Đá hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đá hoa.
Taj Mahal, lăng mộ nổi tiếng bằng đá hoa.
Các hoa văn tự nhiên trên bề mặt được đánh bóng của đá hoa thể hiện một thành phố hoặc rừng cây (xem ảnh).
Đá hoa màu trắng sữa được cắt ra thành khối, Colorado.
Cổng bằng đá hoa màu đen (Dębnik) (thế kỷ 17) của nhà thờ St. Wojciech ở Kraków.
Đá hoa Italy.

Đá hoa, còn gọi là cẩm thạch, là một loại đá biến chất từ đá vôi có cấu tạo không phân phiến. Thành phần chủ yếu của nó là canxit (dạng kết tinh của cacbonat canxi, CaCO3). Nó thường được sử dụng để tạc tượng cũng như vật liệu trang trí trong các tòa nhà và một số dạng ứng dụng khác. Từ đá hoa (marble) cũng được sử dụng để chỉ các loại đá có thể làm tăng độ bóng hoặc thích hợp dùng làm đá trang trí[1].

Thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Từ "marble" trong tiếng Anh xuất phát từ tiếng Hi lạp μάρμαρον (cẩm thạch)[2] và từ μάρμαρος (marmaros), "đá kết tinh", "đá sáng chói"[3][4], có lẽ từ động từ μαρμαίρω (marmairō), "cháy sáng, lóng lánh, phát ra ánh sáng mờ"[5]. Thuật ngữ này cũng là từ cơ bản trong tiếng Anh "marmoreal" có nghĩa "giống đá hoa" (giống cẩm thạch).

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Đá hoa là kết quả của quá trình biến chất khu vực hoặc hiến khi gặp trong biến chất tiếp xúc từ các đá trầm tích cacbonat như đá vôi hoặc đá dolomit, hay biến chất từ đá hoa có trước. Quá trình biến chất làm cho đá ban đầu bị tái kết tinh hoàn toàn tạo thành cấu trúc khảm của các tinh thể canxit, aragonit hay dolomit. Nhiệt độ và áp suất cần thiết để hình thành đá hoa thường phá hủy các hóa thạch và cấu tạo của đá trầm tích ban đầu.

Đá hoa tinh khiết màu trắng là kết quả biến chất từ đá vôi rất tinh khiết. Các đặc điểm vân và viền có nhiều màu sắc khác nhau của đá hoa thường do các tạp chất tạo nên như sét, bột, cát, ôxít sắt, hoặc đá phiến silic, các loại này là những hạt hoặc các lớp nguyên thủy có mặt trong đá vôi. Màu xanh lục thường do sự có mặt của xecpentin, tạo ra từ đá vôi giàu magiê hoặc dolomit có chứa tạp chất silica. Các loại tạp chất khác nhau được di chuyển và tái kết tinh bởi áp suất và nhiệt độ cao của quá trình biến chất.

Các loại đá hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Có một số loại đá hoa quan trọng được đặt tên sau vị trí mỏ đá, như

Đá hoa Màu Nơi Quốc gia/Khu vực
Trắng Bắc Kinh Trắng Trung Quốc
Đá hoa đen Basque Tây Ban Nha
Đá hoa đen Dębnik Ba Lan
Đá hoa đen Kilkenny Ireland
Trắng Malagori Pakistan
Boticena và Onyx (lục) Pakistan
Brač Đảo Brač Croatia
Đá hoa nâu Chęciny Ba Lan
Đá hoa Carrara trắng hoặc xám xanh Carrara Italia
Đá hoa Connemara Lục Connemara Ireland
Đá hoa Danby Danby Vermont, Hoa Kỳ
Đá hoa Durango Mỏ đá Coyote México
Fauske Na Uy
Hồng Llano Trung Texas
Đá hoa Luni Luni Italia
Macael Tây Ban Nha
Makrana Trắng xám Ấn Độ
Đá hoa Katni
Đá hoa lục Ấn Độ
Nabresina Trieste Ý
Đá hoa Paros trắng trong đến mờ hạt mịn Đảo Paros Hy Lạp
Đá hoa Penteli Trắng đồng nhất không vết nứt, vàng nhạt Penteli Hy Lạp
Đá hoa Proconnesus Đảo Marmara Thổ Nhĩ Kỳ
Đá hoa đỏ Ruşchiţa România
Rouge de Rance Đỏ Rance Bỉ
Trắng hoàng gia Trắng Trung Quốc
Đá hoa Ruskeala Trắng, xám, đen Ruskeala Phần Lan/Nga
Thassos Trắng tuyết, trắng,
trắng xám, trắng có viền hồng
Đảo Thassos Hy Lạp
Trắng Vencac Trắng Arandjelovac Serbia
Trắng Việt Nam Trắng xám Việt Nam
Yule Màu trắng tinh khiết Marble, Colorado Colorado, Hoa Kỳ

Đá hoa trắng, như Carrara ở Italia, Trắng hoàng gia và Trắng BắC Kinh ở Trung Quốc và Malagori của Pakistan, đã được trao giải cho các tác phẩm điêu khắc cổ điển. Các tác phẩm này phải thực hiện với loại đá mềm và tương đối đồng nhấtđẳng hướng, và khó vỡ. Hệ số khúc xạ thấp của canxit cho phép ánh sáng đi qua vài mm trong đá trước khi tán xạ ra ngoài tạo ra đặc tính giống sáp vì thế các tượng làm bằng đá hoa mang sức sống của cơ thể con người.

Đá hoa trong xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong xây dựng, đặc biệt trong thương mại đá hoa dạng khối (đá khối) là thuật ngữ được dùng để chỉ các loại đá canxít kết tinh (và một số loại đá không phải canxít) có thể sử dụng làm đá xây dựng. Ví dụ, "đá hoa Tennessee" là loại đá có chứa hóa thạch dạng hạt, tỷ trọng lớn có màu từ xám tới hồng hoặc hạt dẽ có nguồn gốc từ đá vôi tuổi kỷ Ordovic, được các nhà địa chất xếp vào hệ tầng Holston.

Đá hoa trong công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Các loại đá hoa không màu hoặc có màu nhạt thường có nguồn gốc từ cacbonat canxi tinh khiết, thường được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp. Đá hoa dạng hạt mịn hoặc bột cacbonat canxi là thành phần trong giấy, và trong các sản phẩm khác như kem đánh răng, nhựa, và sơn. Cacbonat canxi bột có thể được sản xuất từ đá vôi, đá phấn, và đá hoa; có khoảng 3/4 cacbonat canxi bột được sản xuất trên thế giới là từ đá hoa. Cacbonat canxi bột cũng được dùng làm chất tráng trên bề mặt của giấy bởi vì nó có độ tương phản cao và là giấy lọc vì nó làm tăng độ bền của tấm lọc. Cacbonat canxi bột cũng là các chất phụ gia cho thực phẩm như trong kem đánh răng, chất độn trơ trong thuốc uống. Nó được thêm vào trong các loại nhựa vì nó làm cho nhựa cứng hơn, ảnh hưởng độ bền, ổn định hình dạng và độ dẫn nhiệt. Trong công nghiệp sơn, nó là chất độn rất tốt, có độ tương phản cao, và chịu được thời tiết.

Cacbonat canxi khi nung sẽ tạo ra canxi ôxít (vôi), là thành phần cơ bản của các loại xi măng.

Đá hoa Mississippi ở Big Cottonwood Canyon, dãi núi Wasatch, Utah, Hoa Kỳ.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Theo USGS, Mỹ, sản lượng đá (hoa) khối năm 2006 là 46.400 tấn trị giá 18.1 triệu USD so với sản lượng năm 2005 là 72.300 tấn trị giá 18,9 triệu USD. Sản lượng đá hoa vụn (crushed marble) năm 2006 là 11,8 triệu tấn đạt giá trị 116 triệu USD, trong đó 6,5 triệu tấn dùng sản xuất cacbonat canxi mịn và phần còn lại được sử dụng trong xây dựng. Nếu tính trong năm 2005 thì sản lượng đá hoa vụn là 7,76 triệu tấn trị giá 58,7 triệu USD, trong đó 4.8 triệu tấn dùng sản xuất cacbonat canxi mịn và phần còn lại dùng trong xây dựng. Nhu cầu đá hoa khối của Mỹ khoảng 1,3 triệu tấn. Đá hoa khối lớn có thể dùng làm gạch lót nền hoặc ốp tường.

Đá hoa nhân tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Kỹ thuật trang trí đá hoa là kỹ thuật sơn trên tường tạo nên các hoa văn rất giống với đá hoa tự nhiên (cũng có một loại hoa văn tương tự nhưng làm bằng giấy). Bột đá hoa có thể được trộn với chất kết dính hoặc nhựa tổng hợp để tạo hoa văn của đá hoa.

Liên hệ với văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Như là một dụng cụ được các nhà điêu khắc và kiến trúc sư Hy LạpRoma ưa chuộng (xem điêu khắc thời cổ đại), đá hoa trở thành một biểu trưng văn hóa truyền thống và thể hiện khiếu thẩm mỹ tinh tế của họ. Sự đang dạng về hoa văn cũng như màu sắc của đá hoa làm nó trở thành một vật liệu trang trí rất được ưa chuộng. Những đặc điểm của nó cũng được đưa vào làm hình nền trên màn hình của máy tính...

Các địa danh được đặt theo tên của đá như: Marblehead, Ohio; Vòm đá hoa, Anh; biển Marmara; Marble Rocks,Ấn Độ; và các thị trấn Marble, Minnesota; Marble, Colorado; và Marble Hill, Manhattan, New York. Các đá hoa Elgin là các tác phẩm điêu khắc từ Parthenon được trưng bài trong Bảo tàng Anh Quốc. Chúng được bán cho nước Anh bởi Thomas Bruce.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Đá hoa giả được tạo ra như thế nào