Canxit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Canxit
Can xít khúc xạ đúp từ Dixon, New Mexico.
Thông tin chung
Thể loại Khoáng vật cacbonat
Công thức hóa học CaCO3
Tính đối xứng tinh thể Ba phương 32/m
Màu Không màu hoặc trắng, xám, vàng, xanh lá
Dạng thường tinh thể Dạng tinh thể, hạt, hình ống, kết thành khối, khối lớn, hình hộp mặt thoi.
Hệ tinh thể Hệ tinh thể ba phương mặt tam giác lệch sáu phương (32/m), Nhóm không gian (R3 2/c)
Song tinh Phổ biến bởi bốn định luật song tinh
Cát khai Hoàn hảo ở mặt [1011] 3 hướng với góc 74° 55' [1]
Vết vỡ Vỏ sò
Độ bền Giòn
Độ cứng Mohs 3
Ánh Ánh thủy tinh đến ánh ngọc trai ở các mặt cát khai
Màu vết vạch Trắng
Tính trong mờ Trong mờ đến trong suốt
Tỷ trọng riêng 2.71
Thuộc tính quang Một trục (-)
Chiết suất nω = 1.640 - 1.660 nε = 1.486
Khúc xạ kép δ = 0.154 - 0.174
Độ hòa tan Tan trong axit loãng
Các đặc điểm khác Có thể phát quang đỏ, xanh, vàng và các màu khác dưới tia sóng ngắn, dài, tia tử ngoại; lân quang
Tham chiếu [2][3][4]
Crystal structure of calcite

Canxit là khoáng vật cacbonat và là dạng bền nhất của Canxi cacbonat (CaCO3). Các dạng khác là khoáng vật aragonitevaterite. Aragonite sẽ chuyển thành calcite ở 470 C, vaterite còn kém bền hơn.

Tính chất[sửa | sửa mã nguồn]

Tinh thể canxit giới hạn ở hai đầu

Tinh thể canxit có dạng hình hộp thoi ba phương, mặc dù tinh thể canxit hình hộp thoi rất hiếm gặp trong tự nhiên. Tuy nhiên, chúng thể hiện tính chất đa dạng từ hình hộp thoi nhọn đến tù, dạng phẳng, lặng trụ, hoặc hình tam giác lệch. Canxit thể hiện một vài dạng song tinh bổ sung vào sự đa dạng về các dạng quan sát được. Nó có thể tồn tại ở thể sợi, hình hột, lá mỏng, hoặc khối đặc. Cát khai thường ở 3 hướng song song với dạng hình hộp thoi. Vết vỡ vỏ sò, nhưng khó để thu được. Độ cứng trên thang Mohs là 3, tỷ khối riêng là 2.71, ánh thủy tinh ở dạng tinh thể. Màu trắng hoặc không màu, mặc dù bóng có màu xám, đỏ, vàng, xanh, xanh lá, tím,, nâu, thậm chí cả đen khi khoáng vật có lẫn tạp chất.

Canxit trong mờ đến trong suốt và có thể phát quang hoặc phát lân tinh.

Tinh thể canxit đơn thể hiện tính chất quang học khúc xạ đúp. Hiện tượng này khiến cho các vật nhìn xuyên qua một miếng can xít trong sẽ khúc xạ kép. Hiện tượng này lần đầu tiên được mô tả bởi nhà khoa học Đan Mạch Rasmus Bartholin năm 1669. Ở bước sóng ~590 nm canxit có hệ số khúc xạ thường và bất thường là 1.658 và 1.486.[5] Giữa 190 và 1700 nm, hệ số khúc xạ thường biến thiên giữa 1.6 và 1.3, hệ số khúc xạ bất thường biến thiên giữa 1.9 và 1.5.[6]

Canxit, giống như phần lớn các muối carbonat, sẽ bị hòa tan trong phần lớn cá loại axit. Canxit có thể bị hòa tan bởi nước ngầm hoặc lắng đọng bởi nước ngầm, phụ thuộc vào một vài nhân tố trong đó có nhiệt độ nước, độ pH, và nồng độ ion hòa tan. Mặc dù canxit khá khó tan trong nước lạnh, axit có thể làm canxit tan và giải phóng khí carbon dioxit. Can xít thể hiện đặc tính bất thường, nó trở nên ít tan hơn trong nước khi nhiệt độ tăng. Khi điều kiện phù hợp để kết tủa, canxit tạo thành lớp phủ khoáng vật mà hàn gắn các hạt đá lại hoặc có thể lấp đầy các vết nứt. Khi điều kiện phù hợp để bị hòa tan, sự rửa trôi canxit có thể tăng đột ngột tính thấm, tính rỗng của đá, và nếu nó kéo dài trong một thời gian dài có thể tạo thành các hang lớn, đáng chú ý là hang Snowy River Caver ở Lincoln County, New Mexico.

Trạng thái tồn tại tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tinh thể canxit đơn lớn nhất được ghi nhất có nguồn gốc từ Iceland, kích thước 7×7×2 m và 6×6×3 m, nặng khoảng 250 tấn.[7][8]

Canxit là thành phần phổ biến trong đá trầm tích, như đá vôi, phần lớn được tạo thành từ vỏ của các loài sinh vật biển đã chết. Xấp xỉ 10% đá trầm tích là đá vôi. Canxit là khoáng vật chính trong đá hoa biến chất. Nó cũng xuất hiện ở các mạch khoáng trong mỏ ở các suối nước nóng, và nó thường tồn tại trong hang đá như là thạch nhũmăng đá.

Canxit cũng có thể được thấy ở trong đá núi lửa, đá xuất xứ từ manti như carbonatite, kimberlite, có nhưng tồn tại ít ở peridotite. Lublinite là dạng sợi của Canxit.[9]

Canxit thường là thành phần chính của vỏ các loài sinh vật biển, như sinh vật phù du (gai vôi và trùng có lỗ, phần cứng của tảo đỏ,...). Canxit được tìm thấy đặc biệt ở Snowy River Cave ở New Mexico như đã nhắc ở trên, nơi các vi sinh vật gắn bó với môi trường tự nhiên. Trilobite, một loài đã tiện chủng, có cặp mắt đặc biệt. Chúng sử dụng tinh thể Canxit trong suốt để hình thành thấu kính cho mắt của chúng.

Canxit trong lịch sử Trái Đất[sửa | sửa mã nguồn]

Canxit biển xuất hiện trong lịch sử Trái Đất khi mà sự kết tủa vô cơ của canxi carbonat trong nước biển có hàm lượng magie thấp, ngược lại với aragonite và các khoáng vật kết tủa hàm lượng magie cao ngày nay. Canxit biển thay thế cho aragonite biển ở Liên đại Hiển sinh, nổi bật nhất ở kỷ Ordovickỷ Jurassic.

Gallery[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Wikisource-logo.svg
Wikisource có văn bản gốc từ 1911 Encyclopædia Britannica về:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Klein, Cornelis and Cornelius S. Hurlbut, Jr., Manual of Mineralogy, Wiley, 20th, 1985, p. 329 ISBN 0-471-80580-7
  2. ^ Mineral Data Publishers
  3. ^ Calciate at Mindat
  4. ^ Calcite at Webmineral
  5. ^ Elert, Glenn. “Refraction”. The Physics Hypertextbook. 
  6. ^ Thompson, D.W. et al. (1998). “Determination of optical anisotropy in calcite from ultraviolet to mid-infrared by generalized ellipsometry”. Thin Solid Films. 313-314: 341–346. doi:10.1016/S0040-6090(97)00843-2. 
  7. ^ P. C. Rickwood (1981). “The largest crystals”. American Mineralogist 66: 885–907. 
  8. ^ “The giant crystal project site”. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2009. 
  9. ^ Lublinite at Mindat

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Schmittner Karl-Erich and Giresse Pierre, 1999. "Micro-environmental controls on biomineralization: superficial processes of apatite and calcite precipitation in Quaternary soils", Roussillon, France. Sedimentology 46/3: 463–476.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]