Thanh Hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Thanh Hoá)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thanh Hóa
Tỉnh
272px
Trống đồng Đông Sơn
Địa lý
Tọa độ: 20°08′28″B 105°18′34″Đ / 20,141049°B 105,309448°Đ / 20.141049; 105.309448Tọa độ: 20°08′28″B 105°18′34″Đ / 20,141049°B 105,309448°Đ / 20.141049; 105.309448
Diện tích 11.131,9 km²[1]
Dân số (2011)  
 Tổng cộng 3.412.600 người[1]
 Mật độ 307 người/km²
Dân tộc Việt, Mường, Thái, Thổ,
Dao, H'Mông, Khơ-mú
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Bắc Trung Bộ
Tỉnh lỵ Thành phố Thanh Hóa
 Chủ tịch UBND Trịnh Văn Chiến
 Chủ tịch HĐND Mai Văn Ninh
 Bí thư Tỉnh ủy Mai Văn Ninh
Phân chia hành chính 1 thành phố, 2 thị xã, 24 huyện
Mã hành chính VN-21
Mã bưu chính 44xxxx-45xxxx
Mã điện thoại 37
Biển số xe 36
Website http://www.thanhhoa.gov.vn/

Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 140 km về phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km về hướng Bắc. Đây là một tỉnh lớn của Việt Nam, đứng thứ 5 về diện tích và thứ 3 về dân số trong số các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, cũng là một trong những địa điểm sinh sống đầu tiên của người Việt.

Cách đây khoảng 6000 năm đã có người sinh sống tại Thanh Hóa. Các di chỉ khảo cổ cho thấy nền văn hóa xuất hiện đầu tiên tại đây là văn hóa Đa Bút. Sang đầu thời đại kim khí, thuộc thời đại đồ đồng, qua các bước phát triển với các giai đoạn trước văn hóa Đông Sơn, Thanh Hóa đã trải qua một tiến trình phát triển với các giai đoạn văn hoá: Cồn Chân Tiên, Đông Khối - Quỳ Chữ tương đương với các văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Munlưu vực sông Hồng. Và sau đó là nền văn minh Văn Lang cách đây hơn 2.000 năm, văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hóa đã toả sáng rực rỡ trong đất nước của các vua Hùng.[2]

Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắcmiền Trung Việt Nam trên nhiều phương diện. Về hành chính, Thanh Hóa là tỉnh cực bắc Trung Bộ, tiếp giáp với Tây Bắc Bộđồng bằng Bắc Bộ. Về địa chất, miền núi Thanh Hóa là sự nối dài của Tây Bắc Bộ trong khi đồng bằng Thanh Hóa là đồng bằng lớn nhất Trung Bộ, ngoài ra một phần nhỏ (phía bắc huyện Nga Sơn) thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng. Về khí hậu, Thanh Hóa vừa có kiểu khí hậu của miền Bắc lại vừa mang những hình thái khí hậu của miền Trung. Về ngôn ngữ, phần lớn người dân nói phương ngữ Thanh Hóa với vốn từ vựng khá giống từ vựng của phương ngữ Nghệ Tĩnh song âm vực lại khá gần với phương ngữ Bắc Bộ.

Thanh Hóa bao gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh, 2 thị xã và 24 huyện, với diện tích 11.133,4 km2 và số dân 3,405 triệu người với 7 dân tộc Kinh, Mường, Thái, H'mông, Dao, Thổ, Khơ-mú[3], trong đó có khoảng 355,4 nghìn người sống ở thành thị.[4] Năm 2005 Thanh Hóa 2,16 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm tỷ lệ 58,8% dân số toàn tỉnh, lao động đã qua đào tạo chiếm 27%, trong đó lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4%.[2]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Địa lý Thanh Hóa

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày nay, theo số liệu đo đạc hiện đại của cục bản đồ thì Thanh Hóa nằm ở vĩ tuyến 19°18' Bắc đến 20°40' Bắc, kinh tuyến 104°22' Đông đến 106°05' Đông. Phía bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa BìnhNinh Bình; phía nam và tây nam giáp tỉnh Nghệ An; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn nước Lào với đường biên giới 192 km; phía đông Thanh Hóa mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với bờ biển dài hơn 102 km. Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11.106 km², chia làm 3 vùng: đồng bằng ven biển, trung du, miền núi. Thanh Hóa có thềm lục địa rộng 18.000 km².

Địa hình, địa mạo[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình Thanh Hóa nghiêng từ tây bắc xuống đông nam. Ở phía tây bắc, những đồi núi cao trên 1.000 m đến 1.500 m thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía đông nam. Đồi núi chiếm 3/4 diện tích của cả tỉnh, tạo tiềm năng lớn về kinh tế lâm nghiệp, dồi dào lâm sản, tài nguyên phong phú. Dựa vào địa hình có thể chia Thanh Hóa ra làm các vùng miền.

Miền núi, trung du: Miền núi và đồi trung du chiếm phần lớn diện tích của Thanh Hóa. Riêng miền đồi trung du chiếm một diện tích hẹp và bị xé lẻ, không liên tục, không rõ nét như ở Bắc Bộ. Do đó nhiều nhà nghiên cứu đã không tách miền đồi trung du của Thanh Hóa thành một bộ phận địa hình riêng biệt mà coi các đồi núi thấp là một phần không tách rời của miền núi nói chung.

Miền đồi núi chiếm 2/3 diện tích Thanh Hóa, nó được chia làm 3 bộ phận khác nhau bao gồm 11 huyện: Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Ngọc Lặc, Cẩm Thủy và Thạch Thành. Vùng đồi núi phía tây có khí hậu mát, lượng mưa lớn nên có nguồn lâm sản dồi dào, lại có tiềm năng thủy điện lớn, trong đó sông Chu và các phụ lưu có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các nhà máy thủy điện. Miền đồi núi phía Nam đồi núi thấp, đất màu mỡ thuận lợi trong việc phát triển cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây đặc sản và có Vườn quốc gia Bến En (thuộc địa bàn huyện Như Thanh và huyện Như Xuân), có rừng phát triển tốt, với nhiều gỗ quý, thú quý.

Vùng đồng bằng của Thanh Hóa lớn nhất của miền Trung và thứ ba của cả nước. Đồng bằng Thanh Hóa có đầy đủ tính chất của một đồng bằng châu thổ, do phù sa các hệ thống sông Mã, sông Yên, sông Hoạt bồi đắp. Điểm đồng bằng thấp nhất so với mực nước biển là 1 m.

Vùng ven biển: Các huyện từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia, chạy dọc theo bờ biển gồm vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửa sông Hoạt, sông Mã, sông Yênsông Bạng. Bờ biển dài, tương đối bằng phẳng, có bãi tắm nổi tiếng Sầm Sơn, có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc lấn biển, nuôi trồng thủy sản, phân bố các khu dịch vụ, khu công nghiệp, phát triển kinh tế biển (ở Nga Sơn, Nam Sầm Sơn, Nghi Sơn).

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Là tỉnh có nguồn tài nguyên đa dạng nhưng nhìn chung nguồn tài nguyên có trữ lượng không lớn, và thường phân bố không tập trung nên rất khó cho việc phát triển công nghiệp khai khoáng. Thanh Hóa hiện tại mới chỉ có một số nhà máy đang tiến hành khai thác nguồn tài nguyên, như: nhà máy xi măng Bỉm sơn, xi măng Nghi sơn, phân bón Hàm rồng,... Đa số nguồn tài nguyên đang bị thất thoát do kiểm soát không chặt chẽ.

Thanh Hóa có khoáng sản chính là vàng, cromit, thiếc, đá quý. Chúng chưa được đánh giá đúng, nhất là vàng. Vàng uy đã bị người tàu, dân tự do khai thác ở nhiều huyện miền núi[cần dẫn nguồn], song trữ lượng còn rất lớn. Có thể nói các huyện trong tỉnh, nếu có chuyên môn tốt sẽ tìm được vàng cho khai thác và chỉ có khai thác công nghiệp mới đem lại lợi ích cho Đất nước và tránh ô nhiễm môi trường.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Lịch sử Thanh Hóa

Các di chỉ khảo cổ cho thấy người Việt đã sống ở đây cách nay 6000 năm. Thời kì dựng nước nó là bộ Cửu Chânbộ Quân Ninh của nước Văn Lang.

Thời Bắc thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Đình Bảng Môn, xã Hoằng Lộc, Hoằng Hóa.

Thời Nhà Hán chính quyền đô hộ Thanh Hóa thuộc quận Cửu Chân. Sang đến thời Tam Quốc, nhà Đông Ngô trực tiếp cai trị. Sau khi tách quận Cửu Chân thành hai quận Cửu ChânCửu Đức thì thuộc quận Cửu Chân mới gồm đất Thanh Hóa ngày nay và một phần phía nam Ninh Bình. Cửu Chân được chia làm 7 huyện: Tư Phố, Di Phong, Cư Phong, Trạn Ngô, Kiến Sơ, Phù Lạc, Thường Lạc, Tùng Nguyên. Sang đến thời nhà Lương, Lương Võ đế đổi Cửu Chân làm Ái Châu. Đến thời Nhà Tùy gọi là Cửu Chân quận.

Thời kì tự chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ cổ tỉnh Thanh Hóa vào cuối thế kỷ 19, thời nhà Nguyễn.

Ở thời kì tự chủ thì Thanh Hóa được đổi tên nhiều lần nhưng Thanh Hóa vẫn là tỉnh có số lần sát nhập và chia tách ít nhất cả nước.

Ở thời Nhà ĐinhTiền Lê Thanh Hóa gọi là đạo Ái Châu. Ở thời Nhà Lý thời kỳ đầu gọi là trại Ái Châu, về sau vào năm Thuận Thiên 1 thì gọi là Phủ Thanh Hóa).

Năm 1242, vua Trần Thái Tông đổi 24 lộ đời Lý thành 12 lộ, trong đó có Thanh Hóa phủ lộ. Năm Quang Thái thứ 10 (Trần Thuận Tông - năm 1397) đổi làm trấn Thanh Ðô. Trấn Thanh Ðô lúc này gồm 7 huyện và 3 châu (mỗi châu có 4 huyện). Trong đó, 7 huyện là: Cổ Ðằng, Cổ Hoằng, Ðông Sơn, Cổ Lôi, Vĩnh Ninh, Yên Ðịnh, Lương Giang. 3 châu bao gồm: châu Thanh Hóa gồm huyện Nga Lạc, huyện Tế Giang, huyện Yên Lạc, huyện Lỗi Giang; châu Ái gồm huyện Hà Trung, huyện Thống Bình, huyện Tống Giang, huyện Chi Nga; châu Cửu Chân gồm huyện Cổ Chiến, huyện Kết Thuế, huyện Duyên Giác, huyện Nông Cống.

Năm 1397, Trần Thuận Tông đổi làm trấn Thanh Đô, gồm 3 châu và 7 huyện: châu Thanh Hóa (gồm Nga Lạc, Tế Giang, Yên Lạc, Lỗi Giang); châu Ái (gồm: Hà Trung, Thống Bình, Tống Giang, Chi Nga);châu Cửu Chân (gồm: Cổ Chiến, Kết Thuế, Duyên Giác, Nông Cống); huyện Cổ Đằng; huyện Cổ Hoằng; huyện Đông Sơn; huyện Vĩnh Ninh; huyện Yên Định; huyện Lương Giang; huyện Cổ Lôi.

Vò sành đựng lương thực tại Thanh Hóa, thế kỉ 11-12.

Năm 1430, Hồ Hán Thương đổi phủ Thanh Hóa thành phủ Thiên Xương. Sách Ðại Nam nhất thống chí ghi:

Phủ này (tức phủ Thiên Xương) cùng Cửu Chân và ái Châu làm "tam phủ" gọi là Tây Ðô". Thời thuộc Minh, trấn Thanh Ðô đổi thành phủ Thanh Hóa (năm 1407 - theo Ðào Duy Anh)'Thời thuộc Minh lại làm phủ Thanh Hóa, lãnh 4 châu là Cửu Chân, ái Châu, Thanh Hóa, Quỳ Châu và 11 huyện. Trong đó, 11 huyện là Yên Ðịnh, Nông Cống, Vĩnh Ninh, Tống Giang, Cổ Ðằng, Nga Lạc, Lương Giang, Lỗi Giang, Ðông Sơn, Yên Lạc, Cổ Lôi[5]

Sau khi nhà Hồ thất thủ, nhà Minh cai trị Đại Việt, lại đổi lại làm phủ Thanh Hóa như cũ, đặt thêm hai huyện: Lôi Dương, Thụy Nguyên. Về địa giới vẫn không đổi.[5]

Sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, nhà hậu Lê cầm quyền. Năm Thuận Thiên thứ nhất (năm 1428), Lê Thái Tổ chia nước làm 5 đạo, Thanh Hóa thuộc Hải Tây đạo, đến năm Quang Thuận thứ 7 (năm 1466) đặt tên là Thừa Tuyên Thanh Hóa, năm Quang Thuận thứ 10 (năm 1469) lại đổi thành Thừa Tuyên Thanh Hoa, tên Thanh Hoa có từ đây. Thanh Hoa Thừa Tuyên theo "Thiên Nam dư hạ tập" lãnh 4 phủ, 16 huyện và 4 châu.

Thời Nhà Lê, Thanh Hóa là thừa tuyên Thanh Hóa (Thanh Hoa), gồm phần đất tỉnh Thanh Hóa ngày nay và tỉnh Ninh Bình (thời kỳ đó là phủ Trường Yên, trực thuộc) và tỉnh Hủa Phăn (Sầm Nưa) của Lào (thời kỳ đó gọi là châu Sầm). Xứ Thanh Hoa thời nhà Lê với 6 phủ:

  • Phủ Thiệu Thiên (Thiệu Hóa), nằm ở phía tây tây bắc xứ Thanh, có 8 huyện: Thụy Nguyên, Vĩnh Phúc (Vĩnh Lộc), Đông Sơn, Lôi Dương, Yên Định, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Quảng Bình.
  • Phủ Hà Trung phủ có 4 huyện: Hoằng Hóa, Thuần Lộc (Hậu Lộc), Nga Sơn, Tống Sơn.
  • Phủ Tĩnh Gia có 3 huyện: Nông Cống, Ngọc Sơn, Quảng Xương.
  • Phủ Thanh Đô có 4 châu và 1 huyện là huyện Thọ Xuân và các châu: Khai Na (Quan Da), Tàm (châu), Lương Chính (Lang Chánh), Sầm (châu) (nay thuộc Lào).
  • Phủ Trường Yên, nay là một phần tỉnh Ninh Bình, có 3 huyện: Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khang (Yên Khánh).
  • Phủ Thiên Quan (Nho Quan), ở phía Tây Bắc xứ Thanh, giáp với trấn Sơn Tây và trấn Sơn Nam, nay thuộc các tỉnh Ninh BìnhHòa Bình, có 3 huyện: Phụng Hóa, Yên Hóa, Lạc Thổ (Lạc Sơn).[6]

Sau khi nhà Nguyễn lên nắm quyền, vào năm Gia Long thứ nhất (1802), đổi gọi là trấn Thanh Hóa. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), đổi trấn thành tỉnh, bắt đầu gọi là tỉnh Thanh Hoa (Hoa: tinh hoa). Đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), lại đổi thành tỉnh Thanh Hóa.[7] Tên gọi Thanh Hóa không đổi từ đó cho tới ngày nay.

Thời kỳ hiện đại (sau năm 1945 đến nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các cấp hành chính là châu, phủ, quận được bãi bỏ. Tỉnh Thanh Hóa lúc này có 21 đơn vị hành chính gồm thị xã Thanh Hóa và 20 huyện: Bá Thước, Cẩm Thủy, Đông Sơn, Hà Trung, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Lang Chánh, Nga Sơn, Ngọc Lặc, Như Xuân, Nông Cống, Quan Hóa, Quảng Xương, Thạch Thành, Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Thường Xuân, Tĩnh Gia, Vĩnh Lộc, Yên Định.

Ngày 16 tháng 12 năm 1964, huyện Triệu Sơn được thành lập trên cơ sở tách 13 xã thuộc huyện Thọ Xuân và 20 xã thuộc huyện Nông Cống[8]

Ngày 5 tháng 7 năm 1977, hợp nhất 2 huyện Hà TrungNga Sơn thành huyện Trung Sơn; hợp nhất 2 huyện Vĩnh LộcThạch Thành thành huyện Vĩnh Thạch; hợp nhất 2 huyện Lang ChánhNgọc Lặc thành huyện Lương Ngọc; hợp nhất huyện Yên Định và 15 xã của huyện Thiệu Hóa ở tả ngạn sông Chu thành huyện Thiệu Yên; hợp nhất huyện Đông Sơn và 16 xã còn lại của huyện Thiệu Hóa ở hữu ngạn sông Chu thành huyện Đông Thiệu.[9]

Ngày 18 tháng 12 năm 1981, thành lập 2 thị xã Bỉm Sơn (tách ra từ huyện Trung Sơn) và Sầm Sơn (tách ra từ huyện Quảng Xương).[10]

Ngày 30 tháng 8 năm 1982, chia các huyện Lương Ngọc, Trung Sơn, Vĩnh Thạch thành các huyện như cũ; đổi tên huyện Đông Thiệu thành huyện Đông Sơn nhưng vẫn giữ nguyên địa giới như cũ.[11]

Ngày 1 tháng 5 năm 1994, chuyển thị xã Thanh Hóa thành thành phố Thanh Hóa.[12]

Ngày 18 tháng 11 năm 1996, thành lập 3 huyện: Quan Sơn, Mường Lát (tách ra từ huyện Quan HóaNhư Thanh (tách ra từ huyện Như Xuân; tái lập huyện Thiệu Hóa trên cơ sở tách 16 xã thuộc huyện Đông Sơn ở hữu ngạn sông Chu và 15 xã thuộc huyện Thiệu Yên ở tả ngạn sông Chu; đổi tên huyện Thiệu Yên thành huyện Yên Định.[13]

Dân cư[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Dân cư Thanh Hóa

Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, Thanh Hóa có 3.400.239 người, đứng thứ ba Việt Nam, chỉ sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.[14]

Trong tổng dân số năm 2009, nữ giới có 1.717.067 người, dân số thành thị là 354.880 người. Mật độ dân số vào loại trung bình: giảm từ 310 người/km² (năm 1999) xuống 305 người/km² (năm 2009). Tỉ số giới tính (số nam trên 100 nữ) tăng từ 95,6% (năm 1999) lên 98,0% (năm 2009), tương đương với mức chung của cả nước.[14]

Thanh Hóa là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, nhưng chủ yếu có 7 dân tộc là Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú. Người Kinh chiếm phần lớn dân số của tỉnh và có địa bàn phân bố rộng khắp, các dân tộc khác có dân số và địa bạn sống thu hẹp hơn.

Dân số các dân tộc chủ yếu
tỉnh Thanh Hóa
Kinh Mường Thổ Khơ Mú Thái Mông Dao
Dân số (người) 2.898.311 328.744 8.980 607 210.908 15.325 5.077
Địa bàn cư trú Khắp tỉnh Các huyện: Ngọc Lặc,Cẩm Thủy,
Thạch Thành, Bá Thước
Huyện Như Xuân Bản Đoàn Kết, xã Tén Tằn và
bản Suối Lách, xã Mường Chanh, Mường Lát
Quan Hóa,Quan Sơn,
Bá Thước,Lang Chánh
Xã Pù Nhi, huyện Mường Lát Các huyện: Ngọc Lặc, Cẩm Thủy
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam[15]


Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Hóa có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, chỉ đứng sau thành phố Hà Nội. Thanh Hóa có 1 thành phố 2 thị xã và 24 huyện. Có 639 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 22 phường, 30 thị trấn và 587 xã.

Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Tên Diện tích (2008), km² [16] Dân số (2009)[17]
Thành phố
Thanh Hóa 57,94 210.844
Thị xã
Bỉm Sơn 67,01 54.148
Sầm Sơn 17,89 54.109
Huyện
Bá Thước 775,22 96.412
Cẩm Thủy 425,83 100.425
Đông Sơn 106,41 102.765
Hà Trung 244,50 107.798
Hậu Lộc 143,67 165.470
Hoằng Hóa 224,73 246.309
Lang Chánh 586,59 45.417
Mường Lát 814,61 33.614
Nga Sơn 158,29 135.805
Tên Diện tích (2008), km² [16] Dân số (2009)[17]
Ngọc Lặc 495,53 129.119
Như Thanh 588,29 85.152
Như Xuân 719,95 64.303
Nông Cống 286,53 183.074
Quan Hóa 990,14 43.855
Quan Sơn 930,17 35.428
Quảng Xương 227,80 256.351
Thạch Thành 559,20 136.264
Thiệu Hóa 175,67 176.994
Thọ Xuân 300,10 213.066
Thường Xuân 1.112,23 83.241
Tĩnh Gia 458,29 214.420
Triệu Sơn 292,31 195.286
Vĩnh Lộc 158,03 80.227
Yên Định 216,48 155.112
Bản đồ

Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa


Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng đài vua Lê Lợi.

Văn hóa, văn nghệ dân gian[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Thanh Hóa có nhiều hình thức văn hóa truyền thống, phần nhiều vẫn còn tồn tại và đang được phát huy. Về dân ca, dân vũ, được nhiều người biết đến nhất là các làn điệu hò sông Mã, dân ca, dân vũ Đông Anh, trò diễn Xuân Phả. Ngoài ra còn có ca trù, hát xoan... Các dân tộc ít người cũng có nhiều loại hình văn nghệ dân gian khá đa dạng như hát xường của người Mường, khắp của người Thái...

Kho tàng truyện cổ cũng khá đặc sắc như truyện cổ về sự tích về các ngọn núi, truyện dân gian của ngư dân ven biển Hậu Lộc, Sầm Sơn, Tĩnh Gia. Đặc biệt là các sự tích về nguồn gốc dân tộc Mường.

Các lễ hội cũng rất đặc sắc như lễ hội Pôồn Pôông của người Mường, lễ hội cầu ngư, lễ hội đền Sòng...

Văn nghệ đương đại[sửa | sửa mã nguồn]

Văn nghệ thời kì sau cách mạng tháng Tám ở Thanh Hóa có các nhà thơ Hồng Nguyên, Hữu Loan, Nguyễn Bao, Nguyễn Duy, nhà văn Triệu Bôn... Trong thời kì chiến tranh chống Mỹ những năm 1960-1975, địa danh Hàm Rồng là đề tài của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật.

Những năm thời kỳ đổi mớiPhùng Gia Lộc là tên tuổi nổi bật viết về nông thôn Thanh Hóa, trong đó Cái đêm hôm ấy... đêm gì[1] là bút ký gây được tiếng vang trên văn đàn nước nhà.

Một số tác phẩm thơ viết về quê hương Thanh Hóa như: Về lại xứ Thanh (Phan Quế), Về với Sầm Sơn (Hà Hồng Kỳ), Quê Mẹ (Lưu Đình Long), Quê tôi đấy - Xứ Thanh! (Văn Công Hùng), Dô tả, dô tà (Mạnh Lê), Mẹ Tơm (Tố Hữu), Trụ cầu Hàm Rồng (Mã Giang Lân).

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Hóa nổi tiếng hiếu học từ xưa, quê hương của nhiều nho sĩ. Trong thời kì phong kiến Thanh Hóa có 2 trạng nguyên, hàng trăm tiến sĩ, bảng nhãn, thám hoa (xếp thứ 7 toàn quốc sau Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội, Nam Định,Hải Phòng, Hưng Yên).[18]

Nền giáo dục hiện tại của Thanh Hóa cũng luôn được xem là cái nôi nhân tài của Việt Nam. Năm 2008, trong kì thi tuyển sinh Cao đẳng và Đại học, Thanh Hóa có nhiều thủ khoa nhất nước.[19]

Trên địa bàn Thanh Hóa đến năm 2010 có 2 trường đại học đào tạo đa ngành là Đại học Hồng Đức và một cơ sở của Trường Đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, 1 trường dự bị đại học, 5 trường cao đẳng, nhiều trường trung cấp, 125 trường Trung học phổ thông và 25 trung tâm giáo dục thường xuyên.

Thể thao[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Hóa là tỉnh có truyền thống về các môn thể thao: Điền kinh, bơi lội, Bắn súng, các môn võ thuật nữ, vật, cầu mây nữ, cầu lông nữ, bóng chuyền nữ, bóng đá nam... Thanh Hóa cung cấp nhiều vận động viên cho các đội tuyển quốc gia của Việt Nam.[cần dẫn nguồn]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Thanh Hóa về đêm

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như Việt Nam, nền công nghiệp Thanh Hóa đang phát triển. Theo số liệu của tổng cục thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2009, chỉ số phát triển công nghiệp của toàn tỉnh tăng 8,2%, đây là mức tăng cao so với mức tăng bình quân của cả nước là 4,6% (trong đó TP Hồ Chí Minh và Hà Nội chỉ tăng ở mức thấp là 0,4% và 2,7%).[20] Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Thanh Hóa xếp ở vị trí thứ 24/63 tỉnh thành.[21]

Tính đến thời điểm năm 2009, Thanh Hóa có 5 khu công nghiệp tập trung và phân tán:

Hiện tại Thanh Hóa đang xây dựng khu kinh tế Nghi Sơn. Khu kinh tế này được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập và ban hành quy chế hoạt động số 102/2006/QĐ-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2006. Khu kinh tế này nằm ở phía Nam của tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội 200 km, có đường bộ và đường sắt quốc gia chạy qua, có cảng biển nước sâu cho tàu có tải trọng đến 30.000 DWT cập bến. Khu kinh tế Nghi Sơn là một trung tâm động lực của vùng Nam Thanh Bắc Nghệ đang được quy hoạch, cũng được đánh giá là trọng điểm phát triển phía Nam của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, đồng thời là cầu nối giữa vùng Bắc Bộ với Trung Bộ, với thị trường Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan.

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thống kê đến năm 2004, toàn tỉnh có 239.843 ha đất nông nghiệp đang được sử dụng khai thác.

  • Năm 2002, tổng sản lượng lương thực cả tỉnh đạt 1,408 triệu tấn
  • Năm 2003, tổng sản lượng nông nghiệp cả tỉnh đạt 1,5 triệu tấn: nguyên liệu mía đường 30.000 ha; cà phê 4.000 ha; cao su 7.400 ha; lạc 16.000 ha; dứa 1.500 ha; sắn 7.000 ha; cói 5.000 ha...[cần dẫn nguồn]

Lâm nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Hóa là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất có rừng 436.360 ha, trữ lượng khoảng 15,84 triệu m³ gỗ, hàng năm có thể khai thác 35.000-40.000 m³ (thời điểm số liệu hiện tại năm 2007). Rừng Thanh Hóa chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ thực vật phong phú, đa dạng về họ, loài. Gỗ quí hiếm có lát, pơ mu, sa mu, lim xanh, táu, sến, vàng tâm, giổi, de, chò chỉ. Các loại thuộc họ tre nứa gồm có: luồng, nứa, vầu, giang, tre, ngoài ra còn có: mây, song, dược liệu, quế, cánh kiến đỏ... các loại rừng trồng có luồng, thông nhựa, mỡ, bạch đàn, phi lao, quế, cao su. Nhìn chung vùng rừng giàu và trung bình chủ yếu là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, phân bố trên các dãy núi cao ở biên giới Việt - Lào. Thanh Hóa là tỉnh có diện tích luồng lớn nhất trong cả nước với diện tích trên 50.000 ha.

Rừng Thanh Hóa cũng là nơi quần tụ và sinh sống của nhiều loài động vật như: voi, hươu, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng, các loài bò sát và các loài chim... Đặc biệt ở phía nam của tỉnh có vườn quốc gia Bến En, phía bắc có vườn quốc gia Cúc Phương, phía tây bắc có khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luôngkhu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, phía tây nam có khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên là những nơi tồn trữ và bảo vệ các nguồn gien, động vật, thực vật quý, đồng thời là những điểm du lịch hấp dẫn.

Ngư nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngư nghiệp Thanh Hóa có nhiều điều kiện phát triển

Thanh Hóa có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với những bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn, thuận lợi cho tàu thuyền ra vào. Vì vậy Thanh Hóa có điều kiện phát triển ngư nghiệp rất tốt.

Dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngân hàng[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh Ngân hàng Nhà nước, hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh gồm Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Chính sách. Hiện nay, các ngân hàng đang thực hiện đổi mới và đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, áp dụng các công nghệ tiên tiến trong việc chuyển phát nhanh, thanh toán liên ngân hàng, thanh toán quốc tế bảo đảm an toàn và hiệu quả. Tổng nguồn vốn huy động tín dụng hàng năm đạt trên 3.000 tỷ đồng, tổng dư nợ năm 2002 đạt trên 4.000 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2001.

Thương mại dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, thương mại Thanh Hóa đã có bước phát triển quan trọng. Trên địa bàn đã hình thành hệ thống bán buôn, bán lẻ với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, tạo điều kiện lưu thông thuận tiện hàng hóa phục vụ nhu cầu đời sống, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Kim ngạch xuất khẩu tăng đều qua các năm, năm 2000 đạt trên 30 triệu USD, năm 2001 đạt 43 triệu USD và năm 2002 đạt 58 triệu USD. Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, bên cạnh thị trường Nhật Bản, Đông Nam Á, một số doanh nghiệp đã xuất khẩu sang Mỹ, Châu Âu. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh là: nông sản (lạc, vừng, dưa chuột, hạt kê, ớt, hạt tiêu, cà phê...), hải sản (tôm, cua, mực khô, rau câu), hàng da giày, may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ (các sản phẩm mây tre, sơn mài, chiếu cói...), đá ốp lát, quặng crôm...

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Hóa là một trong những tỉnh có đầy đủ hệ thống giao thông cơ bản là đường sắt, đường bộ đường thủy và đường không. Trên toàn tỉnh có 8 ga tàu hỏa là Bỉm Sơn, Đò Lèn, Nghĩa Trang, Hàm Rồng, Thanh Hóa, Yên Thái, Minh Khôi, Thị Long trong đó có một ga chính trong tuyến đường sắt Bắc Nam, 4 tuyến đường bộ huyết mạch của Việt Nam (quốc lộ 1A, quốc lộ 45, quốc lộ 47, và đường Hồ Chí Minh), trong đó quốc lộ 47 dài 61 km, quốc lộ 1A chạy qua Thanh Hóa dài 123 km [cần dẫn nguồn]; một cảng nước sâu. Thanh Hóa có sân bay Thọ Xuân đã khai thác vào ngày 05/2/2013 [22]. Các dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam, đường cao tốc Bắc Nam đều đi qua Thanh Hóa.

Đến năm 2013, Thanh Hóa đã phát triển mạng lưới xe buýt gồm 18 tuyến ở khu vực đồng bằng và một phần các huyện miền núi trong tỉnh.[23]


Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Du lịch Thanh Hóa
Suối cá tại chân núi Trường Sinh thuộc bản Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy (cách trung tâm TP Thanh Hóa hơn 70 km về phía Tây Bắc) là một điểm du lịch nổi tiếng thu hút khách du lịch và các nhà nghiên cứu.

Thanh Hóa là tỉnh có tiềm năng về du lịch. Năm 2007 du lịch Thanh Hóa năm đón tiếp gần 1,7 triệu lượt khách, chủ yếu là khách trong nước đến tham quan nghỉ mát tại đô thị du lịch biển Sầm Sơn.

Hiện tại, tỉnh Thanh Hóa xác định đưa du lịch thành ngành kinh tế quan trọng. Tỉnh đã thực hiện quy hoạch hạ tầng, nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch. Năm 2007, Thanh Hóa phối hợp với Hà Nội, Ninh Bình, Nghệ An, Huế trong chương trình "Hành trình một nghìn năm các kinh đô Việt Nam". Phối hợp cùng Nghệ AnNinh Bình lập định hướng quy hoạch vùng du lịch trọng điểm Bắc Trung Bộ.

Các khu du lịch, di tích lịch sử và danh thắng nổi tiếng của tỉnh:

Bãi biển Sầm Sơn
  • Các khu bảo tồn thiên nhiên:
  • Suối cá thần Cẩm Lương: Thuộc làng Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, cách thành phố Thanh Hóa hơn 70 km về phía Tây, là suối cá tự nhiên và ngày nay trở thành điểm du lịch lý thú của tỉnh Thanh Hoá. Ở đây có tới hàng ngàn con cá lớn nhỏ bám dày đặc suốt chiều dài hơn 100 m của con suối. Mỗi con cá nặng trung bình từ 2 đến 8 kg, có cá chúa nặng tới 30 kg. Cá ở đây rất dạn người và thân thiện với khách du lịch. Mặc dù rất nhiều cá nhưng điều kỳ lạ là nước suối rất trong và mát, thậm chí khách có thể dùng để rửa mặt. Người dân ở đây tôn thờ những chú cá như các vị thần (là nguồn gốc của tên gọi "Suối cá thần"), mặc dù rất nhiều cá nhưng không ai dám bắt ăn, người ta truyền miệng nhau rằng nếu ăn thịt các ông "cá thân" thì sẽ gặp phải những điều rủi ro, bất hạnh.
  • Cụm di tích thành nhà Hồ, gồm thành Tây Đô (thuộc địa phận 2 xã: Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 50 km) và các di tích kề cận như đàn Nam Giao, động Tiên Sơn (thuộc xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc)...
  • Khu di tích lịch sử Lam Kinh: Thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, cách thành phố Thanh Hóa 50 km về phía Tây. Hiện còn lưu giữ các điêu khắc đá như bia Vĩnh Lăng (Lê Lợi), bia hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao, các di tích cung điện thành nội, thành ngoại, sân Rồng...
  • Thái miếu nhà Hậu Lê: thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, có 27 thần vị và có nhiều hiện vật có từ thế kỷ 17, 18.
    Cầu Hàm Rồng
  • Đền Bà Triệu, huyện Hậu Lộc.
  • Đền thờ Lê Hoàn, huyện Thọ Xuân.
  • Khu di tích lịch sử Phủ Trịnh và chùa Báo Ân, đã được xếp hạng cấp quốc gia.
  • Đền thờ, lăng mộ cụ Lê Văn Hưu ở xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa cách TP Thanh Hóa 12 km.
  • Khu lăng miếu Triệu Tường, huyện Hà Trung, nơi phát tích triều Nguyễn.
  • Phủ Na (xã Xuân Du huyện Như Thanh), đền Sòng (Bỉm Sơn).
  • Khu di chỉ, khảo cổ văn hóa Đông Sơn.
  • Khu di tích Hàm Rồng: gồm cầu Hàm Rồng (một biểu tượng thời Chiến tranh Việt Nam), đồi Quyết Thắng.
  • Tòa Giám mục công giáo Thanh Hóa, chùa Thanh Hà, chùa Chanh và chùa Mật Đa (thành phố Thanh Hóa).
  • Thác Muốn, Điền Quang, Điền Lư, Bá Thước
  • Suối cá Văn Nho,Bá Thước
  • Khu du lịch tâm linh Đền Phố Cát (Thạch Thành)

Ẩm thực - Đặc sản[sửa | sửa mã nguồn]

Bánh đa biển, đặc sản Hậu Lộc

Đến Thanh Hóa du khách sẽ được thưởng thức những món đặc sản độc đáo nổi tiếng cả nước của xứ Thanh như: nem chua Thanh Hóa, chè lam Phủ Quảng, dê núi đá, gà đồi (của huyện Vĩnh Lộc), bánh gai Tứ Trụ (của huyện Thọ Xuân), các món chế biến từ hến làng Giàng (huyện Thiệu Hóa), bánh đa cầu Bố (thành phố Thanh Hóa), mía đen Kim Tân, thịt trâu nấu lá lồm, chim mía (huyện Thạch Thành), hay các món hải sản: cua biển, ghẹ, sò huyết, tôm, mực, cá thu, cá tràu từ các huyện ven biển Sầm Sơn, Tĩnh Gia, Nga Sơn.[24]

Món đặc sản của Thanh Hóa được du khách thập phương biết đến nhiều nhất có lẽ là nem chua. Nem chua Thanh Hóa được làm từ thịt nạc, bì thái chỉ, hạt tiêu, ớt, tỏi và lá đinh lăng, gói bên ngoài bởi rất nhiều lớp lá chuối. Thịt nạc được chọn là loại thật nạc, ngon, tươi, không dính mỡ, không dính gân, trộn đều với bì luộc thái chỉ, gia vị. Không thể thiếu một chút ớt cho thêm đậm đà, tiêu để dậy mùi, một chút tỏi để khử trùng và một vài lá đinh lăng. Nem chua Thanh Hóa có hương vị rất khác lạ so với nem chua Hà Nội hay nem lụi ở Huế, lại càng khác xa với nem rán hay nem tai. Nó có vị chua, cay, ngọt, mặn và dậy mùi thơm khiến du khách đã ăn một lần khó có thể quên.[25]

Nhân vật nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Thời phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bà Triệu (226 - 248)
  • Triệu Quốc Đạt
  • Dương Đình Nghệ (chữ Hán: 楊廷藝; có sách chép là Dương Diên Nghệ 楊延藝, ?-937) là người khởi binh đánh đuổi quân Nam Hán giải phóng thành Đại La, giành quyền tự chủ cho đất nước Việt được 6 năm.

Dương Đình Nghệ vốn là một hào trưởng, người làng Giàng, nay thuộc xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

  • Lê Hoàn (941 - 1005)
  • Đào Cam Mộc, sinh năm 942, mất năm 1015 ở làng Lang Thôn, xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Qua những tài liệu tìm được cho thấy, Thái sư Á Vương Đào Cam Mộc là người có công trong việc tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua, là người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng triều Lý - một triều đại thái bình thịnh trị trong lịch sử dân tộc. Ông cũng là người có những đóng góp cho cuộc dời đô lịch sử từ Hoa Lư ra Thăng Long. Ông được Lý Công Uẩn tặng đôi câu đối "Lý triều định đô vương tứ phúc/Đào trạng văn quan Quốc ân thân" để ghi nhận công lao của Ông một người họ Đào giúp vua, giúp nước.
  • Đào Tiêu đỗ Trạng nguyên khoa tháng hai, Ất Hợi, năm Bảo Phù thứ 3 (1275), đời Trần Thánh Tông. Quê gốc của ông ở xã Phủ Lý, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, nhưng sinh ra và lớn lên ở Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Năm Ất Hợi,niên hiệu Bảo Phù thứ 3 (1275) đời vua Trần Thánh Tông, ông thi đỗ danh hiệu Trại Trạng nguyên (những trạng nguyên có quê quán từ Thanh Hóa trở vào).

Sau khi ông mất, vua đã phong phúc thần cho ông[1].

  • Lê Văn Hưu (1230 - 1322)
  • Lê Lợi
  • Lê Lai
  • Lê Thánh Tông (1442 - 1497)
  • Lê Duy Mật
  • Lê Quát
  • Đỗ Hành
  • Lê Văn Linh
  • Đinh Lễ
  • Lê Thạch
  • Hoàng Ðình Ái (1527 - 1607;Quê ở Biện Thượng huyện Vĩnh Lộc, có công lao lớn trong cuộc trung hưng nhà Lê: bắt sống đại tướng Nguyễn Quyện, lấy lại Ðông Kinh.
  • Phạm Bành (1825 - 1887;Quê ở làng Trương Xá, xã Hoà Lộc (Hậu Lộc), đỗ cử nhân năm 1864, cůng Ðinh Công Tráng xây dựng căn cứ và là một trong những lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Ba Ðình.
  • Lương Ðắc Bằng (1472 - ?;Người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hoá. Lúc bé đã nổi tiếng thần đồng, năm 27 (hoặc 28) tuổi đỗ hội nguyên, thi đình đỗ nhất giáp tiến sĩ, tên thứ 2 (tức bảng nhãn). Ông làm quan đến thượng thư Bộ lại, được tham dự triều chính, tước Ðôn Trung Bá. Ông còn là nhà giáo mẫu mực, là thầy dạy của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đào tạo nhiều nhân tài học thức cho xứ Thanh và đất nước.
  • Lưu Ðình Chất (1566 - 1627)
  • Nguyễn Chích (1382 - 1448)
  • Nguyễn Hữu Dật (1604 - 1681)
  • Hoàng Bật Ðạt (1842 - 1887)
  • Ðinh Củng Viên (?- 1294)
  • Phạm Vấn (?- 1435)
  • Trịnh Thị Ngọc Trúc(?;Là con gái Trịnh Tráng,là chính cung hoàng hậu của vua Lê Thần Tông (1619
  • Cầm Bá Thước (1853 - 1895)
  • Trịnh Duy Thuân (? - 1542)
  • Nguyễn Thu (1799 - 1855)
  • Nguyễn Mậu Tuyên (1518-1599)
  • Trịnh Tuê (còn gọi là Trịnh Huê) (1704 - ?)
  • Nguyễn Mộng Tuân (TK XV)
  • Trịnh Tùng (1546 - 1623)
  • Lê Bật Tứ (1562 - 1627)
  • Ðào Duy Từ (1572 - 1634)
  • Lê Trạc Tú (?)
  • Nguyễn Ðôn Tiết (1836 - ?)
  • Tống Duy Tân (1837 - 1892)
  • Lê Tắc (TK XIV)
  • Ðại Thặng Ðăng (Pháp danh) (TK VIII)
  • Cao Ðiển (1853 - 1896)
  • Trần Hạng (1372 - 1399)
  • Nguyễn Hữu Hào (1647 - 1713)
  • Lê Hy (1646 - 1702)
  • Nguyễn Hiệu (1664 - 1735)
  • Lê Phụng Hiểu (? - ?)
  • Nguyễn Hoàn (1713 - 1791)
  • Nguyễn Hoàng (1524 - 1613)
  • Hà Tông Huân (1697 - 1790)
  • Trịnh Khả (1399 - 1451)
  • Lương Hữu Khánh (TK XVI)
  • Nguyễn Kim (? - 1545)
  • Lê Ðình Kiên (1620 - 1704)
  • Trịnh Kiểm (1503 - 1570)
  • Lê Khôi (?- 1446)
  • Nhữ Bá Sĩ (1787 - 1867)
  • Trần Xuân Soạn (1849 - 1923)
  • Lê Thị Hoa (TK I)
  • Trạng Quỳnh
  • Các chúa Nguyễn và vua nhà Nguyễn
  • Các chúa Trịnh
  • Lê Ngọc Hân
  • Đinh Công Tráng
  • Phạm Bành
  • Tôn Thất Thuyết
  • Mai Anh Tuấn
  • Cầm Bá Thước

Sau thời phong kiến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Triệu Bôn: nhà văn
  • Hữu Loan: nhà thơ
  • Nguyễn Duy: nhà thơ
  • Tô Vĩnh Diện
  • Lê Mã Lương
  • Ngô Thị Tuyển
  • Nguyễn Bá Ngọc
  • Mẹ Tơm

Quan chức[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lê Khả Phiêu: nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
  • Tô Huy Rứa, UV Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương
  • Phạm Quang Nghị, UV Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội
  • Trung tướng Mai Quang Phấn, UVTW Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND Việt Nam
  • Nguyễn Thị Hằng, Nguyên Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH
  • Lê Huy Ngọ, Nguyên Bộ trưởng NN&PTNT.
  • Nguyễn dy Niên nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao
  • Trịnh Trọng Quyền, Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thanh Hóa
  • Trung tướng Phạm Minh Chính, Ủy viên Trung ương Đảng-Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh
  • Lê Tiến Thọ, Nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa
  • Lê Duy Đồng, Nguyên Thứ trưởng Bộ Bộ LĐTB&XH
  • Trung tướng Đồng Đại Lộc, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục CSQLHC về TTATXH-Bộ Công an
  • Trung tướng Nguyễn Xuân Mười, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục XDLL-Bộ Công an
  • Lê Đình Thọ, Thứ trưởng Bộ Giao thông-Vận tải
  • Trung tướng Lê Văn Đệ, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục XDLL-Bộ Công an
  • Lê Lương Minh,Tổng Thư Kí ASEAN,nhiệm kì 2013-2017

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2011 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 30 tháng 9 năm 2012. 
  2. ^ a ă “Tổng quan về Thanh Hóa”. Trang web Thanh Hóa. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  3. ^ “Dân số và mật độ dân số năm 2009 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  4. ^ “Dân số thành thị trung bình phân theo địa phương(*)”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  5. ^ a ă “Lịch sử Thanh Hóa thời Trần-Hồ”. Trang web Thanh Hóa. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  6. ^ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, tập 1, dư địa chí, quyển II, trang 42-62.
  7. ^ Do tránh phạm húy Hoàng Thái Hậu Hồ Thị Hoa. Nhiều địa danh ở miền Nam tránh gọi chữ Hoa như chợ Đông Hoa đổi thành chợ Đông Ba, người dân không gọi hoa mà thay bằng bông, cầu Hoa cũng đổi thành cầu Bông
  8. ^ Quyết định 177-CP năm 1964 về việc thành lập huyện Triệu Sơn
  9. ^ Quyết định 177-CP năm 1977 về việc hợp nhất và điều chỉnh địa giới một số huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa
  10. ^ Quyết định 157-HĐBT năm 1981 về việc thành lập thị xã thuộc tỉnh Thanh Hóa
  11. ^ Quyết định 149-HĐBT năm 1982 về việc phân vạch địa giới một số huyện và đổi tên huyện Đông Thiệu thuộc tỉnh Thanh Hóa
  12. ^ Nghị định 37-CP năm 1994 về việc thành lập thành phố Thanh Hóa thuộc tỉnh Thanh Hóa
  13. ^ Nghị định 72-CP năm 1996 về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Quan Hoá, Như Xuân, Đông Sơn, Thiệu Yên thuộc tỉnh Thành Hóa
  14. ^ a ă Tổng cục Thống kê Việt Nam. “Kết quả sơ bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009”. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  15. ^ Tổng cục Thống kê Việt Nam. “Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999”. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  16. ^ a ă Theo Quyết định số 2097/QĐ-BTNMT ngày 29/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt và công bố kết quả thống kê diện tích đất đai năm 2008.
  17. ^ a ă Ban chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương (2010). Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 - Kết quả điều tra toàn bộ. Hà Nội: NXB Thống kê. 
  18. ^ Trạng nguyên Việt Nam#Thống kê
  19. ^ “Thanh Hóa lập kỷ lục số thủ khoa đại học”. VnExpress. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2009. 
  20. ^ Tổng cục Thống kê Việt Nam. “Công nghiệp”. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  21. ^ “PCI 2011: Lào Cai và Bắc Ninh 'vượt vũ môn' ngoạn mục”. Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012. 
  22. ^ Khai trương sân bay Thọ Xuân
  23. ^ Quyết định số 1220/QĐ-UBND ngày 15/04/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt Quy hoạch phát triển vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn 2013-2020.
  24. ^ Ẩm thực xứ Thanh
  25. ^ Nem chua Xứ Thanh

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]