Sông Đà Rằng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Sông Đà Rằng
Sông Đà Rằng đoạn qua Phú Yên
Thượng nguồn Kon Tum, Việt Nam
Cửa sông Biển Đông
Các quốc gia lưu vực Việt Nam
Độ dài 300 km
Cao độ thượng nguồn 2000 m (thượng lưu)
Cao độ cửa sông {{{Cao độ cửa sông}}}
Lưu lượng trung bình 24 tỉ m3/năm
Diện tích lưu vực 13.000 km2

Sông Ba còn gọi là sông Đà Rằng, theo tiếng Chăm cổ có nghĩa là "con sông lau sậy". Sông bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Linh, tây bắc tỉnh Kon Tum, từ độ cao 2.000 mét, chảy qua Gia LaiPhú Yên rồi đổ ra biển Đôngcửa biển Đà Diễn, tổng chiều dài 300 km. Sông Ba nằm ở ranh giới giữa hai cao nguyêncao nguyên Pleikucao nguyên Đắc Lắc, có lưu vực rộng 13.000 km² và là một trong hai sông lớn nhất Tây Nguyên. Sông Ba cung cấp nước quanh năm cho đồng bằng Tuy Hòa, với diện tích hơn 20.000 ha, vựa lúa lớn nhất miền Trung Việt Nam.

Dọc theo sông Ba có nhiều danh lam thắng cảnhdi tích lịch sử. Cầu Đà Rằng qua sông này tại Tuy Hòa dài 1.512 mcầu dài nhất miền Trung Việt Nam.

[sửa] Lịch sử

Vùng hạ lưu sông Ba từ nhiều nghìn năm trước đã có nhiều bộ tộc cư ngụ. Di tích của các nền văn minh đồ đá từng tồn tại nơi đây vẫn còn được lưu giữ, điển hình là chiếc đàn đá Tuy An.

Từ thế kỷ 1, tại đây dần hình thành các quốc gia như Lâm Ấp, Chiêm Thành. Có bằng chứng khảo cổ học, đào được khi xây dựng công trình thủy nông Đồng Cam tại đây, cho thấy cửa biển Đà Diễn, thời kỳ từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 15, đã từng là trung tâm thương mại quốc tế sầm uất. Các hiện vật đào được gồm nhiều loại tiền cổ, khối lượng đến một tấn, gồm tiền Đại Việt thời Hồng Đức, tiền "Khai nguyên thông bảo" nhà Đường, tiền Triều Tiên,...

Đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã hành quân vào đây trừng phạt vua Chiêm Thành vì tội quấy nhiễu vùng Hóa Châu (Quảng Nam ngày nay). Lê Thánh Tông đã khắc lên một tảng đá lớn trên núi Thạch Bi (còn gọi là núi Đá Bia), thuộc hạ lưu sông Ba, làm mốc ranh giới Đại Việt. Đây cũng là một dấu mốc lịch sử trong quá trình Nam tiến của người Việt.

Tuy đã đánh mốc như vậy, phải hơn 100 năm sau, đến năm 1578, đô chỉ huy sứ Lương Văn Chánh, vâng mệnh chúa Nguyễn Hoàng, mới đem lưu dân từ Thanh Hóa, Nghệ An và Thuận Quảng vào khai khẩn, lập xóm làng tại vùng đồng bằng Tuy Hòa.

Tháng 4 năm 1975, thung lũng sông Ba là nơi diễn ra trận pháo kích đẫm máu của quân Bắc Việt nhắm vào đám dân quân Việt Nam Cộng hòa triệt thoái trên quốc lộ 7 từ Cao nguyên Trung phần tức Quân khu II về miền duyên hải.

[sửa] Các công trình thủy lợi

hạ lưu sông Ba có công trình thủy nông Đồng Cam, đảm bảo ổn định tưới tiêu cho toàn bộ đồng bằng Tuy Hòa.

Hiện đang xây dựng thủy điện Sông Ba Hạ, trên huyện Sơn Hòa.

Công trình này được xây dựng bởi chế độ bảo hộ Pháp từ thập niên 1920. Các kỹ sư tham gia xây dựng công trình gồm người Pháp, ViệtLào; trong đó có Trần Đăng Khoa, bộ trưởng đầu tiên của Bộ Thủy lợi của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông (Souphanouvong), cựu chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Công cụ cá nhân