Sông Hinh, Phú Yên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Sông Hinh là một huyện thuộc tỉnh Phú Yên, nơi có dòng sông Hinh chảy qua. Huyện được thành lập từ ngày 25/02/1985 trên cơ sở chia tách huyện Tây Sơn (tỉnh Phú Khánh) thành hai huyện Sơn Hòa và Sông Hinh.

Vị trí huyện Sông Hinh trên bản đồ tỉnh Phú Yên.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Là huyện miền núi nằm phía tây nam tỉnh Phú Yên, ôm trọn hồ thủy điện Sông Hinh, nằm trên Quốc lộ 29 đi Đắk Lắk, cách Thành phố Tuy Hòa khoảng 60 km về hướng tây. Phía tây nam là tỉnh Đắk Lắk, phía tây bắc là tỉnh Gia Lai, phía bắc giáp huyện Sơn Hòa, phía đông là giáp huyện Tây Hòa và phía đông nam là tỉnh Khánh Hòa.

Diện tích, dân cư, giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện có diện tích xấp xỉ 887 km2, dân số khoảng 49.000 người (2014). Có gần 50% là người dân tộc thiểu số, chủ yếu là dân tộc Ê Đê. Sông Hinh hội tụ 19 dân tộc khác nhau đến từ mọi miền tổ quốc về đây đoàn kết cùng sinh sống.

Quốc lộ 29 và tỉnh lộ ĐT 649 là những con đường huyết mạch của Sông Hinh nối với vùng kinh tế Tây Nguyên và tuyến đường Đông Trường Sơn đi ngang quan địa bàn huyện tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông thương với các tỉnh Tây nguyên.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bờ hồ Sông Hinh về đêm
  1. Đức Bình Đông
  2. Đức Bình Tây
  3. Ea Bá
  4. Ea Bar
  5. Ea Bia
  6. Ea Lâm
  7. Ea Ly
  8. Ea Trol
  9. Sông Hinh
  10. Sơn Giang

Kinh tế, xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn huyện: Đất nông nghiệp: 28.026 ha; đất lâm nghiệp: 40.109 ha; đất phi nông nghiệp: 14.531 ha; đất chưa sử dụng: 5.920 ha. Hình thành các vùng sản xuất tập trung cây công nghiệp dài ngày như: cà phê 1.700 ha, cao su 2.766 ha; cây công nghiệp ngắn này như sắn 7.820 ha, mía 5.014 ha.

Chăn nuôi bò hàng hóa với tổng đàn bò hiện nay là 19.659 con, tỷ lệ bò lai 23,13%.

Nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú, tiềm ẩn với trữ lượng khá lớn: như Sắt, đá Mácma, đá dăm, đá Granittoit, đá Saphia, vàng sa khoáng… Diện tích rừng rộng 32.712,2 ha, độ che phủ đạt 42,07%, có nhiều loại gỗ quý giá trị kinh tế cao.

Ngoài ra, còn có tài nguyên nước; với Hồ thủy điện Sông Hinh, thủy điện Sông Ba Hạ, Hồ thủy điện Krông H’Năng và nhiều công trình thủy lợi rất thuận lợi cho phát triển Nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản nước ngọt.

Văn Hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên đời sống văn hóa hết sức phong phú, độc đáo, đặc biệt là di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Về di sản văn hóa vật thể hiện huyện Sông Hinh còn gần 600 bộ cồng chiêng các loại, 11 bộ A Ráp, đàn Tính của người Tày, đàn Đinh Klút của người ÊĐê, Tù Và của người Dao… Về di sản văn hóa phi vật thể, Sông Hinh còn gần 100 sử thi, nhiều nhất là của người Ê Đê và trên 30 nghệ nhân hát sử thi. Sử thi Sông Hinh không chỉ nhiều về số lượng, phong phú về chủ đề sáng tạo, mà chất lượng nhiều bản sử thi có giá trị về văn hóa, lịch sử, được các nhà khoa học đánh giá cao như Đam San, Xinh Nhã, Khinh Dú, Am H’Wứ...

Đồng thời, Sông Hinh cũng được xem là vùng đất của lễ hội, với nhiều lễ hội phong phú, độc đáo như: Cúng về nhà mới, cúng Giàng (Trời), cúng rẫy, cúng bến nước, cúng lúa về kho, cúng lễ cưới, trì lễ đâm trâu….Nền văn hoá đa dạng về hình thức và phong phú về thể loại, hiện còn lưu giữ nhiều nét văn hoá độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc như: Hát Khan, Cồng chiêng – A Ráp, Trống Đôi, Kèn Lá, Đàn Goong, Đàn Tính, Hát Then…

Bên cạnh đó trang phục Thổ cẩm của người đồng bào thiểu số cũng là nét đặc trưng được nhiều người yêu thích, bởi nét hoa văn trang trí cầu kỳ và màu sắc tươi đẹp. Đặc biệt với sinh hoạt văn hoá cộng đồng tại các nhà Rông văn hoá ở từng buôn, làng bên ché rượu cần say đắm tình người đã góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá riêng của từng dân tộc anh em trên địa bàn huyện.

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Phát huy lợi thế hiện có về thế mạnh du lịch của huyện là du lịch sinh thái tự nhiên gắn với nét văn hóa đặc trưng của đồng bào các dân tộc để phát triển các loại hình và sản phẩm du lịch. Hiện tại trên địa bàn huyện có trên 10 cơ sở ăn uống đáp ứng khoảng 2000 chỗ ngồi, chủ yếu là tại Thị trấn Hai riêng và xã EaLy. Một số món ẩm thực của Sông Hinh được ưa chuộng như: Cá Lăng nấu chua, Bò nấu cay mẵn, Bò nướng ống tre, rượu cần, thịt Bò khô nướng, Heo giống bản địa nấu kiểu truyền thống địa phương… Một số điểm vui chơi, giải trí như khu vực bờ hồ Trung tâm thị trấn Hai Riêng, Hồ thủy điện Sông Hinh, Hồ thủy điện Sông Ba Hạ, các thác tự nhiên… Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, các mặt hàng lưu niệm được chế tác từ gỗ, nhiều nghệ nhân của Hội Sinh Vật Cảnh huyện đã có những tác phẩm nghệ thuật bằng gỗ lũa, đá cảnh có giá trị đã tham gia các hội chợ triển lãm ở các tỉnh, thành trong cả nước và đạt được nhiều giải thưởng cao. Nhiều nghệ nhân đồng bào dân tộc Êđê, Bana đã giữ gìn được nghề dệt thổ cẩm, các nghề đan lát bằng thủ công rất tinh xảo có tính nghệ thật thuật cao, nghề làm rượu cần truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

a. Mục tiêu đến năm 2015

- Từng bước đầu tư để hình thành về kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỷ thuật phục vụ du lịch. Tạo được các tuyến, điểm du lịch sinh thái tự nhiên như: Hồ Trung tâm thị trấn Hai Riêng; Đồi Thông; Thác Draităng xã Eatrol; Thác LzoongLbar, Ebnaobnui xã Eabar; Thác H’ly xã Sông Hinh và một số điểm du lịch khác trong huyện.

- Chú trọng từng bước nâng cao chất lượng hiệu quả hệ thống các cơ sở lưu trú du lịch, khu vui chơi giải trí và các dịch vụ du lịch tại thị trấn Hai Riêng để đáp ứng phục vụ nhu cầu của khách.

- Xây dựng điểm buôn Lê Diêm trở thành buôn văn hóa du lịch, xây dựng làng nghề truyền thống, phục dựng các lễ hội văn hóa dân gian và đầu tư để xây dựng, tổ chức các hoạt động văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc.

b. Mục tiêu đến năm 2020

- Tạo được các sản phẩm du lịch độc đáo của Sông Hinh, phấn đấu để du lịch đóng góp một phần vào tỷ trọng phát triển kinh tế chung của huyện nhà.

- Phát triển được các tour du lịch chuyên đề như: Du lịch Văn hóa, Lễ hội, Ẩm thực, Du lịch khám phá, dã ngoại bằng thuyền trên hồ, leo núi, thác…

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]