Làng
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Làng là một đơn vị cư trú và một hình thức tổ chức xã hội quan trọng của nông thôn các quốc gia ở châu Á.
Mục lục |
[sửa] Tại Việt Nam
Suốt nhiều thế kỷ, làng là đơn vị tụ cư cổ truyền lâu đời ở nông thôn người Việt và là nhân tố cơ sở cho hệ thống nhà nước quân chủ tại Việt Nam. Từ thời Hùng Vương, làng được gọi là chạ. Đơn vị này có thể coi tương đương với sóc của người Khơme, bản, mường (của các dân tộc thiểu số phía Bắc), buôn (của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên-Trường Sơn). Làng của những người làm nghề chài lưới được gọi là vạn hay vạn chài.
Làng truyền thống điển hình thời trung và cận đại là một tập hợp những người có thể có cùng huyết thống, cùng phương kế sinh nhai trên một vùng nhất định. Làng ̣được xem có tính tự trị, khép kín, độc lập, là một vương quốc nhỏ trong vương quốc lớn nên mới có câu "Hương đảng, tiểu triều đình". Năm 1428, Lê Thái Tổ phân chia lãnh thổ thành các đơn vị, gọi là tiểu xã, trung xã và đại xã. Thời nhà Lê đánh dấu việc nhà nước tăng cường kiểm soát làng xã. Viên quan cai trị làng lúc đó gọi là "xã quan". Năm 1467 thì bỏ "xã quan", thay bằng "xã trưởng"[1]. Viên chức này không còn do triều đình bổ nhiệm nữa mà là do dân làng tuyển cử. Từ đó trở đi triều đình chỉ kiểm soát từ cấp huyện trở lên còn xã được coi như tự trị. Xã trưởng đến triều Minh Mệnh nhà Nguyễn thì đổi là "lý trưởng".
Trước đây, trên làng là xã, huyện, châu, phủ, lộ, đạo; dưới làng là thôn, xóm, ấp... tùy theo từng thời kỳ. Ngày nay, tổ chức trên làng là xã, huyện, tỉnh, quốc gia; tổ chức dưới làng có xóm.
[sửa] Tổ chức làng
Làng chủ yếu có ba cơ quan: cơ quan nghị quyết, cơ quan chấp hành, và cơ quan trị an. Thời nhà Lê thì hội đồng kỳ hào là cơ quan nghị quyết, có hương trưởng (sau gọi là tiên chỉ) đứng đầu. Hương mục lãnh trách nhiệm trông coi tài sản công tư của xã. Trị an, tự vệ thì giao cho trùm trưởng (sau gọi là tuần đinh). Hương mục và trùm trưởng cũng là thành viên của hội đồng kỳ hào.
Hội đồng kỳ hào thường là các hương hào danh tiếng có phẩm hàm, học thức, hoặc là hưu quan trong xã. Điều kiện vào hội đồng không nhất định mà tùy theo hương ước của làng. Có làng xét ngôi thứ trong hội đồng theo "thiên tước" tức là ai cao tuổi nhất thì là tiên chỉ. Có làng xét theo "nhân tước" và ai đỗ cao nhất hay có phẩm hàm cao nhất thì ngồi chiếu tiên chỉ.
Hội đồng kỳ hào thường nhóm họp một tháng hai lần vào ngày mồng một và ngày rằm sau khi lễ thành hoàng ở đình. Các việc cấp xã gồm quyết định chi thu các ngạch thuế đinh, tiền cheo, tiền vạ cùng những việc tế tự. Hội đồng kỳ hào còn có quyền xét xử những vụ hình luật nhỏ.
Chấp hành là xã trưởng do dân bầu ra để thi hành những nghị quyết của hộ đồng kỳ hào cùng là đại biểu của xã khi liên lạc với triều đình như các quan từ cấp huyện trở lên khi nhà nước thu thuế, mộ lính, hay bắt dân làm tạp dịch. Giúp xã trưởng là phó xã trưởng.
Sang thời Pháp thuộc thì làng có thêm chân trưởng bạ trông coi sổ sách điền bộ và hộ lại trông coi giấy tờ sinh, tử, giá thú.
[sửa] Làng xã thời Quốc gia Việt Nam
Hội đồng kỳ hào sau thời Pháp thuộc ở phía nam vĩ tuyến 17 có những cải tổ sau đây. Thứ nhất là tên gọi được đổi thành Hội đồng hương chánh. Đứng đầu hội đồng hương chánh là chủ tịch và phó chủ tịch thêm tổng thơ ký giúp việc. Thành viên hội đồng là ủy viên. Mỗi ủy viên kiêm thêm một đặc vụ.
Làng nhỏ thì chỉ có hai ủy viên y tế và ủy viên giáo dục. Làng lớn thì có thể có đến chín ủy viên cả thảy tức hai ủy viên vừa kể trên và thêm hộ tịch, cảnh sát, tài chánh, thuế vụ, công chánh, kinh tế, và canh nông.[2]
[sửa] Tham khảo
- Doãn Quốc Sỹ. Người Việt Đáng Yêu. Sài Gòn: NXB Sáng Tạo, 1965. Trang 14-22.
[sửa] Chú thích
- ^ Doãn Quốc Sỹ. Người Việt Đáng Yêu. Sài Gòn: NXB Sáng Tạo, trang 15.
- ^ Savani, A. M. Visage et Images du Sud Vietnam. Sài Gòn: Imprimerie Française d'Outre-Mer, 1955. Trang 155-6.
[sửa] Xem thêm
[sửa] Tại Trung Quốc
[sửa] Liên kết ngoài
| Bài này còn sơ khai. Mời bạn góp sức viết thêm để bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp về cách sửa bài. |