt cần chiếm tỷ trọng 25% - 30% về tấn và tấn - km, 20% - 25% về hành khách và hành khách - km trong tổng khối lượng vận tải của toàn ngành giao thông vận tải đến năm 2020 có tỷ trọng vận chuyển hành khách đô thị bằng đường sắt đạt ít nhất là 20% khối lượng hành khách tại các thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Duy trì khổ đường sắt hiện tại, gồm các khổ đường 1.000 mm, 1.435 mm và đường lồng (1.000 mm và 1,435 mm) để nâng cấp, cải tạo đạt cấp kỹ thuật. Khi xây dựng các đoạn, tuyến đường sắt mới phải phù hợp và kết nối thuận tiện với khổ đường sắt hiện có ở khu vực đó. Riêng đường sắt cao tốc Bắc - Nam xây dựng theo tiêu chuẩn khổ đường 1.435 mm.

Phát triển phương tiện vận tải đường sắt theo hướng đa dạng với cơ cấu hợp lý, đổi mới sức kéo và sức chở theo hướng hiện đại, giảm chi phí, hạ giá thành, chú trọng phát triển các đoàn tàu tốc độ cao, tàu tự hành, tàu chở container... áp dụng công nghệ tiên tiến trong vận tải và đóng mới phương tiện nhằm tăng tốc độ chạy tàu để đến năm 2020, tốc độ tàu hàng đạt 80 km/h và tốc độ tàu khách đạt 120 km/h trở lên.

Những tiêu chuẩn kỹ thuật chủ yếu do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định sau khi thống nhất với các cơ quan liên quan và phù hợp với quy định hiện hành.

Đầu tư cơ sở hạ tầng đến năm 2020:

- Giai đoạn đến 2010:

+ Nâng cấp các tuyến đường hiện có vào cấp kỹ thuật quy định và xây dựng mới một số đoạn, tuyến, các đường nhánh nối với cảng, khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm trong cả nước và kết nối với các tuyến hiện tại ưu tiên nâng cao năng lực và hiện đại hóa trục Bắc - Nam, trục Đông - Tây tiến hành điện khí hóa tuyến Hà Nội - Hải Phòng để làm cơ sở phát triển sức kéo điện cho giai đoạn sau.

+ Đồng thời với việc xây dựng đường sắt đô thị ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh phải tiến hành xây dựng mới và đồng bộ các nhà ga, các cơ sở sửa chữa, vận dụng đầu máy-toa xe.

+ Làm mới hệ thống: thông tin cáp quang, tổng đài điện tử số, tín hiệu bán tự động tiến tới tự động, ghi điện khí tập trung, dừng tàu tự động, hệ thống cảnh báo đường ngang tự động... Tham gia thị trường viễn thông chung để tận dụng hết năng lực của ngành đường sắt.

+ Quy hoạch sắp xếp lại để phát triển các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, phụ tùng, phụ kiện cơ khí phục vụ sửa chữa, bảo trì và làm mới cơ sở hạ tầng đường sắt.

+ Nâng cấp, làm mới để từng bước hoàn chỉnh hệ thống nhà ga hành khách, ga hàng hóa ở các khu vực trọng điểm đặc biệt lưu ý các ga hành khách tại trung tâm Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vừa là ga trung tâm của đường sắt vừa là đầu mối trung chuyển, kết nối các loại phương tiện vận tải, đồng thời là trung tâm dịch vụ đa năng.

- Giai đoạn đến 2020:

Hoàn thành việc nâng cấp các tuyến đường sắt để đạt cấp kỹ thuật quốc gia và khu vực, xây dựng thêm một đường để thành đường đôi và điện khí hóa các tuyến Hà Nôi - Vinh, Sài Gòn - Nha Trang, tiếp tục xây dựng các tuyến đường sắt mới để tạo thành mạng lưới đường sắt đồng bộ, hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn hiện đại. Trên trục Bắc - Nam, ngoài tuyến đường sắt Thống Nhất hiện có cần xây dựng thêm một tuyến đường đôi riêng biệt chạy tàu khách cao tốc Bắc - Nam khổ đường 1.435 mm để giảm thời gian chạy tàu từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh xuống dưới 10 giờ và có khả năng kết nối với đường sắt liên vận quốc tế. Tiếp tục xây dựng đường sắt vành đai, nội đô ở các thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn khác để tạo thành mạng lưới giao thông đô thị hoàn chỉnh và đồng bộ.

Các ga trên tuyến đường sắt Bắc-Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Xem Các ga trên tuyến đường sắt Thống Nhất.

An toàn[sửa | sửa mã nguồn]

Theo báo cáo của ngành đường sắt Việt Nam, 10 tháng đầu năm 2009 đã xảy ra 431 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 166 người, bị thương 319 người. Hiện, có gần 6.000 điểm giao cắt giữa đường bộ và đường sắt, trong đó có hơn 4.500 điểm giao cắt dân sinh, nhiều điểm không có rào chắn, biển báo. Riêng 3 thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng có trên 4.200 điểm vi phạm với diện tích bị lấn chiếm gần 1,5 triệu m2.[8]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn An Tiêm. "Sổ luân lưu". Khởi Hành Năm XV, số 169. Tháng 11, 2010. tr 7
  2. ^ Hạ tầng cơ sở Đường sắt
  3. ^ a ă Trains-worldexpresses
  4. ^ [1] The Pentagon Papers. "Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960".
  5. ^ [2] Trang 27.
  6. ^ [3] Trang 432.
  7. ^ Nguyen Ngoc Bich, et al. tr 49
  8. ^ Những điểm giao cắt đường sắt nguy hiểm giữa thủ đô

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]